Tuần 24. Đọc thêm: Tương tư (Phương Thu)

Đăng ngày 2/26/2017 1:54:35 PM | Thể loại: Ngữ văn 11 | Chia sẽ bởi: Phương Thu | Lần tải: 1 | Lần xem: 1 | Page: 33 | Kích thước: 0.00 M | Loại file: ppt
  • Tuần 24. Đọc thêm: Tương tư - 1
  • Tuần 24. Đọc thêm: Tương tư - 2
  • Tuần 24. Đọc thêm: Tương tư - 3
  • Tuần 24. Đọc thêm: Tương tư - 4
  • Tuần 24. Đọc thêm: Tương tư - 5
  • download - 4
Đây là bản xem thử online, xin hãy chọn download miễn phí bên dưới để xem bản đẹp dạng .ppt

bài giảng Tuần 24. Đọc thêm: Tương tư, Ngữ văn 11. . nslide giới thiệu đến cộng đồng bài giảng Tuần 24. Đọc thêm: Tương tư .Để giới thiệu thêm cho các bạn nguồn thư viện tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học, trân trọng kính mời các bạn quan tâm cùng xem , Thư viện Tuần 24. Đọc thêm: Tương tư thuộc thể loại Ngữ văn 11 được chia sẽ bởi bạn Phương Thu tới học sinh,sinh viên, giáo viên nhằm mục tiêu nghiên cứu , tài liệu này được đưa vào chủ đề Ngữ văn 11 , có tổng cộng 33 trang, thuộc file .ppt, cùng mục còn có Bài giảng Ngữ văn Ngữ văn 11 ,bạn có thể download free , hãy giới thiệu cho mọi người cùng tham khảo Tương Tư (Nguyễn Bính) Trình bày: Tổ 3 Cuộc đời, kế tiếp là -Nguyễn Bính (1918 – 1966) tên khai sinh Nguyễn Trọng Bính, nói thêm -Quê ở làng Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định,còn cho biết thêm -Ông biết làm thư từ khi mới 13 tuổi và năm 19 tuổi (1937) được nhận giải Khuyến khích về thơ của Tự lực văn đoàn, bên cạnh đó -Năm 1943, Nguyễn Bính vào Nam Bộ rồi ở lại tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, ngoài ra -Năm 1954, ông tập trung ra Bắc, tham gia công tác văn https://nslide.com/bai-giang/tuan-24-doc-them-tuong-tu.dy6r0q.html

Nội dung

Tương Tư
(Nguyễn Bính)
Trình bày: Tổ 3
Cuộc đời.
-Nguyễn Bính (1918 – 1966) tên khai sinh Nguyễn Trọng Bính.
-Quê ở làng Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
-Ông biết làm thơ từ khi mới 13 tuổi và năm 19 tuổi (1937) được nhận giải Khuyến khích về thơ của Tự lực văn đoàn.
-Năm 1943, Nguyễn Bính vào Nam Bộ rồi ở lại tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp.
-Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, tham gia công tác văn nghệ và báo chí ở Hà Nội, Nam Định.
I. Tác giả- Nguyễn Bính.
-Thơ của Nguyễn Bính có một điệu riêng.
-Bằng lối ví von mộc mạc mà duyên dáng mang phong vị dân gian, thơ của Nguyễn Bính đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương của quê hương, đất nước và tình người đằm thắm, thiết tha => ông được coi là “ thi sĩ của đồng quê”.
-Ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (2000)
-Những tác phẩm tiêu biểu:
+ Trước cách mạng: Tâm hồn tôi (1937), Lỡ bước sang ngang (1940), Hương cố nhân (1941), Mười hai bến nước (1942),…
+ Sau cách mạng: Ông lão mài gươm (1947), Gửi người vợ miền Nam (1955), Tiếng trống đêm xuân (truyện thơ-1958), Cô Son (chèo-1961),…
2. Sự nghiệp sáng tác.
II. Tác phẩm-Tương tư.
* - Xuất xứ: trích từ tập “Lỡ bước sang ngang”.
- Thể thơ: thơ lục bát.
- Đề tài: viết về tình yêu đôi lứa.
- Chủ đề: bài thơ giãi bày nỗi lòng một cách chân thực tinh tế của một chàng trai thôn quê
- Bố cục: 3 phần.
+ Phần 1: 4 câu thơ đầu: khởi nguồn cho tâm trạng tương tư.
+ Phần 2: 12 câu tiếp theo: giãi bày tâm sự tương tư.
  + Phần 3: còn lại: ước mơ muôn đời của tình yêu đôi lứa.
1.    Khởi nguồn cho tâm trạng tương tư.
-Mở đầu bài thơ bằng hình ảnh hóa dụ “ thôn Đoài, thôn Đông” -> Ám chỉ đôi trai gái, hình ảnh mang dám dấp đồng quê mộc mạc.
“Một người chín nhớ mười mong một người”
-Điệp từ “ một người” diễn tả sự xa cách nhớ mong.
-Thành ngữ “chín nhớ mười mong”: sự mong nhớ da diết, bệnh nhớ thương của một người dành cho một người.
“Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.”
-Sự liên tưởng độc đáo, bất ngờ. Nhà thơ sử dụng những hiện tượng vốn có của thiên nhiên để nói lên quy luật tất yếu của tình yêu.
=>Bốn câu thơ đầu nhà thơ nói lên giới thiệu lên nhân vật trữ tình và căn bệnh tương tư. Nó là một căn bệnh tự nhiên như chuyện nắng mưa của trời. Nhân vật trữ tình là chàng trai thôn Đoài hay chính nhà thơ?




2.  Sự giãi bày tâm sự về căn bệnh tương tư


“Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?”
-Nhân vật trữ tình mang một nỗi buồn băn khoăn thắc mắc.
-Từ ngữ chỉ số đếm: hai, một.
-”Hai thôn-một làng”, “bên ấy-bên này”, tuy hai mà một, tuy riêng mà chung tuy xa mà gần.
-Câu hỏi tu từ như lời trách móc nhẹ nhàng. =>Tình cảm nồng thắm của chàng trai dành cho cô gái.
“Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.”
-Từ “ngày” được lặp lại ba lần kết hợp với từ “qua” để diễn tả nỗi buồn triền miên giằng giặc từ ngày này qua ngày khác mãi không dứt.
-Cách diễn tả lá xanh chuyển thành lá vàng -> vừa diễn tả được thời gian vừa diễn tả được tâm trạng. Thời gian luân hồi ngày qua ngày, một khắc trôi qua dài tựa ba thu, tâm trạng nhớ nhung mong đợi thành ra thấy thời gian trôi qua rất nhanh.
 -Chàng trai trách móc buồn tủi rồi tự bâng khuâng trách móc, dày vò mình.
“Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành.
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…”
+Hình ảnh: “cách trở đò giang”: tự lí giải, tự an ủi bản thân mình.
+Hình ảnh: “cách một đầu đình” >< “tình xa xôi”: tâm trạng giận hờn
trách móc đau khổ. Không gian cách nhau chỉ có một đầu đình mà sao xa xôi quá. Chàng càng thấy băn khoăn thì lại càng thấy buồn tủi.
“Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?”
-Sự mong đợi khát vọng đến bao giờ thì mới gặp được người mình yêu như bến gặp đò, hoa khuê các gặp bướm giang hồ -> những hình ảnh rất chân quê.
-Tác giả sử dụng lối nói ước lệ, ẩn dụ trong ca dao và trong thơ truyền thống.
=> Đoạn thơ diễn tả nỗi niềm ước mong khát vọng về tình yêu hạnh phúc đôi lứa, chàng trai tương tư nhớ người yêu đó là một tình cảm hết sức thiêng liêng và đẹp đẽ.
3.    Ước mơ muôn đời của hạnh phúc đôi lứa.
“Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phong.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”
-Có một giàn giầu, có một hàng cau, nhà anh, nhà em: thể hiện sư đơn côi, lẻ bóng. Cả anh và em vẫn đang trong trạng thái đôi nơi, vẫn xa xôi cách trở quá chừng.
-Hình ảnh: “Giầu-cau” : biểu tượng cưới hỏi, biểu hiện kết thúc tốt đẹp nhất của một tình yêu.
-Hình ảnh nhân hóa: “Cau” nhớ “giầu”: Trong nỗi nhớ ấy là ước mơ muôn thủa của tình yêu. Ước mơ được hợp nhất với người mình yêu.
- Cấu trúc song hành gợi tả mối quan hệ gắn bó với đôi trai gái trong một tình yêu đẹp.
III. Tổng kết.
-Nhận xét chung về bài thơ: Giữa phong trào thơ mới rộn ràng, Nguyễn Bính luôn giữ riêng cho mình một lối thơ không tàu mà cũng không tây, mang đậm hồn dân tộc, mộc mạc quê hương, đó là tất cả cái đặc sắc của thơ Nguyễn Bính. Và có thể xem "Tương tư" của Nguyễn Bính là một trong số những bài ca dao hay nhất nói về tình yêu. Bởi vậy giá trị của nó vẫn sống mãi cho đến ngày nay. Và giáo sư Hà Minh Đức đã nhận xét: " “Tương tư” là một khúc ca dân gian có sự tương ứng về ý về lời, mạch thơ mở ra và kết thúc vừa mang tâm trạng cá nhân lại mang tình cảm và tâm lí cộng đồng của làng quê trong sinh hoạt đời thường.“
-Nghệ thuật:
+Ngôn ngữ thơ giản dị, hồn nhiên, dân dã nhưng vẫn pha chất lãng mạn.
+Giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết, chân thành.
+Sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ-hoán dụ- ước lệ một cách đặc sắc và sáng tạo.
+Sử dụng nhiều cặp hình tượng trưng cho hạnh phúc lứa đôi.
+Âm điệu lục bát trong bài thơ được vận dụng một cách chậm rãi, rất phù hợp với trạng thái tình cảm của một chàng trai đang yêu.

Cảm ơn cô và các bạn đã chú ý theo dõi.