CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ DD

Đăng ngày 3/10/2015 4:07:41 PM | Thể loại: | Chia sẽ bởi: HIếu Lê Quang | Lần tải: 7 | Lần xem: 0 | Page: 41 | Kích thước: 0.44 M | Loại file: ppt
Đây là bản xem thử online, xin hãy chọn download miễn phí bên dưới để xem bản đẹp dạng .ppt

bài giảng CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ DD, . . nslide.com giới thiệu tới mọi người thư viện CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ DD .Để giới thiệu thêm cho bạn đọc nguồn tài liệu tham khảo giúp đỡ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học, trân trọng kính mời đọc giả đang tìm cùng xem , Tài liệu CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ DD trong chuyên mục được chia sẽ bởi user HIếu Lê Quang tới các bạn nhằm mục đích học tập , tài liệu này được chia sẽ vào chủ đề , có 41 trang, thuộc định dạng .ppt, cùng thể loại còn có Bài giảng ,bạn có thể tải về miễn phí , hãy giới thiệu cho mọi người cùng tham khảo CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG I, ngoài ra MỞ ĐẦU Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập kết những đặc điểm chức vụ, cấu trúc và hóa sinh phản ảnh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể, nói thêm là Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được biểu lộ bằng tỷ lệ của những cá thể bị tác động bởi những vấn đề dinh dưỡng,còn cho biết thêm Tình trạng dinh dưỡng của trẻ con từ 0 tới 5 tuổi được xem là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của hoàn toàn cộng đồng, thêm nữa Đôi khi người ta cũng lấy trạng thái dinh dưỡng https://nslide.com/bai-giang/cac-phuong-phap-danh-gia-dd.7116zq.html

Nội dung

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG
I. MỞ ĐẦU
Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hóa sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.
Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề dinh dưỡng.

Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 0 đến 5 tuổi được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của toàn bộ cộng đồng. Đôi khi người ta cũng lấy tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ làm đại diện.
Một số phương pháp định lượng chính thường được sử dụng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng như:
Nhân trắc học
Điều tra khẩu phần
Điều tra tập quán ăn uống
Các thăm khám thực thể/dấu hiệu lâm sàng
Các xét nghệm cận lâm sàng
Các kiểm nghiệm chức phận
Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong
Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe
II. PHƯƠNG PHÁP NHÂN TRẮC HỌC
Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng.
Hầu hết các phương pháp nhân trắc được sử dụng để đánh giá cấu trúc cơ thể đều dựa trên sự phân biệt thành 2 khối:

khối mỡ và khối nạc. Kỹ thuật nhân trắc có thể đánh giá gián tiếp những thành phần nầy của cơ thể và sự thay đổi về số lượng cũng như tỷ lệ của chúng có thể dùng như những chỉ số về tình trạng dinh dưỡng

Mỡ là dạng dự trữ năng lượng chính trong cơ thể và rất nhạy để đánh giá tình trạng SDD cấp. Sự thay đổi của lượng mỡ trong cơ thể cho biết gián tiếp là có sự thay đổi trong cân bằng năng lượng.
Khối nạc của cơ thể là nơi tập trung phần lớn lượng protein và cũng là thành phần chính của khối không mỡ, được coi là môt chỉ số về dự trữ protein của cơ thể. Sự dự trữ nầy trở nên giảm sút trong trường hợp bị SDD trường diễn dẫn tới khối cơ bị teo đi.
Những kích thước nhân trắc thường được sử dụng là: cân nặng/chiều cao/chiều dài, bề dày lớp mỡ dưới da, vòng cánh tay, vòng eo, vòng bụng, vòng mông…
2.1 Kỹ thuật thu thập các thước nhân trắc
a) Tuổi của trẻ từ khi sinh ra đến 18 tuổi được tính bằng tháng hoặc năm tuổi.
Xác định tháng tuổi và năm tuổi của trẻ theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Xác định tháng tuổi của trẻ như sau:
Trẻ 0 tháng tuổi là từ sau khi được sinh ra đến 29 ngày.
01 tháng tuổi là từ khi trẻ tròn 01 tháng cộng với 29 ngày.
02 tháng tuổi là từ khi trẻ tròn 02 tháng cộng với 29 ngày.
03 tháng tuổi là từ khi trẻ tròn 03 tháng cộng với 29 ngày.
04 tháng tuổi là từ khi trẻ tròn 01 tháng cộng với 29 ngày.
05 tháng tuổi là từ khi trẻ tròn 05 tháng cộng với 29 ngày, tức là 179 ngày tuổi.
06 tháng tuổi là từ khi trẻ tròn 06 tháng (tức là 180 ngày tuổi) cộng với 29 ngày, v.v.
12 tháng tuổi là từ khi trẻ tròn 12 tháng cộng với 29 ngày
Cách xác định năm tuổi của trẻ:
Trẻ dưới 01 tuổi là từ khi trẻ được sinh ra tới 11 tháng 29 ngày tuổi.
Trẻ 01 tuổi là từ khi trẻ tròn 12 tháng tuổi đến 23 tháng 29 ngày.

Trẻ 02 tuổi là từ khi trẻ tròn 24 tháng tuổi đến 35 tháng 29 ngày. (Trẻ dưới 2 tuổi tức là dưới 24 tháng tuổi).
Trẻ 03 tuổi là từ khi trẻ tròn 36 tháng tuổi đến 47 tháng 29 ngày.
Trẻ 04 tuổi là từ khi trẻ tròn 48 tháng tuổi đến 59 tháng 29 ngày.
Trẻ 05 tuổi là từ khi trẻ tròn 60 tháng tuổi đến 71 tháng 29 ngày. (Trẻ dưới 5 tuổi tức là dưới 60 tháng tuổi).
Trẻ 06 tuổi là từ khi trẻ tròn 72 tháng tuổi đến 84 tháng 29 ngày
b) Cân nặng
- Cân trẻ em nên cởi hết quần áo. Trường hợp cháu quấy khóc, không cân được có thể cân mẹ bé rồi cân mẹ bế bé sau đó trừ lại để lấy số cân nặng thực tế của bé.
- Cân trẻ >2 tuổi hoặc người lớn, mặc quần áo gọn nhất và phải trừ bớt cân nặng trung bình của quần áo khi tính kết quả.

- Người được cân đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng bổ đều cả hai chân.
- Cân đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng, chỉnh cân về vị trí cân bằng ở số 0. Hàng ngày phải kiểm tra cân bằng cách dùng quả cân chuẩn (hoặc vật tương đương, ví dụ một can nước 1L #1kg).
c) Đo bề dày lớp mỡ dưới da
Bề dày lớp mỡ dưới da (BDLMDD) được dùng như một số đo đánh giá trực tiếp tình trạng béo trệ. BDLMDD ước lượng kích thước kho dự trữ mỡ dưới da và từ đó cho phép ước lượng tổng số lượng mỡ của cơ thể.
d) Chiều cao
2.2 Nhận định tình trạng dinh dưỡng
2.2.1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em
a)Các chỉ số và ngưỡng:
Hiện nay người ta nhận định tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em chủ yếu dựa vào 3 chỉ tiêu sau:

Năm 1981, WHO chính thức khuyến nghị sử dụng khoảng giới hạn từ -2SD đến +2SD để phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ em. Quần thể tham khảo được sử dụng là NCHS (National Center for Health Statistics). Cho đến nay, đây là thang phân loại được chấp nhận rộng rãi trên thế giới.
Thang phân loại dựa vào cân nặng và chiều cao theo các chỉ số như sau: Cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), và cân nặng theo chiều cao (CN/CC).
Cân nặng/tuổi (CN/T)
Những trẻ có cân nặng/tuổi từ -2SD trở lên được coi là bình thường. SDD chia ra các mức độ sau:
Từ dưới -2SD đến -3SD : SDD độ 1
Từ dưới -3SD đến -4SD : SDD độ 2
Từ dưới -4SD : SDD độ 3
Chiều cao/tuổi (CC/T)
Từ dưới -2SD đến -3SD : SDD độ 1
Từ dưới -3SD: SDD độ 2
CC/T thấp so với chuẩn tức là thiếu dinh dưỡng trường diễn, gọi là thiếu dinh dưỡng còi cọc (stunting).
Cân nặng/chiều cao (CN/CC)
CN/CC thấp so với điểm ngưỡng là dưới -2SD.
CN/CC thấp so với chuẩn tức là hiện nay đang thiếu dinh dưỡng, gọi là thiếu dinh dưỡng thể gầy còm (Wasting)
b) Cách nhận định kết quả :
Muốn nhận định các kết quả về nhân trắc, cần phải chọn một quần thể tham chiếu để so sánh. WHO đã đề nghị lấy quần thể NCHS (National Center For Health Statistics) Trung Tâm Quốc Gia Thống Kê Y Tế, của Hoa Kỳ làm quần thể tham chiếu.
Các giới hạn « ngưỡng » được sử dụng đánh giá tình trạng dinh dưỡng :
- Theo % so với quần thể tham chiếu :
Thiếu dinh dưỡng độ 1 tương ứng với 75% - 90% của cân nặng chuẩn.
Thiếu dinh dưỡng độ 2 tương ứng 60% - 75% cân nặng chuẩn.
Thiếu dinh dưỡng độ 3 khi dưới 60% cân nặng chuẩn
- Theo độ lệch chuẩn (Z score hay SD score) : theo phân bố thống kê, thường lấy -2SD của số trung bình làm giới hạn ngưỡng. Từ đó người ta tính được tỷ lệ ở dưới hoặc trên các ngưỡng đó.
Zscore KT đo được – Số TB của NCHS
hay SD =
Score Độ lệch chuẩn của NCHS
Ví dụ: một cháu trai 29 tháng, chiều dài 83,3 cm; số trung bình ở quần thể tham chiếu tương ứng là 89,7 cm, độ lệch chuẩn là 3,5.
Zscore 83,8 – 89,7
hay SD = = -1,83
score 3,5
- Theo Xentin (Percentile): nhiều khi người ta sắp xếp các kích thước nhân trắc theo xentin so với quần thể tham chiếu. Ở mốc 3 xentin (nghĩa là có 3% số trẻ dưới mốc nầy) gần tương đương với -2SD (chính xác là -1,8881 SD), nên dưới mốc nầy có thể xếp vào loại thiếu dinh dưỡng. Thường các bảng xentin lấy mốc 3 và 97 xentin để phân loại tình trạng dinh dưỡng.
2.2.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Dựa vào các chỉ tiêu nhân trắc để nhận định tình trạng dinh dưỡng trẻ vị thành niên từ 10 đến 18 tuổi (WHO, 1995) có thể sử dụng chiều cao riêng rẽ để đánh giá chậm phát triển chiều cao (stunting) như trẻ em và có thể phối hợp giữa cân nặng với chiều cao (BMI) như người trưởng thành và các kích thước khác
- Đánh giá về phát triển chiều cao (Height-for-age) của trẻ em tuổi thành niên cũng sử dụng ngưỡng <-2SD hoặc <3 xentin để phân loại trẻ bị chậm phát triển (stunting), so với quần thể tham khảo NCHS.
- Từ năm 1995, theo WHO, đối với trẻ vị thành niên, chỉ số khối cơ thể BMI được sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng. Do đặc điểm của lứa tuổi nầy là cơ thể đang phát triển, chiều cao chưa ổn định nên không thể dùng một ngưỡng BMI như người trưởng thành mà BMI được tính theo giới và tuổi của trẻ.
- Ngưỡng BMI theo tuổi:
 Dưới 5 percentile: được sử dụng để phân loại trẻ gầy hoặc thiếu dinh dưỡng.
 ≥ 85 percentile: là thừa cân.
 ≥ 90 percentile: là béo phì.
2.2.3 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở người lớn
2.2.3.1 Dựa vào công thức tính cân nặng ‘’ nên có’’ : ở người trưởng thành, dinh dưỡng hợp lý, cân nặng nói chung ổn định và duy trì trong một giới hạn nhất định, ta gọi là cân nặng ‘’nên có’’ hay ‘’thích hợp’’. Có nhiều công thức tính cân nặng ‘’nên có’’ như một số công thức sau đây :
 Công thức Broca :
Cân nặng ‘’nên có’’ (kg) = Cao (cm) – 100
 Công thức Lorentz : (Cao – 150)
Cân nặng ‘’nên có’’ (kg) = Cao (cm) – [ 100 + ]
4
 Công thức Bongard :
Cao (cm) x Vòng ngực (cm)
Cân nặng ‘’nên có’’ (kg) =
240
 Công thức của cơ quan bảo hiểm Mỹ :
Cân nặng ‘’nên có’’ (kg) = 50 + 0,75 (Cao – 150)
2.2.3.2 Dựa vào chỉ số khối cơ thể :
Gần đây, WHO khuyên dùng chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index, BMI), trước đây gọi là chỉ số Quetelet, để nhận định về tình trạng dinh dưỡng.
Cân nặng (kg)
BMI =
[Chiều cao (m)]2
a) Béo :
Các ‘’ngưỡng’’ sau đây được sử dụng để phân loại dựa vào chỉ số BMI :
 Bình thường : 18,5 – 24,9
 Thừa cân độ 1 : 25,0 – 29,9
 Thừa cân độ 2 : 30,0 – 39,9
 Thừa cân độ 3 : ≥ 40
b) Gầy :
Tình trạng gầy hay thiếu năng lượng trường diễn (Chronic Energy Deficiency, CED) được đánh giá vào BMI như sau :
 Độ 1 : 17,0 – 18,49 (gầy nhẹ)
 Độ 2 : 16,0 – 16,9 (gầy vừa)
 Độ 3 : < 16,0 ( quá gầy)
2.2.3.3 Ngưỡng đánh giá mức độ phổ biến thiếu năng lượng trường diễn ở cộng đồng :
WHO khuyến nghị dùng các ngưỡng sau đây (Đối với người trưởng thành dưới 60 tuổi) :
Quần thể có BMI < 18,5 chiếm tỷ lệ từ :
5 – 9% : Vùng thiếu năng lượng trường diễn chiếm tỷ lệ thấp

10 – 19% : Vùng thiếu năng lượng trường diễn chiếm tỷ lệ vừa
20 – 29% : Vùng thiếu năng lượng trường diễn chiếm tỷ lệ cao
≥ 30% : Vùng thiếu năng lượng trường diễn chiếm tỷ lệ rất cao


CẢM ƠN SỰ CHÚ Ý LẮNG NGHE