Cao Bá Quát
Thông tin
Cao Bá Quát (1808-1855) tự Chu Thần, hiệu Cúc Đường, Mẫn Hiên
Ông là người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội)
Ông nội Cao Bá Quát tên là Cao Huy Thiềm, sau đổi là Cao Danh Thư, một danh y nổi tiếng trong vùng. Thân sinh Cao Bá Quát tên là Cao Huy Sâm sau đổi là Cao Huy Tham, cũng là một thầy thuốc giỏi [7]. Cao Bá Quát là em song sinh với Cao Bá Đạt.

Ông nổi tiếng là người viết chữ đẹp và nhanh.
Không những viết chữ đẹp, Cao Bá Quát còn nổi tiếng về tài văn thơ. Ông có thể “xuất khẩu thành thơ”, làm vế đối mọi lúc mọi nơi, ý tứ rất chuẩn mực, sắc sảo. Tài năng văn chương của ông khiến ngay cả ông vua hay chữ Tự Đức cũng phải thán phục. Vua trực tiếp ca ngợi ông và người bạn vong niên của ông là Nguyễn Văn Siêu rằng: “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán”, nghĩa là: Văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, đời tiền Hán không có ai bằng
Thơ ông bộc lộ thái độ phê phán mạnh. mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng khai sáng có tính chất tự phát.
Tác phẩm: hiện nay còn xót lại1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi.
Cuộc đời
-Con đường thi cử lận đận:Năm1821, khi đó ông mới 13 tuổi thi khảo hạch ở trường thi tỉnh Bắc Ninh nhưng thi Hương (lần đầu) không đỗ. Đến năm1831, ông thi hương đỗ Á Nguyên tại trường thi Hà Nội nhưng đến khi duyệt quyển thì bị bộ Lễ kiếm cớ xếp ông xuống hạng cuối cùng trong số 20 người đỗ Cử nhân. Sau đó trong chín năm, ba năm một lần vào kinh đô Huế dự thi Hội, Cao Bá Quát lần nào cũng hỏng.
+Năm 1841, ông mới được làm quan tỉnh Bắc Ninh. Vì sửa những bài thi hay nhưng phạm trường quy,tháng 8 (ÂL) ông bị bắt giam vào ngục Trấn Phủ rồi chuyển đến ngục Thừa Thiên. Sau thời gian dài bị nhục hình tra tấn, ông bị kết vào tội chết.  Nhưng khi án đưa lên, vua Thiệu Trị đã giảm cho ông từ tội “trảm quyết” xuống tội “giảm giam hậu”, được giam lại đợi lệnh.

Sau gần ba năm bị giam cầm khổ sở, khoảng cuối năm 1843, được triều đình tạm tha nhưng Cao Bá Quát bị phát phốt đi Đà Nẵng. Sau đó, Cao Bá Quát được phục chức ở bộ Lễ nhưng chẳng bao lâu thì bị thải về sống với vợ con ở Thăng Long.
Đến năm 1847, Cao Bá Quát được lệnh triệu vào Huế  làm ở Viện Hàn Lâm
Năm Canh Tuất (1850) do không được lòng một số quan lớn tại triều, Cao Bá Quát bị đầy đi làm giáo thụ ở phủ Quốc Oai. Đến cuối năm đó,lấy cớ về chịu tang cha và sau đó xin ở lại nuôi mẹ già, Cao Bá Quát đã thôi chức Giáo thụ ở phủ Quốc Oai.
Giữa năm 1954, gặp lúc vùng Sơn Tây bị hạn hán nặng, nạn châu chấu làm cho mùa màng mất sạch, đời sống người dân cũng trở nên cơ cực. Cao Bá Quát đã vận động một số sĩ phu yêu nước, các thổ hào đứng dậy khởi nghĩa ở Mỹ Lương (Sơn Tây).
Đang trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, do có người tố giác nên kế hoạch bị bại lộ. Sau nhiều lần chống trả tuy giành được một số thắng lợi, nhưng sau khi quan quân triều đình tập trung phản công thì quân khởi nghĩa liên tiếp thất bại.



nguon VI OLET