CÁC BỆNH DINH DƯỠNG CÓ Ý NGHĨA SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG

Đăng ngày 3/10/2015 4:06:42 PM | Thể loại: | Chia sẽ bởi: HIếu Lê Quang | Lần tải: 11 | Lần xem: 0 | Page: 76 | Kích thước: 0.24 M | Loại file: ppt
Đây là bản xem thử online, xin hãy chọn download miễn phí bên dưới để xem bản đẹp dạng .ppt

bài giảng CÁC BỆNH DINH DƯỠNG CÓ Ý NGHĨA SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG, . . Chúng tôi trân trọng giới thiệu đến các bạn thư viện CÁC BỆNH DINH DƯỠNG CÓ Ý NGHĨA SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG .Để chia sẽ thêm cho các Thầy cô, các bạn sinh viên, học viên nguồn tài liệu tham khảo giúp đỡ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học, trân trọng kính mời đọc giả đang cần cùng xem , Thư viện CÁC BỆNH DINH DƯỠNG CÓ Ý NGHĨA SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG thuộc chuyên mục được chia sẽ bởi user HIếu Lê Quang đến cộng đồng nhằm mục đích nghiên cứu , thư viện này đã giới thiệu vào thể loại , có 76 page, thuộc định dạng .ppt, cùng chủ đề còn có Bài giảng ,bạn có thể tải về miễn phí , hãy chia sẽ cho mọi người cùng xem CÁC BỆNH DINH DƯỠNG CÓ Ý NGHĨA SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG THẠC SĨ NGUYỄN HỮU TUẤN TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG TP CẦN THƠ I- SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM 1, ngoài ra Đại cương về suy dinh dưỡng protein – năng lượng ở trẻ nít Suy dinh dưỡng protein- năng lượng ( Protein-Energy Malnutrition: PEM ) là loại thiếu dinh dưỡng quan trọng, khó có bệnh nào có thể so sánh được về ý nghĩa sức khỏe cộng đồng, bên cạnh đó Thuật từ Suy dinh dưỡng protein-năng lượng https://nslide.com/bai-giang/cac-benh-dinh-duong-co-y-nghia-suc-khoe-cong-dong.y116zq.html

Nội dung

CÁC BỆNH DINH DƯỠNG CÓ Ý NGHĨA SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG


THẠC SĨ NGUYỄN HỮU TUẤN
TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG TP CẦN THƠ
I- SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM
1. Đại cương về suy dinh dưỡng protein – năng lượng ở trẻ em
Suy dinh dưỡng protein- năng lượng ( Protein-Energy Malnutrition: PEM ) là loại thiếu dinh dưỡng quan trọng, khó có bệnh nào có thể so sánh được về ý nghĩa sức khỏe cộng đồng. Thuật từ Suy dinh dưỡng protein-năng lượng ở trẻ em do Jelliffe nêu lên lần đầu vào năm 1959. Theo ông, các thể bệnh PEM đều có liên quan tới khẩu phần ăn thiếu protein và thiếu năng lượng ở các mức độ khác nhau.
Mặc dù gọi là PEM nhưng đây không phải là tình trạng thiếu hụt protein và năng lượng mà thường thiếu kết hợp nhiều chất dinh dưỡng khác, đặc biệt là các vi chất dinh dưỡng.
Bệnh phổ biến ở trẻ nhỏ, nhưng cũng có thể thấy ở trẻ lớn hơn như tuổi vị thành niên và ở cả người lớn, nhất là là ở phụ nữ tuổi sinh đẻ.
Ở nước ta, từ thập niên 80 về trước, các thể suy dinh dưỡng (SDD) như: SDD thể phù (Kwashiorkor), SDD thể teo đét (Marasmus) gặp khá nhiều trong bệnh viện cũng như ở cộng đồng. Mấy năm gần đây, các thể nầy đã trở nên hiếm gặp, hiện nay chủ yếu là thể nhẹ và thể vừa, biểu hiện là trẻ chậm lớn, nhẹ cân, thấp còi.
2. Phân loại
2.1 Phân loại theo lâm sàng
Đây là cách phân loại các thể thiếu dinh dưỡng nặng dựa theo đặc điểm lâm sàng. Có 2 loại: SDD thể teo đét và SDD thể phù:
SDD thể teo đét (Marasmus): hay gặp trên lâm sàng, có thể xảy ra ngay trong năm đầu tiên. Đó là thể thiếu dinh dưỡng rất nặng, do chế độ ăn thiếu cả năng lượng lẫn protein. Cai sữa quá sớm hoặc thức ăn bổ sung không hợp lý là nguyên nhân phổ biến dẫn tới thể SDD nầy.
SDD thể phù (Kwashiorkor): ít gặp hơn so với thể Marasmus. Bệnh thường gặp ở trẻ em trên 1 tuổi, nhiều nhất là giai đoạn từ 1-3 tuổi. Nguyên nhân thường do chế độ ăn quá nghèo về protein và glucid tạm đủ hoặc thiếu nhẹ (nhất là đối với chế độ ăn chủ yếu dựa vào khoai sắn). SDD thể Kwashiorkor thường kèm theo tình trạng nhiễm khuẩn từ vừa đến nặng. Tình trạng thiếu các vi chất dinh dưỡng như thiếu vitamin A, thiếu máu do thiếu sắt nặng thường biểu hiện khá rõ rệt ở những đứa trẻ bị Kwashiorkor.
Đối với 2 thể nặng Kwashiorkor và Marasmus trên, người ta hay dùng thang Welcome để phân biệt.
% cân nặng so
Với chuẩn
Phù

Không
60 – 80 %
Dưới 60 %
Kwashiorkor
Thiếu dinh dưỡng
Marasmus -Kwashiorkor
Marasmus
Thang phân loại Welcome
2.2 Phân loại trên cộng đồng
Trên cộng đồng, SDD thể vừa và nhẹ thường gặp và có ý nghĩa sức khỏe quan trọng nhất vì ngay cả SDD nhẹ cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ bệnh tật và tử vong ở trẻ em. Người ta nhận thấy, hậu quả do bị SDD lúc nhỏ còn ảnh hưởng lâu dài đến khả năng lao động thể lực, trí lực cũng như một số bệnh mạn tính ở tuổi trưởng thành.
Để xác định tình trạng SDD, chủ yếu người ta dựa vào các chỉ tiêu nhân trắc (cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao).
2.2.1 Một số cách phân loại trước đây
Cách phân loại của Gomez:
Năm 1956, một BS người Mexico tên là Gomez đã đề ra cách phân loại như sau: quy cân nặng của đối tượng theo phần trăm so với cân nặng được coi là chuẩn của quần thể tham khảo Harvard. Theo đó,
- Thiếu dinh dưỡng độ 1 tương ứng với 75% - 90% của cân nặng chuẩn.
- Thiếu dinh dưỡng độ 2 tương ứng 60% - 75% cân nặng chuẩn.
-Thiếu dinh dưỡng độ 3 khi dưới 60% cân nặng chuẩn.
Năm 1966, Jelliffe đã đưa ra cách phân loại SDD và cũng dựa vào quần thể tham khảo Harvard.
Năm 1977, Waterlow và cộng sự đã đề nghị sử dụng chỉ tiêu chiều cao theo tuổi để đánh giá tình trạng dinh dưỡng.
2.2.2 Cách phân loại của tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
Năm 1981, WHO chính thức khuyến nghị sử dụng khoảng giới hạn từ -2SD đến +2SD để phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ em. Quần thể tham khảo được sử dụng là NCHS (National Center for Health Statistics). Cho đến nay, đây là thang phân loại được chấp nhận rộng rãi trên thế giới.
Thang phân loại dựa vào cân nặng và chiều cao theo các chỉ số như sau: Cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), và cân nặng theo chiều cao (CN/CC).
Cân nặng/tuổi (CN/T)
Những trẻ có cân nặng/tuổi từ -2SD trở lên được coi là bình thường. SDD chia ra các mức độ sau:
Từ dưới -2SD đến -3SD : SDD độ 1
Từ dưới -3SD đến -4SD : SDD độ 2
Từ dưới -4SD : SDD độ 3
Chiều cao/tuổi (CC/T)
Từ dưới -2SD đến -3SD : SDD độ 1
Từ dưới -3SD : SDD độ 2
CC/T thấp so với chuẩn tức là thiếu dinh dưỡng trường diễn, gọi là thiếu dinh dưỡng còi cọc (stunting).
Cân nặng/chiều cao (CN/CC)
CN/CC thấp so với điểm ngưỡng là dưới -2SD.
CN/CC thấp so với chuẩn tức là hiện nay đang thiếu dinh dưỡng, gọi là thiếu dinh dưỡng thể gầy còm (Wasting).
3.Đặc điểm dịch tễ và sinh thái học của PEM
3.1 Tỷ lệ mắc :
SDD là gánh nặng sức khỏe ở nhiều nước đang phát triển. Tỷ lệ trẻ em trước tuổi đi học bị SDD chiếm từ 20% - 50%. Khu vực Nam á có tỷ lệ mắc khá cao 40% - 50%.
Tỷ lệ SDD biến động tăng lên vào thời gian xảy ra nạn đói hoặc có các tình trạng khẩn cấp khác như chiến tranh, thiên tai bão lụt, hạn hán.
Ở nước ta, vào thập niên 80, tỷ lệ SDD trên 50%, năm 1955 là 44,9%, năm 2002 là 30,1% và năm 2009 còn 18,9%.
Theo phân loại của WHO về vùng nguy cơ thiếu dinh dưỡng ở nước ta hiện nay thuộc vùng nguy cơ thiếu dinh dưỡng trung bình.
- Vùng nguy cơ cao hoặc rất cao : tỷ lệ trẻ có CN<-2SD trên 30%
- Vùng nguy cơ trung bình : tỷ lệ trẻ có CN<-2SD từ 15% đến 30%
- Vùng nguy cơ thấp : tỷ lệ trẻ cóCN< -2SD dưới 15%
Mức giảm SDD ở nước ta, từ 1975 trở về trước, giảm trung bình 0,6% năm, từ 1995 trở lại đây, mức giảm 1,5% - 2% năm, là mức giảm nhanh so với một số nơi trong khu vực.
Phân bố SDD ở Việt Nam không đồng đều, năm 2009 là 26,5% ở Tây Nguyên, 14,4% ở Đông Nam bộ, (5,3% ở TP.HCM), 18,3% ở vùng đồng bằng sông cửu long (ĐBSCL) (15,2% ở TPCT và 20,8% ở Trà Vinh).
3.2 Hậu quả của SDD
Trẻ SDD có CN/T thấp thường hay bị bệnh như tiêu chảy và viêm phổi và SDD làm tăng tỷ lệ tử vong, chiếm 54% trong tất cả các nguyên nhân tử vong trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển (năm 1995).
SDD trẻ em thường để lại những hậu quả nặng nề. Gần đây nhiều bằng chứng cho thấy SDD ở giai đoạn sớm, nhất là trong thời kỳ bào thai có mối liên hệ với mọi thời kỳ của đời người. Hậu quả của thiếu dinh dưỡng có thể kéo dài qua nhiều thế hệ.
Phụ nữ đã từng bị SDD trong thời kỳ còn là trẻ em nhỏ hoặc trong độ tuổi vị thành niên đến khi lớn lên trở thành bà mẹ SDD. Bà mẹ SDD thường dễ đẻ con nhỏ yếu, cân nặng sơ sinh (cnss) thấp. Hầu hết những trẻ có cnss thấp bị SDD (nhẹ cân hoặc thấp còi) ngay trong năm đầu sau sinh. Những trẻ nầy có nguy cơ tử vong cao hơn so với trẻ bình thường và khó có khả năng phát triển bình thường.
Tác giả Barker nêu ra một giả thuyết mới về nguồn gốc bào thai của một số bệnh mạn tính. Theo ông các bệnh tim mạch, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa ở người trưởng thành có thể có nguồn gốc từ SDD bào thai.
Chính vì thế, phòng chống SDD bào thai hoặc trong những năm đầu tiên sau khi ra đời có một ý nghĩa rất quan trọng trong dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời.
3.3 Nguyên nhân
Nguyên nhân trực tiếp phải kể đến là thiếu ăn về số lượng hoặc chất lượng và mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Trẻ em trước lứa tuổi học dường là đối tượng bị SDD cao nhất bởi vì cơ thể ở giai đoạn phát triển nhanh, nhu cầu dinh dưỡng cao và do không được ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng. Người ta thường cho rằng những vùng ăn chủ yếu các loại ngũ cốc, củ,... thường hay dẫn đến thiếu protein, nhưng nhiều nghiên cứu sau đó lại cho thấy khẩu phần ăn của trẻ thiếu năng lượng trầm trọng, ngay cả khi mức thiếu protein mới ở mức đe dọa.
Nhiễm khuẩn dễ đưa đến SDD do rối loạn tiêu hóa, và ngược lại SDD dễ dẫn tới nhiễm khuẩn do đề kháng giảm. Do đó, tỷ lệ SDD có thể dao động theo mùa và thường cao trong các mùa các bệnh nhiễm khuẩn lưu hành ở mức cao (tiêu chảy, viêm hô hấp, sốt rét,...).
Nguyên nhân cơ bản ở mức hộ gia đình là do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ em, các vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh. Nguyên nhân cơ bản ở mức xã hội là tình trạng đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung bao gốm sự mất bình đẳng về kinh tế.
4. Các biện pháp phòng chống PEM
Hiện nay, công tác phòng chống SDD trẻ em đã trở thành một hoạt động dinh dưỡng ở nước ta trong đó mục tiêu hạ thấp tỷ lệ SDD được đưa vào chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội của các cấp chính quyền, các địa phương. Hiện nay, nhiệm vụ nầy được giao cho ngành Y tế (Viện dinh dưỡng là cơ quan thường trực triển khai). Phương châm dự phòng là chủ đạo, tức là thực hiện chăm sóc sớm, chăm sóc mọi đứa trẻ và tập trung ưu tiên vào giai đoạn 2 năm đầu tiên. Các biện pháp phòng chống SDD bao gồm :
1) Chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe cho bà mẹ có thai và cho con bú
- Quản lý tốt thai nghén và chăm sóc bà mẹ sau đẻ.
- Thực hiện tư vấn, giáo dục dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai.
- Thực hiện bà mẹ uống viên sắt acid folic đầy đủ phòng chống thiếu máu, uống vitamin A liều cao ngay sau đẻ.
- Cải thiện bữa ăn gia đình và bữa ăn của bà mẹ có thai, cho con bú.
2) Nuôi con bằng sữa mẹ
Trong những năm gần đây, ít có vấn đề được quan tâm nhiều trong dinh dưỡng trẻ em bằng vấn đề sữa mẹ. Trước hết sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất, thích hợp nhất đối với trẻ. Các chất dinh dưỡng có trong sữa mẹ đều dễ hấp thu và đồng hóa.
Nuôi con bằng sữa mẹ cần chú ý các đặc điểm sau : cho con bú kéo dài, ít nhất là 12 tháng. Mặc dù số lượng sữa ngày càng ít đi nhưng chất lượng vẫn tốt, do đó cho bú kéo dài là cách nâng cao chất lượng bữa ăn của trẻ một cách tự nhiên. Cho bú không cứng nhắc theo giờ giấc, mà theo nhu cầu của trẻ.
3) Thực hiện ăn bổ sung hợp lý
Trong 4 đến 6 tháng đầu, sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất, thích hợp nhất đối với trẻ. Nhưng từ tháng thứ 5 trở đi, số lượng sữa mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu của đứa trẻ đang lớn nhanh. Do đó các bà mẹ cho con ăn sam (ăn bổ sung, ăn dậm) thông thường ở nước ta là các loại bột, nhất là bột gạo
- Thức ăn bổ sung cấn có đậm độ năng lượng thích hợp.
- Thức ăn bổ sung phải có độ keo đặc thích hợp.
- Tăng độ hòa tan của các loại thức ăn bổ sung.
- Thức ăn bổ sung cần có đủ và cân đối về các chất dinh dưỡng (ô vuông thức ăn).
- Đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng của trẻ em lớn lên theo tháng tuổi.
Trẻ em là một cơ thể đang lớn nhanh, một đứa trẻ bình thường sau 6 tháng cân nặng sẽ tăng gấp đôi, sau 12 tháng cân nặng sẽ tăng gấp 3 so với khi mới ra đời. Vì vậy nhu cầu dinh dưỡng của trẻ tính theo đơn vị cân nặng cao hơn người lớn mà sức ăn của các cháu lại có hạn, chức năng miễn dịch của trẻ em chưa được đầy đủ vì vậy các thiếu sót về vệ sinh trong thời kỳ ăn sam, cai sữa đều có thể gây ra tiêu chảy. Ngoài ra, chế độ ăn của trẻ cần có đủ các vitamin và khoáng chất.
Ý NGHĨA CỦA THIẾU VITAMIN A VỚI SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG
Thiếu Vitamin A không chỉ gây ra bệnh khô mắt dẫn đến hậu quả mù lòa mà còn liên quan chặt chẽ với suy dinh dưỡng, làm giảm sự phát triển cơ thể, tăng nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng và tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ. Ở một số nước đang phát triển, thiếu Vitamin A là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong cho trẻ em. Những nghiên cứu gần đây đã khẳng định: bằng biện pháp bổ sung Vitamin A, có thể làm giảm 23% tử vong ở trẻ em.
Ở Việt Nam, thiếu Vitamin A và bệnh khô mắt là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sức khoẻ cộng đồng. Cuộc điều tra toàn quốc 1985-1988 do Viện Dinh dưỡng và Viện Mắt trung ương tiến hành cho thấy tỷ lệ khô mắt có tổn thương giác mạc ở trẻ em trước tuổi đi học cao hơn 7 lần so với ngưỡng của Tổ chức Y tế Thế giới. Ước tính bấy giờ hàng năm có khoảng 5.000-6.000 trẻ bị mù do thiếu Vitamin A và khô mắt, chiếm 50% nguyên nhân gây mù ở trẻ em. Thiếu Vitamin A hay gặp ở trẻ suy dinh dưỡng nặng và trẻ bị các bệnh sởi, tiêu chảy, viêm đường hô hấp, hoặc trẻ không được bú mẹ và ăn bổ sung hợp lý.
Theo xếp loại của Tổ chức Y tế Thế giới (1997) cũng như kết quả điều tra đánh giá của Viện Dinh dưỡng 1995-2000 thì tình trạng thiếu Vitamin A tiền lâm sàng của trẻ em nước ta hiện vẫn còn cao, theo kết quả điều tra gần đây (năm 2000) cho thấy: trên 10% trẻ em dưới 5 tuổi có mức Vitamin A huyết thanh thấp (< 0.7 mol/l) và trên 50% bà mẹ cho con bú có có hàm lượng Vitamin A trong sữa thấp (< 1.05 mol/l). Từ đó cho thấy các hoạt động phòng chống thiếu Vitamin A cần được duy trì và đẩy mạnh.
NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ VITAMIN A
Vitamin A (tên khoa học là Retinol) là một loại Vitamin tan trong dầu, rất cần thiết đối với cơ thể, tuy rằng mỗi ngày cơ thể chúng ta chỉ cần một lượng rất nhỏ (khoảng 400 mcg) nhưng do cơ thể người không tự tổng hợp được cho nên lượng Vitamin A này hoàn toàn phải được cung cấp từ thức ăn. Vitamin A chính cống chỉ có trong thức ăn động vật, Vitamin A được tích lũy và dự trữ chủ yếu trong tổ chức gan, vì vậy gan động vật và gan cá là thức ăn giàu Vitamin A, các loại trứng, sữa cũng là thực phẩm cung cấp nhiều Vitamin A.
Trong các loại thức ăn thực vật chỉ chứa dạng tiền Vitamin A (Beta-caroten), khi vào cơ thể, các Caroten này được chuyển đổi thành Vitamin A, tỷ lệ chuyển đổi này là rất thấp (24 đơn vị Beta-caroten mới được 1 Vitamin A), vì vậy có thể nói thức ăn động vật mới là nguồn cung cấp chủ yếu Vitamin A cho cơ thể. Một khi thức ăn không cung cấp đủ Vitamin A và lượng dự trữ trong gan cạn kiệt sẽ xuất hiện bệnh lý của thiếu Vitamin A.
VAI TRÒ CỦA VITAMIN A ĐỐI VỚI CƠ THỂ
Vitamin A có vai trò quan trọng, tham gia vào nhiều chức phận trong cơ thể:
Vai trò Tăng trưởng: Vitamin A có vai trò trong quá trình tăng trưởng, trẻ em cần đủ Vitamin A để phát triển bình thường.
Chức năng Thị giác: Vitamin A tham gia vào chức năng thị giác của mắt, đó là khả năng nhìn thấy trong điều kiện ánh sáng yếu. Sở dĩ như vậy là do cấu tạo võng mạc mắt gồm hai loại tế bào: tế bào hình nón và tế bào hình que. Tế bào hình nón với sắc tố cảm thụ ánh sáng là Iodopsin giúp cho mắt nhìn và phân biệt màu sắc trong điều kiện ánh sáng rõ,
còn tế bào hình que với sắc tố Rhodopsin giúp cho mắt nhìn thấy khi ánh sáng yếu. Rhodopsin được tạo nên từ hợp chất Protein và Carotenoit (dẫn chất của Vitamin A), vì vậy khi thiếu Vitamin A khả năng nhìn của mắt lúc ánh sáng yếu sẽ bị giảm, hiện tượng này thường xuất hiện vào lúc trời nha nhem tối nên được gọi là "Quáng gà". Quáng gà là biểu hiện sớm về lâm sàng của thiếu Vitamin A.
Bảo vệ biểu mô: Vitamin A cần thiết cho sự bảo vệ toàn vẹn của biểu mô giác mạc và các tổ chức biểu mô dưới da, khí quản, các tuyến nước bọt, ruột non, tinh hoàn .v.v...
Khi thiếu Vitamin A, sản xuất các niêm dịch giảm, da bị khô và xuất hiện sừng hóa, biểu hiện này thường thấy ở mắt, lúc đầu là khô kết mạc rồi tổn thương đến giác mạc. Các tế bào biểu mô bị tổn thương cùng với sự giảm sút sức đề kháng tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập.
Miễn dịch cơ thể: Mối quan hệ giữa Vitamin A với nhiễm trùng đã được biết từ lâu và có khả năng Vitamin A tham gia vào quá trình đáp ứng miễn dịch cơ thể. Hiện nay Vitamin A vẫn đang được các nhà khoa học nghiên cứu phát hiện thêm những giá trị quan trọng của nó đối với sức khoẻ con người.
NGUYÊN NHÂN GÂY THIẾU VITAMIN A
Có 3 nguyên nhân chính gây thiếu Vitamin A là:
Khẩu phần ăn bị thiếu hụt Vitamin A: Cơ thể không tự tổng hợp được Vitamin A mà phải do thức ăn cung cấp, vì vậy nguyên nhân chính của thiếu Vitamin A là do ăn uống các loại thức ăn nghèo Vitamin A và Caroten. Bữa ăn thiếu dầu mỡ sẽ làm giảm hấp thu Vitamin A (vì Vitamin A tan trong dầu). Ở trẻ nhỏ đang bú thì nguồn Vitamin A là sữa mẹ, trong thời kỳ cho con bú nếu bữa ăn của mẹ thiếu Vitamin A sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến con. Thiếu Vitamin A thường hay xảy ra trong giai đoạn cho ăn bổ sung vì vậy khi cho trẻ ăn bổ sung cần chú ý chọn các loại thực phẩm giàu Vitamin A.
Các bệnh nhiễm khuẩn đặc biệt là Sởi, Tiêu chảy, Viêm đường hô hấp làm tăng nhu cầu Vitamin A gây nguy cơ thiếu Vitamin A. Nhiễm giun, nhất là giun đũa cũng là yếu tố góp phần làm thiếu Vitamin A.
Suy dinh dưỡng protein năng lượng nặng thường kèm theo thiếu Vitamin A vì protein giữ vai trò trong chuyển hoá và vận chuyển Vitamin A. Ngoài ra, thiếu một số vi chất khác như kẽm cũng ảnh hưởng tới chuyển hoá Vitamin A.
HẬU QUẢ DO THIẾU VITAMIN A
Thiếu Vitamin A làm trẻ em chậm lớn, nhất là ở những trẻ nhỏ.
Thiếu Vitamin A làm giảm sức đề kháng cơ thể đối với bệnh tật, trẻ dễ bị nhiễm trùng nhiễm khuẩn nặng, đặc biệt là các nhiễm khuẩn đường hô hấp, đường tiêu hóa và Sởi. Nhiễm trùng và thiếu Vitamin A là một vòng luẩn quẩn bệnh lý dẫn tới nguy cơ tử vong cao.
Thiếu Vitamin A nặng sẽ gây nên các tổn thương ở mắt, được gọi là bệnh “Khô mắt”, nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến hậu quả mù vĩnh viễn.

ĐỐI TƯỢNG DỄ BỊ THIẾU VITAMIN A
Trẻ em dưới 5 tuổi dễ bị thiếu Vitamin A vì ở tuổi này trẻ đang lớn nhanh, cần nhiều Vitamin A. Bên cạnh đó, ở độ tuổi này trẻ thường gặp phải nhiều yếu tố nguy cơ gây thiếu Vitamin A: ở giai đoạn còn bú, do không được bú mẹ hoặc lượng Vitamin A trong sữa mẹ thấp (chế độ dinh dưỡng của mẹ kém), đến thời kỳ cai sữa, do sự thay đổi chế độ nuôi dưỡng và hay mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Do vậy mà trẻ dưới 3 tuổi rất dễ bị thiếu Vitamin A.
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG THIẾU VITAMIN A
Biểu hiện lâm sàng khô mắt do thiếu Vitamin A.
Thiếu Vitamin A gây ra các tổn thương ở mắt, gọi chung là “Khô mắt”, khô mắt có thể gây mù vĩnh viễn cho trẻ. Triệu chứng lâm sàng do thiếu Vitamin A đã được Tổ chức Y tế Thế giới phân loại như sau:
Quáng gà (ký hiệu là XN): Là hiện tượng giảm thị lực trong điều kiện thiếu ánh sáng. Đây là biểu hiện sớm nhất của bệnh khô mắt do thiếu Vitamin A, phát hiện bệnh thông qua các biểu hiện: vào lúc chập choạng tối, đứa trẻ trở nên nhút nhát, chỉ ngồi yên tại chỗ, không dám đi lại hoặc chạy đùa theo bạn.
Trẻ lớn thường phải lần tường khi đi lại và hay va vấp vào những đồ vật trên lối đi, hay bị vấp ngã. Trẻ không biết tìm nhặt đồ chơi và không cầm đúng thức ăn khi mẹ đưa cho. Cần phân biệt với một số ít trường hợp quáng gà do bệnh nhãn khoa chứ không do thiếu Vitamin A (chẩn đoán phân biệt bằng điều trị thử Vitamin A). Quáng gà do thiếu Vitamin A khi được điều trị bằng Vitamin A liều cao sẽ khỏi nhanh chóng sau 2-3 ngày.
Vệt Bitô (ký hiệu là X1B): Là những vệt trắng bóng trên màng tiếp hợp mắt (còn gọi là kết mạc hay lòng trắng), thường có hình tam giác như đám bọt xà phòng, hay gặp ở sát rìa giác mạc ở vị trí 3 giờ hoặc 9 giờ, có thể thấy ở cả 2 mắt. Vệt Bitô chính là những đám tế bào biểu mô kết mạc bị khô, dày lên, sừng hoá và bong vảy. Vệt Bitô là triệu chứng đặc hiệu của tổn thương kết mạc do thiếu Vitamin A.
Khô giác mạc (ký hiệu là X2): Giác mạc (lòng đen) trở lên mất độ bóng sáng, mờ đục như làn sương phủ, có thể sần sùi. Khô giác mạc hay xảy ra ở nửa dưới giác mạc. Thường khô giác mạc hay kèm theo khô kết mạc, có khi kèm vệt Bitô. Biểu hiện quan trọng nhất là trẻ sợ ánh sáng, hay cụp mắt nhìn xuống, ra sáng thường nhắm mắt. Ở giai đoạn này nếu được phát hiện và điều trị kịp thời, có thể hồi phục hoàn toàn không để lại di chứng.
Loét nhuyễn giác mạc (ký hiệu là X3A và X3B): Loét giác mạc là sự mất tổ chức một phần hay tất cả các lớp của giác mạc. Khi loét giác mạc được phát hiện và điều trị kịp thời thì vết loét sẽ liền nhanh, sẹo để lại nhỏ và mỏng, thị lực bị giảm ít. Nếu để loét giác mạc sâu và rộng sẽ bị mù vĩnh viễn.
Sẹo giác mạc do khô mắt (ký hiệu là XS): Là di chứng sau khi bị loét giác mạc, tùy theo vị trí và mức độ sẹo (sẹo lồi, sẹo dúm) sẽ ảnh hưởng đến thị lực hoặc mù hoàn toàn.
Tổn thương đáy mắt do khô mắt (ký hiệu là XF): Là tổn thương của võng mạc do thiếu Vitamin A, biểu hiện tình trạng thiếu Vitamin A mạn tính. Tổn thương thường gặp ở trẻ tuổi đi học, có thể kèm theo quáng gà. Phát hiện bằng soi đáy mắt, cho thấy hình ảnh các chấm nhỏ màu trắng hoặc vàng nhạt rải rác, dọc theo các mạch máu võng mạc. Điều trị bằng Vitamin A sẽ hồi phục nhanh chóng.
Chú ý: Trẻ khô mắt cần phải được điều trị kịp thời. Tất cả các trường hợp mắc bệnh từ quáng gà, khô kết mạc, vệt Bitot đến khô loét giác mạc đều được cấp tốc điều trị theo phác đồ của TCYTTG như sau:
Đối với trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên:
Ngay lập tức: cho uống 200.000 đơn vị quốc tế Vitamin A.
Ngày hôm sau: uống tiếp 200.000 đơn vị quốc tế Vitamin A.
Một tuần sau: uống nốt 200.000 đơn vị quốc tế Vitamin A.
Đối với trẻ dưới 12 tháng tuổi cho uống bằng nửa liều trên (mỗi lần uống 100.000 đơn vị quốc tế Vitamin A).
Đánh giá về hóa sinh:
Mức Vitamin A tích trữ ở gan là chỉ tiêu tốt nhất để đánh giá về tình trạng Vitamin A, tuy vậy không dễ thực hiện. Trong cơ thể, Vitamin A hầu như tích lũy ở gan (90%), do đó các xét nghiệm về hàm lượng Vitamin A trong huyết thanh chỉ có giá trị tương đối, vì ngay khi dự trữ ở gan đã thay đổi khá nhiều, nó vẫn giữ ở mức tương đối ổn định nhờ một cơ chế điều hòa.
Khi mức Vitamin A trong huyết thanh dưới 0.7 mol/l chứng tỏ cơ chế điều hòa đã mất hiệu lực phản ánh tình trạng Vitamin A ở giới hạn thấp. Khi Vitamin A trong huyết thanh dưới 0.35 mol/l phản ánh dự trữ Vitamin A đã cạn và tỷ lệ có biểu hiện lâm sàng khô mắt cao lên.
Trong giai đoạn đang bú mẹ, mức Vitamin A trong sữa mẹ là một chỉ tiêu quan trọng, thông qua đó biết được tình trạng Vitamin A cũng như nguy cơ thiếu Vitamin A ở đứa trẻ đang bú.
Điều tra khẩu phần:
Bệnh khô mắt do thiếu Vitamin A thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi là lứa tuổi có nhu cầu cao và chế độ ăn thường nghèo các thức ăn chứa nhiều Vitamin A. Do đó, hỏi tiền sử về ăn uống hoặc điều tra khẩu phần là việc cần thiết, tuy vậy không dễ dàng nhất là đối với trẻ bé. Trong điều tra ăn uống cần chú ý tìm hiểu nuôi con bằng sữa mẹ, các nguồn thức ăn giàu Vitamin A và caroten sẵn có ở địa phương, tình hình dao động theo mùa và tập quán ăn uống đặc biệt là cách cho trẻ ăn sam, cách cho ăn khi trẻ bị ỉa chảy và các bệnh nhiễm trùng.

Chỉ tiêu về khẩu phần & sinh hoá để đánh giá tình trạng Vitamin A ở trẻ em

Chỉ tiêu mắc bệnh ở trẻ em (6 tháng-6 tuổi) để xác định tầm quan trọng của bệnh khô mắt (Theo Tổ chức Y tế thế giới, 1992)
Khi tỷ lệ mắc bệnh vượt quá một trong 3 chỉ tiêu lâm sàng ở trên, có thể kết luận ở đấy có vấn đề thiếu Vitamin A và bệnh Khô mắt.
CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG THIẾU VITAMIN A
Có 3 giải pháp chính để giải quyết vấn đề thiếu Vitamin A:
Bổ sung Vitamin A (Supplementation): Cho các đối tượng nguy cơ (trẻ em và bà mẹ) uống Vitamin A liều cao định kỳ. Đây là giải pháp cấp thời nhằm giải quyết nhanh tình trạng khô mắt gây nên hậu quả mù ở trẻ.
Tăng cường Vitamin A vào thực phẩm (Fortification): Đưa Vitamin A vào một số thực phẩm thông dụng như đường, sữa, dầu ăn… Đây là giải pháp chuyển tiếp và mang lại hiệu quả cao vì bao phủ được phần lớn các đối tượng trong vùng nguy cơ.
Cải thiện bữa ăn (Food-based solutions): Bảo đảm ăn uống hợp lý, cân đối các chất dinh dưỡng và đủ Vitamin A. Chú trọng phát triển các sản xuất để tạo nguồn thực phẩm giàu đạm, mỡ và Vitamin A cho bữa ăn hàng ngày. Đây là giải pháp cơ bản và lâu dài để giải quyết vấn đề thiếu Vitamin A. Bên cạnh đó cần bảo đảm sức khoẻ chung cho trẻ, giữ gìn vệ sinh và tiêm chủng đầy đủ đề phòng các viêm nhiễm và ký sinh trùng đường ruột.
Trong điều kiện nước ta hiện nay thì Bổ sung Vitamin A vẫn là giải pháp chính khi mà các giải pháp khác chưa thể bảo đảm giải quyết tình trạng thiếu Vitamin A.
CÁC HÌNH THỨC BỔ SUNG VIÊN NANG VITAMIN A ĐANG TRIỂN KHAI TẠI CỘNG ĐỒNG
Thay đổi hành vi sử dụng thực phẩm hàng ngày
Tăng cường công tác truyền thông trên mọi lĩnh vực thông tin đại chúng nhằm chuyển tải các thông tin đến tận người dân về đa dạng hóa bữa ăn tại hộ gia đình, phương pháp cho ăn sam đúng, bú mẹ đúng thời gian, đủ số lượng... Tận dụng các thực phẩm có thể trồng trọt, chăn nuôi được.
Nguồn thực phẩm giàu Vitamin A: Thức ăn có nguồn gốc động vật có nhiều Vitamin A hay retinol tốt nhất, hầu hết ở dạng retinil ester. Vì gan là nơi dự trữ Vitamin A, nên gan có thành phần retinol cac nhất. Chất béo từ thịt và trứng cũng có lượng Vitamin A đáng kể.
Nguồn tiền Vitamin A carotenoid thường có từ một số sản phẩm động vật như sữa, kem, bơ và trứng. Các thức ăn nguồn gốc thực vật có nhiều tiền Vitamin A như các loại rau màu xanh thẫm, củ, quả có màu vàng/ đỏ, dầu cọ và các loại dầu ăn khác.
Sử dụng lượng vừa một số sản phẩm tăng cường Vitamin A vào thực phẩm.
Bổ sung Vitamin A liều cao dự phòng
Mỗi liều Vitamin A dự phòng có thể bảo vệ cho trẻ không bị thiếu Vitamin A trong vòng 4-6 tháng, vì vậy mỗi năm nên tổ chức hai đợt uống Vitamin A cho trẻ 6-60 tháng tuổi. Đồng thời thực hiện cấp phát thường xuyên cho bà mẹ sau đẻ và trẻ dưới 5 tuổi bị mắc các bệnh có nguy cơ thiếu Vitamin A. Vitamin A được phân phối theo Hệ dự phòng và Hệ bệnh viện.
a. Phân phối Vitamin A ở Hệ dự phòng
1. Đối tượng và liều uống (loại viên nang Vitamin A 200.000 đơn vị quốc tế (UI) tương đương với 60.000 mcg)
Uống theo đợt chiến dịch, mỗi năm hai đợt cho trẻ 6-60 tháng tuổi:
Từ 6 - 12 tháng tuổi: uống nửa viên / 6 tháng uống một lần
Từ 13 - 60 tháng tuổi: uống 1 viên / 6 tháng uống một lần
Uống thường xuyên không theo chiến dịch và chỉ uống một lần:
Bà mẹ sau khi sinh con: uống 1 viên
Trẻ dưới 5 tuổi bị mắc các bệnh có nguy cơ thiếu Vitamin A (Sởi, Tiêu chảy kéo dài, Viêm hô hấp cấp, Suy dinh dưỡng nặng): Dưới 1 tuổi uống nửa viên. Trên 1 tuổi uống 1 viên.
Trẻ dưới 6 tháng tuổi không được bú mẹ cho uống 50.000 đ.v (khoảng 2 giọt)
2. Ngộ độc
Ít có khả năng ảnh hưởng phụ do tiêu thụ Vitamin A từ khẩu phần. Tuy nhiên vẫn có khả năng tiêu thụ quá mức vì Vitamin A sẵn có trên thị trường mọi người đều có thể dễ dàng tự mua để uống hay sử dụng các viên nang Vitamin A liều cao không đúng liều quy định của chương trình bổ sung Vitamin A. Tiêu thụ Vitamin A lượng lớn hàng ngày vượt quá 7.500 mcg (25.000UI) kéo dài có thể dẫn đến các triệu chứng ngộ độc gan, biến đổi xương, đau khớp, đau đầu, nôn, da khô, bong vảy, phồng thóp ở trẻ nhỏ. Tuy nhiên, hiện tượng ngộ độc Vitamin A rất hiếm gặp.
3. Cách cho trẻ uống Vitamin A:
Đối với trẻ dưới 2 tuổi: Giữ viên nang bằng ngón trỏ và ngón cái, dùng kéo cắt đầu núm của viên nang rồi bóp dịch Vitamin A vào miệng trẻ. Xong cho trẻ uống một thìa nước tráng miệng.
Đối với trẻ từ 2 tuổi trở lên: Cho trẻ nhai hoặc nuốt viên nang rồi cho uống nước.
Lưu ý:
Mỗi viên nang chứa khoảng 6-8 giọt dịch Vitamin A, nếu cắt sát đầu núm thì bóp ra được khoảng 8 giọt, nếu cắt ở giữa đầu núm được khoảng 6 giọt.
Với loại viên nang 200.000 đ.v thì trẻ dưới 1 tuổi chỉ uống nửa viên (3-4 giọt), cần xếp cho hai trẻ cùng uống chung một viên, trường hợp một trẻ đã uống nửa viên mà chưa có trẻ uống tiếp thì có thể cho bà mẹ uống nửa còn lại để tránh lãng phí.
Nếu trẻ khóc nhổ thuốc ra, có thể cho uống bù tùy theo lượng thuốc trẻ nhổ ra nhưng chú ý không cho quá liều.
Cần bảo đảm vệ sinh thìa cốc khi cho trẻ uống nước tráng miệng để tránh các bệnh lây nhiễm qua đường miệng. Nếu nơi nào không có điều kiện bảo đảm vệ sinh (rửa, tráng nước sôi) thì không nhất thiết cho trẻ uống nước tráng miệng tại chỗ mà nên để trẻ về uống tại nhà.
4. Tổ chức uống Vitamin A:
Đối với trẻ em 6-60 tháng tuổi được uống 2 đợt mỗi năm (theo chiến dịch): đợt I vào tháng 6 (Ngày vi chất dinh dưỡng), đợt II vào tháng 12.
Tuy nhiên, ở những vùng khó khăn, có thể cho tổ chức sớm hơn để có thêm thời gian, bảo đảm tỷ lệ bao phủ cao, đồng thời bảo đảm thời hạn báo cáo chung của chương trình.
Đối với bà mẹ sau đẻ được uống ngay sau khi sinh con, chậm nhất cũng chỉ uống trong vòng một tháng sau khi sinh con, quy định như vậy là để tránh các trường hợp đẻ dày, bà mẹ lại có thai tiếp ngay sau khi sinh (Bà mẹ đang mang thai không được dùng Vitamin A liều cao).
Cho bà mẹ sau đẻ uống Vitamin A để bảo đảm đủ Vitamin A qua sữa cho con trong 6 tháng đầu (mẹ uống thay con). Cấp Vitamin A cho bà mẹ sau đẻ cần được thực hiện thường xuyên quanh năm, những bà mẹ nào sinh con vào dịp các đợt chiến dịch thì cho uống kết hợp vào các đợt này. Bà mẹ nào đẻ ở trạm y tế thì cho uống Vitamin A ngay sau khi sinh, bà mẹ nào đẻ ở nơi khác thì trạm y tế xã phường phải quản lý và cho uống Vitamin A, có thể kết hợp cho các bà mẹ này uống Vitamin A vào dịp tiêm chủng mũi đầu tiên của đứa con (tháng đầu tiên sau khi sinh).
Đối với trẻ nguy cơ (trẻ dưới 6 tháng không được bú mẹ và tất cả trẻ dưới 5 tuổi bị mắc các bệnh có nguy cơ thiếu Vitamin A): Thực hiện cấp thường xuyên quanh năm tại trạm y tế và các cơ sở khám chữa bệnh. Khi cấp phát cho đối tượng này cần chú ý xem trước đó trẻ đã được uống Vitamin A theo đợt chiến dịch chưa, nếu đã uống thì uống được bao lâu?
Nếu là bệnh Sởi thì bất kể đã uống từ khi nào vẫn cần cho uống tiếp một liều.
Nếu là các bệnh khác (Tiêu chảy, Viêm hô hấp cấp, Suy dinh dưỡng nặng) thì chỉ nên cho uống tiếp nếu thời gian uống từ lần trước đã được hơn nửa tháng.
III- THIẾU MÁU DINH DƯỠNG DO THIẾU SẮT
Định nghĩa
Thiếu máu dinh dưỡng là tình trạng bệnh lí xảy ra khi hàm lượng huyết sắc tố (hemoglobin) trong máu xuống thấp hơn bình thường do thiếu một hay nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu. Thiếu máu dinh dưỡng thường gặp nhất là thiếu sắt. Ở phụ nữ có thai thường kèm thiếu folat (hay axit folic)
Biểu hiện lâm sàng của thiếu máu thiếu sắt thường rất nghèo nàn, lặng lẽ. Chính vì vậy mà thiếu máu thiếu sắt thực sự là một bệnh thiếu vi chất dinh dưỡng tiềm ẩn.
Người bị thiếu máu có thể không tự nhận ra mình có bệnh, điều đó cho thấy sự khó khăn trong phòng chống bệnh này ở cộng đồng. Biểu hiện của thiếu máu nhẹ là: mệt mỏi, mất ngủ, kém tập trung.
Đối với trẻ em, biểu hiện của thiếu máu là: nhận thức chậm, trí nhớ kém, trong lớp hay ngủ gật. Khi bị thiếu máu nặng có thể xuất hiện các triệu chứng sau: hoa mắt, chóng mặt, khó thở khi lao động gắng sức, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Khám: da xanh, niêm mạc nhợt (niêm mạc mắt, lợi), móng tay khum hình thìa, lòng bàn tay nhợt nhạt, đầu lưỡi có một đám những hạt sắt tố đỏ sẫm.
Ở cộng đồng người ta chẩn đoán thiếu máu bằng xét nghiệm định lượng huyết sắc tố (hemoglobin - Hb).
Các biện pháp phòng chống thiếu máu thiếu sắt:
Giáo dục truyền thông, đa dạng hoá bữa ăn:
Trước hết, cần làm cho nhân dân, các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội quan tâm tới vấn đề thiếu máu và thấy được tính cấp bách phòng chống bệnh này. Khuyến khích các gia đình thực hiện đa dạng hoá bữa ăn, chế độ ăn cần cung cấp đủ năng lượng và các thực phẩm giàu sắt (thức ăn động vật, đậu đỗ...) làm tăng khả năng hấp thụ sắt nhờ tăng cường vitamin C có từ rau quả. Cần tuyên truyền, phổ biến kĩ thuật chăn nuôi gia cầm, làm vườn, nuôi cá để tạo nguồn thức ăn thường xuyên trong gia đình. Thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung hợp lý là biện pháp tốt nhất phòng chống thiếu máu ở trẻ nhỏ.
Bổ sung bằng viên sắt
(Loại viên sắt cung cấp hiện nay chứa 60 mg sắt + 0.25mg axit folic)
Đối tượng được bổ sung viên sắt hiện nay:Các bà mẹ đang mang thai Phụ nữ không có thai 15-35 tuổi
Uống viên sắt là một biện pháp trước mắt nhằm bổ sung thêm lượng sắt đáp ứng nhu cầu về chất sắt trong thới kỳ có thai, làm tăng lượng sắt dự trữ trong cơ thể, phòng bệnh thiếu máu thiếu sắt, chuẩn bị tốt cho việc sinh đẻ sau này (đối với thiếu nữ).
Liều uống bổ sung:
- Đối với bà mẹ có thai: cần được uống viên sắt càng sớm càng tốt, ngay từ khi biết mình có thai, uống hàng ngày và đều đặn suốt thời gian mang thai cho đến một tháng sau đẻ. Mỗi ngày uống 1 viên vào buổi tối trước khi đi ngủ
Bà mẹ nhận viên sắt tại trạm y tế xã / phường, mỗi tháng một lần, mỗi lần 30 viên để dùng hàng ngày, các tháng tiếp theo lại tới trạm y tế xã để nhận và thực hiện khám thai theo quy định.
- Đối với phụ nữ từ 15 tuổi đến 30 tuổi không có thai: Uống theo phác đồ hàng tuần, mỗi tuần uống một viên. Uống vào một ngày nhất định trong mỗi tuần, uống liên tục trong 4 tháng.
Chú ý: Khi uống viên sắt một số chị em có thể gặp một vài tác dụng phụ như lợm giọng, buồn nôn, táo bón nhẹ. Điều này không ảnh hưởng gì tới sức khoẻ. Người không thiếu máu uống viên sắt theo liều lượng như trên không có hại gì. Chị em cần nhận được các thông tin cần thiết từ cán bộ y tế và phải tạo được thói quen uống viên sắt đều đặn, đủ liều.
Phòng chống giun móc, vệ sinh môi trường:
Ở những vùng có tỷ lệ nhiễm giun móc cao, cần áp dụng tẩy giun định kỳ phối hợp với vệ sinh mội trường, nước sạch, vận động nhân dân không dùng phân tươi trong canh tác nông nghiệp. Thực hiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh ở mỗi hộ gia đình. Việc tẩy giun móc cần áp dụng đúng phác đồ và đối tượng chỉ định.
Tăng cường sắt cho một số thức ăn:
Đây là một một biện pháp đang được thăm dò. Đây cũng là hướng thử nghiệm ở nước ta trong thời gian tới.
Biện pháp phòng chống thiếu máu dinh dưỡng:
Cải thiện bữa ăn: Sử dụng nhiều loại thức ăn, tăng các loại đậu đỗ, thịt,cá, trứng… và rau quả.
Uống viên sắt:
Bà mẹ có thai uống mỗi ngày 1 viên, bắt đầu từ khi mang thai đến sau đẻ 1 tháng.
Phụ nữ 15-35 tuổi không có thai: mỗi tuần uống 1 viên, uống liên tục trong 4 tháng mỗi năm.
Phòng chống nhiễm giun: vệ sinh môi trường và tẩy giun định kì theo hướng dẫn của cán bộ y tế.
IV- THIẾU IỐT, BƯỚU CỔ VÀ AXIT FOLIC
IỐT
Iốt là vi chất dinh dưỡng rất cần thiết cho phát triển của cơ thể, cần cho tổng hợp hóc môn giáp duy trì thân nhiệt, phát triển xương, quá trình biệt hóa và phát triển của não và hệ thần kinh trong thời kỳ bào thai.
Thiếu iốt sẽ dẫn đến thiếu hóc môn giáp và gây ra nhiều rối loạn khác nhau: bướu cổ, rối loạn bệnh lý khác như sảy thai, thai chết lưu, khuyết tật bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ, đần độn, cơ thể chậm phát triển, mệt mỏi, giảm khả năng lao động . . .
Khi cơ thể bị thiếu iốt, tuyến giáp làm việc nhiều hơn để tổng hợp thêm nội tiết tố giáp trạng nên tuyến giáp to lên, gây ra bướu cổ. Bướu cổ là cách thích nghi của cơ thể để bù lại một phần thiếu iốt, khi có kích thước to có thể chèn ép đường thở, đường ăn uống gây ra các vấn đề ảnh hưởng cho sức khỏe.
Thiếu iốt ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai có thể gây ra sẩy thai tự nhiên, thai chết lưu, đẻ non. Khi thiếu iốt nặng trẻ sinh ra có thể bị đần độn với tổn thương não vĩnh viễn. Trẻ sơ sinh có thể bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt tay hoặc chân, nói ngọng, điếc, câm, mắt lác. Các hậu quả đó sẽ tồn tại vĩnh viễn trong cả cuộc đời, hiện nay y học chưa chữa được.
Thiếu iốt trong thời kỳ niên thiếu gây ra bướu cổ, chậm phát triển trí tuệ, chậm lớn, nói ngọng, nghễnh ngãng. Trong một số trường hợp nặng, trẻ có thể bị đần độn, liệt cứng hai chân. Trẻ bị thiếu iốt không thể đạt kết quả tốt trong học tập. Thiếu iốt ở người lớn gây ra bướu cổ với các biến chứng của nó như mệt mỏi, không linh hoạt và giảm khả năng lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế, xã hội.
Tất cả các rối loạn do thiếu iốt kể cả bệnh đần độn hoàn toàn có thể phòng được bằng cách bổ sung một lượng iốt rất nhỏ vào bữa ăn hàng ngày. Những thức ăn từ biển (cá, sò, rong biển) là nguồn giàu iốt. Hai biện pháp chủ yếu đang được áp dụng hiện nay trong phòng chống bệnh là:
Sử dụng muối iốt trong bữa ăn. Hiện nay ở nước ta, chính phủ đã quyết đ�