GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CÁC NHÓM THỰC PHẨM

Đăng ngày 2/25/2015 2:19:23 PM | Thể loại: | Chia sẽ bởi: HIếu Lê Quang | Lần tải: 11 | Lần xem: 0 | Page: 57 | Kích thước: 1.27 M | Loại file: ppt
Đây là bản xem thử online, xin hãy chọn download miễn phí bên dưới để xem bản đẹp dạng .ppt

bài giảng GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CÁC NHÓM THỰC PHẨM, . . Chúng tôi trân trọng giới thiệu đến các bạn bài giảng GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CÁC NHÓM THỰC PHẨM .Để giới thiệu thêm cho bạn đọc nguồn thư viện tham khảo giúp đỡ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học, trân trọng kính mời bạn đọc đang cần cùng xem , bài giảng GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CÁC NHÓM THỰC PHẨM trong chuyên mục được chia sẽ bởi bạn HIếu Lê Quang tới các bạn nhằm mục đích nâng cao kiến thức , thư viện này được đưa vào chuyên mục , có 57 page, thuộc file .ppt, cùng mục còn có Bài giảng ,bạn có thể download free , hãy giới thiệu cho mọi người cùng xem GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CÁC NHÓM THỰC PHẨM VÀ ĂN BỔ SUNG HỢP LÝ Thạc Sĩ Nguyễn Hữu Tuấn Tầm quan trọng của việc ăn bổ sung Tầm quan trọng của ăn bổ sung Lứa tuổi từ mới đẻ tới 2 tuổi là thời kỳ phát triển quan trọng trong hoàn toàn cuộc đời, nói thêm Đây là thời kỳ hoàn chỉnh hệ thống tâm thần trung ương và vỏ não, quyết định khả năng trí óc mai sau của trẻ, kế tiếp là Các nghiên cứu mới ban bố trên tạp chí Lancet cho thấy đây là công đoạn quan trọng nhất đối với săn sóc dinh dưỡng trong cuộc đời, tiếp theo là Đây https://nslide.com/bai-giang/gia-tri-dinh-duong-cac-nhom-thuc-pham.jdj6zq.html

Nội dung

GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CÁC NHÓM THỰC PHẨM
VÀ ĂN BỔ SUNG HỢP LÝ
Thạc Sĩ Nguyễn Hữu Tuấn
Tầm quan trọng của việc ăn bổ sung
Tầm quan trọng của ăn bổ sung
Lứa tuổi từ mới đẻ đến 2 tuổi là thời kỳ phát triển quan trọng trong toàn bộ cuộc đời. Đây là thời kỳ hoàn chỉnh hệ thống thần kinh trung ương và vỏ não, quyết định khả năng trí tuệ tương lai của trẻ. Các nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Lancet cho thấy đây là giai đoạn quan trọng nhất đối với chăm sóc dinh dưỡng trong cuộc đời.
Đây là giai đoạn cơ thể có nhu cầu dinh dưỡng cao nhất, trong khi bộ máy tiêu hoá của trẻ chưa thích ứng kịp thời với chế độ ăn hoàn toàn lỏng là sữa mẹ sang chế độ ăn đặc và cứng dần, do đó vấn đề nuôi trẻ trong 2 năm đầu đặc biệt là giai đoạn cho trẻ ăn bổ sung đòi hỏi các bà mẹ cần có kiến thức và đặc biệt quan tâm.
Vì thế cán bộ y tế cơ sở, nhất là người cán bộ nhi khoa, cần phải am hiểu về cách cho trẻ ăn bổ sung, đây là khâu một quan trọng nhất trong chăm sóc sức khoẻ và phòng chống SDD trẻ em.
Định nghĩa ăn bổ sung
Khi trẻ bước sang tháng tuổi thứ 6 thì sữa mẹ không đáp ứng đư­ợc nhu cầu dinh dưỡng của trẻ. Đây là thời điểm cần phải cho trẻ ăn thêm thức ăn bổ sung.
Ăn bổ sung có nghĩa là cho ăn thêm các thức ăn khác ngoài sữa mẹ
Các thức ăn hoặc nước uống thêm vào được gọi là thức ăn bổ sung, các thức ăn này thêm vào hoặc bổ sung cho sữa mẹ chứ không thay thế sữa mẹ. Các thức ăn bổ sung phải là những thực phẩm tốt và đầy đủ về số lượng để trẻ có thể tiếp tục phát triển.
Tuổi thích hợp bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung
Bắt đầu từ tháng thứ 6
Biểu đồ phát triển được sử dụng nhằm theo dõi mức tăng cân của trẻ.
Ở đây chúng ta xem biểu đồ phát triển của bé. Chúng ta có thể thấy trong vòng sáu tháng đầu trẻ tăng cân một cách đều đặn. Sau 6 tháng bé tăng cân kém. Đường phát triển gần như­ đứng yên, không đi lên như các tháng trước.
Lý do chính làm cho bé chậm lớn là sữa mẹ không đáp ứng đủ cho nhu cầu dinh dưỡng cho sự phát triển của bé. Vì vậy ăn bổ sung nên bắt đầu khi trẻ không nhận đủ năng lượng và các chất dinh d­ưỡng từ sữa mẹ. Đối với phần lớn trẻ, đó là lúc trẻ 6 tháng tuổi.
Vì sao cần cho trẻ ăn bổ sung:
Nhu cầu năng lượng.
Cơ thể chúng ta sử dụng thức ăn để tạo năng lượng nhằm duy trì sự sống, sự lớn lên, chống lại bệnh tật và cho các hoạt động sống. Vì vậy, nếu trẻ không nhận đầy đủ thức ăn bổ dưỡng, trẻ sẽ không đủ năng lượng để phát triển và hoạt động.
Sự thiếu hụt năng lượng
Trên biểu đồ, mỗi cột thể hiện tổng nhu cầu năng lượng của từng nhóm tuổi. Cột càng cao thể hiện nhu cầu năng lượng của trẻ cao hơn đó là khi trẻ lớn lên, to hơn và hoạt động nhiều hơn. Phần màu đen của cột là phần năng lượng cung cấp từ sữa mẹ.
Ta thấy từ tháng thứ 6 trở đi có sự thiếu hụt giữa nhu cầu năng lượng của trẻ và năng lượng cung cấp từ sữa mẹ (Phần mầu trắng ). Trẻ càng lớn thì sự thiếu hụt càng tăng.

Nhu cầu về sắt
Nếu trẻ bị thiếu sắt trẻ sẽ bị thiếu máu, dễ bị các bệnh nhiễm khuẩn và nếu bị sẽ hồi phục chậm. Trẻ cũng đồng thời tăng trưởng và phát triển chậm.
Kẽm cũng là một vi chất dinh dư­ỡng cần thiết cho trẻ tăng trưởng và phát triển khoẻ mạnh. Các thực phẩm giàu sắt cũng thường giàu kẽm vì vậy nếu trẻ được ăn bổ sung các thực phẩm giàu sắt thì cũng đồng thời được bổ sung kẽm.
Sự thiếu hụt sắt:
Trong biểu đồ này, phía trên của các cột biểu thị nhu cầu sắt hàng ngày của trẻ. Một đứa trẻ sinh đủ tháng có dự trữ sắt tốt sẽ có đủ sắt cho tới khi được 6 tháng tuổi (chỉ các vùng được kẻ sọc)
Vùng được tô đậm ở phía dư­ới của các cột biểu thị lượng sắt được sữa mẹ cung cấp nếu trẻ vẫn tiếp tục được cho bú mẹ (chỉ các vùng được tô đậm).
Sự phát triển của trẻ nhỏ trong năm đầu thường nhanh hơn năm thứ hai. Vì vậy trẻ càng nhỏ thì nhu cầu sắt càng cao.
Tuy nhiên, cơ thể sẽ sử dụng lượng sắt dự trữ trong 6 tháng đầu tiên. Vì vậy, sau 6 tháng ta sẽ thấy khoảng cách giữa nhu cầu của trẻ và lượng sắt từ sữa mẹ. Đây là khoảng thiếu hụt cần được bù đắp bằng sắt từ các thức ăn bổ sung (chỉ các vùng để trắng - đây là khoảng thiếu hụt).

Nhu cầu vitamin A
Vitamin A cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển
Phòng chống khô mắt
Tăng sức đề kháng của cơ thể với các bệnh nhiễm trùng
Sự thiếu hụt Vitamin A

Trong biểu đồ trên phần trên của các cột biểu thị nhu cầu Vitamin A của một đứa trẻ bình thường trong 1 ngày. Sữa mẹ cung cấp phần lớn vitamin A cho nhu cầu này trong thời gian bú mẹ 6 tháng đầu. Do trẻ ngày càng lớn lên, nhu cầu vitamin A tăng lên do đó có một khoảng thiếu hụt Vitamin A. (vùng để trắng trên biểu đồ biểu thị khoảng thiếu hụt Vitamin A cần được bù đắp).
Do vậy đối với phần lớn trẻ thì tròn 6 tháng tuổi là thời gian thích hợp để bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung.
Cho trẻ ăn thêm quá sớm:
Cho trẻ ăn bổ sung quá sớm có thể dẫn đến:
Trẻ ít bú sữa mẹ, khó thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng của trẻ;
Bữa ăn ít chất dinh dưỡng nếu cho trẻ ăn nước súp hoặc cháo;
Tăng nguy cơ mắc bệnh vì thiếu các yếu tố bảo vệ có trong sữa mẹ;
Tăng nguy cơ bị ỉa chảy vì thức ăn bổ sung không hợp vệ sinh hoặc không dễ tiêu hoá như sữa mẹ;
Trẻ có nguy cơ bị dị ứng vì trẻ chưa tiêu hoá và hấp thu tốt các thức ăn mới;
Bà mẹ có nguy cơ mang thai nếu cho trẻ bú ít.
Cho trẻ ăn thêm quá muộn:
Bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung quá muộn là một yếu tố nguy cơ cho trẻ vì:
Trẻ không được ăn thêm thức ăn để thoả mãn nhu cầu lớn lên của trẻ;
Trẻ lớn và phát triển chậm hơn;
Trẻ có thể không nhận đủ chất dinh dưỡng để phòng tránh suy dinh dưỡng hoặc thiếu vi chất như thiếu máu do thiếu sắt.
THỨC ĂN BÙ ĐẮP SỰ THIẾU HỤT NĂNG LƯ­ỢNG
Tại sao phải bù đắp sự thiếu hụt năng lượng:
Khi trẻ lớn lên và hoạt động nhiều hơn, đến độ tuổi mà sữa mẹ không đủ thoả mãn nhu cầu của trẻ và lúc đó trẻ cần phải được ăn bổ sung. Chúng ta đã thấy đồ thị biểu diễn nhu cầu năng lượng của trẻ và năng lượng được cung cấp từ sữa mẹ.
Các thức ăn có thể bù đắp sự thiếu hụt năng lượng
Lương thực.
Ngũ cốc như gạo, bột mì, ngô .
Các loại khoai củ như sắn, củ từ, khoai tây
Các loại quả có tinh bột như chuối lá, mít.
Dầu mỡ là nguồn cung cấp nhiều năng lượng. Cho thêm một ít dầu ăn hay mỡ (1thìa con) vào bát bột của trẻ sẽ cung cấp thêm năng lượng cho trẻ. Cho thêm dầu hay mỡ vào bột đặc hay các ngũ cốc làm bột mềm và dễ ăn hơn .
Vừng, lạc và các loại hạt có dầu
Trình diễn việc sử dụng các thức ăn đậm đặc
Thường thường các gia đình sợ thức ăn đặc gây khó nuốt, nghẹn hay gây táo bón cho trẻ. Do vậy họ thường cho thêm dịch lỏng để cho trẻ dễ ăn. Điều quan trọng đối với bạn là làm cho các gia đình hiểu được tầm quan trọng của việc cho trẻ ăn thức ăn đậm đặc.

Kích cỡ dạ dày
Đây là trẻ 8 tháng tuổi. Độ tuổi này dạ dày của trẻ có thể chứa khoảng 200 ml dung dịch thức ăn
Mẹ của trẻ đã nấu bột cho cháu. Mẹ của trẻ sợ con không thể nuốt được bột do vậy đã cho thêm nước vào bột và pha loãng cho đến khi thể tích đạt gấp đôi
Bây giờ bột trông như thế này đây (loãng và lõng bõng nước), tất cả bột không thể cho vừa dạ dày. Dạ dày của trẻ sẽ đầy trước khi bé ăn hết bát. Do vậy bé không thể nhận được đầy đủ năng lượng cần thiết cho sự phát triển của mình.
Người mẹ nấu bột cho trẻ cũng với lượng bột như thế nhưng không thêm nước. Bột bây giờ trông như thế này đây (đặc).
Sử dụng phần bột không pha loãng.
Tất cả bột (cháo) này có chứa vừa trong dạ dày của bé
Trẻ có thể ăn hết bát bột và nó có thể giúp bé thoả mãn được nhu cầu năng lượng.

Bột hoặc hỗn hợp thức ăn quá loãng có thể cho vào bình hoặc chảy trên tay hoặc có thể uống được bằng cốc thì không cung cấp đầy đủ năng lượng hoặc các chất dinh dưỡng.
Độ đặc của thức ăn tạo nên sự khác biệt lớn trong việc thoả mãn nhu cầu năng lượng của trẻ. Thức ăn đặc giúp cho việc bù trừ sự thiếu hụt năng lượng.
Các cách làm tăng đậm độ năng lượng trong thức ăn cho trẻ.
Đối với bột hay các lương thực khác
Sử dụng ít nước và làm bột đặc hơn. Đừng làm cho thức ăn bị loãng hoặc chảy.
Rang ngũ cốc trước khi xay thành bột. Hạt bột rang không to lắm nên cần ít nước khi nấu.
Đối với súp hoặc thức ăn ninh/hầm
Lấy phần cái của súp hoặc thức ăn ninh như đậu, rau, thịt, và lương thực. Nghiền và cho trẻ ăn thay vì chỉ cho trẻ ăn phần nước.
Thêm các thực phẩm giàu năng lượng và chất dinh dưỡng vào bột, súp, thức ăn ninh.
Sau khi nấu xong cho thêm một thìa sữa bột
Trộn bột đậu với bột ngũ cốc trước khi nấu
Khuấy bột sền sệt làm từ lạc hoặc các loại hạt như vừng
Thêm 1 thìa mỡ hoặc dầu ăn
sử dụng bột men hay bột mộng đang được địa phương bạn sử dụng.
Bột mộng
Ngũ cốc hay hạt họ đậu được ngâm trong nước và cho nẩy mầm. Các hạt này sau đó được phơi khô (hoặc sấy khô) thành bột.
Hỗn hợp bột bao gồm bột mộng (mạch nha) và bột gốc có thể được bán sẵn ở cửa hiệu.
Nếu các gia đình ở nơi bạn ở sử dụng bột mộng.
Sự nẩy mầm tăng hấp thu sắt. Bột làm từ bột mộng cũng có thể cho lên men.
Các phương pháp sau được sử dụng để làm cho bột đặc và nhiều chất dinh dưỡng hơn.
Dùng bột mộng để nấu bột. Loại bột này không trở nên đặc lắm khi nấu do vậy có thể sử dụng ít nước để nấu.
Cho một ít bột mộng vào bột đặc đang nấu, sau đó đun lại khoảng vài phút. Việc cho thêm bột mộng làm cho bột mềm hơn và trẻ dễ ăn hơn.
THỰC PHẨM ĐỂ BÙ ĐẮP SỰ THIẾU HỤT SẮT VÀ VITAMIN A VÀ CÁC CHẤT DINH DƯỠNG
Thực phẩm nguồn gốc động vật:
Thực phẩm nguồn động vật, thịt và phủ tạng như gan, tim, tiết cũng như sữa, sữa chua, pho mát và trứng rất giàu các chất dinh dưỡng.
Thịt hoặc phủ tạng của động vật, chim và cá (bao gồm cả tôm cua sò hến và cá nhỏ đóng hộp) cũng như các thức ăn chế biến từ tiết rất giàu sắt và kẽm. Bên cạnh sắt, gan cũng rất giàu vitamin A.
Thực phẩm nguồn động vật như sữa và trứng cũng rất tốt cho trẻ em vì chúng có nhiều đạm và các chất dinh dưỡng khác. Tuy nhiên sữa không phải là thực phẩm giàu sắt.
Váng sữa chứa nhiều vitamin A. Bởi vậy, sữa toàn phần là nguồn cung cấp vitamin A rất tốt.
Các thức ăn chế biến từ sữa (sữa toàn phần, sữa tách bơ, hay sữa bột) và bất kỳ thức ăn nào có bột xương ví dụ cá khô nghiền là nguồn thực phẩm bổ sung canxi rất tốt cho sự phát triển của xương.
Lòng đỏ trứng rất giàu các chất dinh dưỡng và vitamin A.
Chỉ có các thức ăn có nguồn động vật mới có thể cung cấp đủ sắt cho nhu cầu của trẻ. Các thực phẩm được bổ sung sắt như bột mỳ bổ sung sắt, ngũ cốc bổ sung sắt hoặc các thức ăn bổ sung chế biến sẵn có bổ sung sắt cũng là một nguồn cung cấp sắt tốt cho nhu cầu của cơ thể trẻ.
Thực phẩm nguồn gốc thực vật
Rau, đậu đỗ, lạc và các loại hạt
Đậu đỗ lạc và các loại hạt là nguồn thực phẩm cung cấp chất đạm. Rau đậu cũng là nguồn thực phẩm cung cấp chất sắt.
Thông điệp Đậu, đỗ, rau đậu, lạc và các loại hạt đều là thức ăn tốt cho trẻ

Hấp thu sắt
Số l­ượng sắt đư­ợc cơ thể trẻ hấp thu từ thực phẩm tuỳ thuộc vào:
­Tổng lượng sắt trong thực phẩm
­Dạng sắt (sắt từ thịt, cá dễ hấp thu hơn sắt từ nguồn thức ăn thực vật và trứng)
­Các loại thức ăn khác trong cùng bữa (một số loại thức ăn giúp tăng khả năng hấp thu sắt và một số loại làm giảm hấp thu sắt)
­Đứa trẻ có bị thiếu máu hay không (trẻ bị thiếu máu sẽ hấp thu sắt nhiều hơn)
Tổng lượng sắt được hấp thu từ trứng và thực phẩm nguồn thực vật ví dụ ngũ cốc, đậu đỗ, các loại hạt và rau sẽ tăng lên nếu ăn các thực phẩm này cùng với:
Thực phẩm giàu vitamin C ví dụ: cà chua, hoa lơ, ổi, xoài, dứa, đu đủ, cam, chanh và quýt các loại,
Một lượng nhỏ thịt, phủ tạng động vật, chim, cá và các loại hải sản.
Khả năng hấp thu sắt tăng lên khi:
Nấu thức ăn trong nồi sắt, đặc biệt nếu thực phẩm có tính axit
Khả năng hấp thu sắt giảm đi khi:
Uống trà (bao gồm cả trà thảo dược) và cà phê
Ăn các thực phẩm nhiều chất xơ.
Ăn thực phẩm giàu canxi
Thực phẩm giàu vitamin A
Thức ăn nguồn gốc động vật: trứng, sữa, gan, cá, thịt, , tôm…
Thức ăn nguồn gốc thực vật: Các loại rau có lá màu xanh thẫm: rau muống, xà lách, rau ngót, rau riếp, rau rền, hành lá, hẹ lá, rau thơm và các loại củ quả có màu vàng như gấc, cà rốt, đu đủ, xoài…
Thức ăn bổ sung của trẻ cần có đủ dầu, mỡ để hỗ trợ hấp thu vitamin A.

Các gia đình có thể tự cải thiện nguồn cung cấp rau quả bằng cách:
Nên trồng loại rau có lá màu xanh thẫm và loại quả có màu vàng đậm vào các mùa khác nhau trong một năm,
Rào một vùng nhỏ ở gần nhà và trồng các loại rau phát triển nhanh,
Khuyến khích các chợ địa phương bán rau quả quanh năm,
Trữ lạnh thực phẩm để dùng dần.
Cơ thể có thể dự trữ Vitamin A trong vài tháng. Do vậy, các gia đình nên cho trẻ ăn các thực phẩm giàu vitamin A hàng ngày hoặc càng thường xuyên càng tốt vào mùa các thực phẩm này sẵn có.
SỐ LƯỢNG, TÍNH ĐA DẠNG THỰC PHẨM VÀ TẦN SUẤT CHO ĂN THỨC ĂN BỔ SUNG
Người chăm sóc trẻ cần biết số lượng và số lần cho trẻ ăn trong một ngày.
Tầm quan trọng của việc sử dụng đa dạng thức ăn

Đường trên cùng biểu thị nhu cầu năng lượng, prôtít, sắt và vitamin A của một đứa trẻ " trung bình" từ 12-23 tháng tuổi. Phần màu đen trong mỗi cột cho thấy số lượng các chất này được cung cấp từ sữa mẹ cho lứa tuổi này khi trẻ được cho bú thường xuyên.
Chúng ta thấy rằng:
Sữa mẹ cung cấp một số lượng cần thiết năng lượng và các chất dinh dưỡng thậm chí khi trẻ đã 2 năm tuổi.
Không có cột nào được lấp đầy và sự thiếu hụt này phải được bù trừ bằng thức ăn bổ sung
Sự thiếu hụt lớn nhất là sắt và năng lượng
Vậy làm thế nào để trẻ có thể nhận được nhiều sắt hơn?
Cho trẻ ăn các loại thức ăn động vật có nhiều sắt như gan hay nội tạng. Thức ăn động vật là thức ăn đặc biệt tốt cho trẻ.
Sử dụng các thực phẩm tăng cường sắt sẵn có ở địa phương .
Bổ sung vi chất cho trẻ để đảm bảo trẻ không bị thiếu sắt.
Vậy làm thế nào để có thể bù trừ năng lượng thiếu hụt?
Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét các phương pháp bù trừ sự thiếu hụt này.
Tần suất cho ăn bổ sung
Trẻ đã ăn một bát đầy thức ăn vào mỗi bữa ăn. Dạ dày trẻ không có chỗ để chứa thêm thức ăn cho mỗi bữa.
Vì vậy để bổ sung năng lượng cần cho cháu ăn nhiều lần hơn. Có thể cho trẻ ăn thêm các loại thức ăn dễ nấu giữa các bữa chính. Các thức ăn này thêm vào các bữa chính chứ không thay thế chúng.
Các thức ăn thêm này thường gọi là quà. Tuy nhiên, không nên nhầm lẫn với các thức ăn khác như đồ ngọt, thức ăn rán giòn hay các thức ăn chế biến sẵn.
Loại thức ăn thêm nào dễ cho trẻ ăn?
Các thức ăn thêm (quà) cung cấp năng lượng và các chất dinh dưỡng. Sữa chua và các sản phẩm làm từ sữa; bánh mì hay bánh bích qui phết bơ, bơ thực vật, bơ lạc hay mật ong; hoa quả; bánh đậu; khoai tây nấu, là những thức ăn thêm tốt.

Những thức ăn thêm kém giá trị là những thức ăn giàu đường nhưng thiếu chất. Ví dụ như nước uống có ga (sô đa), nước hoa quả ngọt, đồ ngọt/kẹo, kẹo đá và bánh qui ngọt.
Tần suất cho ăn (thông điệp )
Một đứa trẻ đang tăng trưởng cần 3 bữa chính và 2 bữa phụ
Số lư­ợng thức ăn bổ sung khuyến nghị
Khi trẻ bắt đầu ăn thức ăn bổ sung, trẻ cần thời gian để làm quen với mùi vị và tính chất của thức ăn mới. Trẻ cần học kĩ năng ăn. Khuyến khích các gia đình cho trẻ ăn 2-3 thìa thức ăn và ăn một ngày 2 lần.
Tăng dần số lượng và đa dạng thức ăn khi trẻ lớn. Khi trẻ được 12 tháng tuổi, mỗi bữa ăn trẻ có thể ăn một bát con hoặc 1 cốc đầy hỗn hợp nhiều loại thức ăn và 2 bữa phụ giữa các bữa chính. Cần thay đổi khẩu vị cho trẻ..
Khi trẻ phát triển và học kĩ năng ăn. Trẻ chuyển từ việc ăn thức ăn rất mềm, thức ăn nghiền sang thức ăn miếng, đòi hỏi trẻ phải nhai, sau đó sang ăn thức ăn chung với gia đình. Nhiều thực phẩm gia đình cần phải thái nhỏ nếu trẻ khó ăn.

Số lư­ợng thức ăn
Bạn có thể thấy trên bảng khi trẻ càng lớn thì số lượng thức ăn càng tăng. Cho trẻ ăn đủ số lượng trẻ sẽ ăn và khích lệ trẻ ăn.
Nhấn mạnh những điểm quan trọng sau:
Trẻ phải được ăn bổ sung từ tháng thứ 6
Ăn bổ sung phải theo nguyên tắc từ lỏng đến đặc
Chế độ ăn phải đủ 4 nhóm thực phẩm
Trẻ phải được ăn đủ 3 bữa chính và 2 bữa phụ mỗi ngày
Khi chế biến phải đảm bảo thức ăn mềm, dễ nhai, dễ nuốt
Cho trẻ ăn nhiều hơn trong và sau khi bị ốm, cho trẻ ăn uống nhiều chất lỏng hơn đặc biệt khi bị tiêu chảy và sốt cao
Tăng đậm độ của thức ăn bổ sung: có thể thêm dầu, m ỡ hoặc vừng, lạc