VIỆT BẮC
(Phần II : Tác phẩm)
(TỐ HỮU)
I. Tìm hiểu chung:
1. Hoàn cảnh sáng tác:
- Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết. Hòa bình lập lại ở miền Bắc.
- Tháng 10 - 1954, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội để tiếp tục lãnh đạo cách mạng.
- Nhân sự kiện thời sự trọng đại này, Tố Hữu viết bài thơ "Việt Bắc" để thể hiện tình nghĩa sâu nặng của những người cán bộ, chiến sĩ về xuôi với quê hương cách mạng.
2. Kết cấu chung của bài thơ:
- Toàn bộ bài thơ gồm 150 câu thơ lục bát và được chia làm hai phần:
+ 90 câu đầu:
Tình cảm thủy chung son sắt của những người cán bộ về xuôi với quê hương cách mạng thông qua nỗi nhớ da diết.
+ 60 câu sau:
Sự gắn bó giữa miền ngược với miền xuôi và ước mơ về một Việt Bắc sẽ được xây dựng trong tương lai.
Hát giao duyên
"Mình về ta chẳng cho về - Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ"
- Bài thơ được viết theo kiểu đối đáp nam - nữ, phỏng theo lối hát giao duyên của dân ca.
3. Vị trí đoạn trích:
Thuộc 90 câu đầu của bài thơ.
II. Đọc - hiểu văn bản :
1. Tâm trạng của người ở lại
1.1. Đoạn thơ đầu
“Mình về, ….
… nhớ nguồn”
+ Kiểu xưng hô mình – ta : ngọt ngào, đầy yêu thương.
+ Điệp ngữ: “Mình về, mình có nhớ…” kết hợp câu hỏi tu từ gợi âm điệu day dứt, băn khoăn, đầy lưu luyến
+ “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”: "mười lăm năm" (1941 – 1954) người ở lại gợi nhắc thời gian gắn bó, cùng sẻ chia mọi cay đắng ngọt bùi với biết bao kỉ niệm ân tình với người ra đi
+ Những hình ảnh “cây – núi, sông – nguồn”: tiêu biểu cho không gian đặc trưng của Việt Bắc – cái nôi của cách mạng, nuôi dưỡng người cán bộ.
1.2. Đoạn thơ thứ hai:
“Mình đi ….
mái đình cây đa”
+ Với nhiều câu hỏi liên tiếp:
“Mình đi, có nhớ…, Mình về, có nhớ…, Mình về, còn nhớ…, Mình đi, mình có nhớ…”
Là cảm xúc dâng trào, diễn tả nỗi niềm day dứt khôn nguôi của người ở lại.
+ Phép liệt kê những hình ảnh: núi non, lau xám, mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào…nhằm nhắn nhủ người ra đi có nhớ Việt Bắc, có nhớ những ngày kháng chiến gian khổ và có nhớ chính mình trong những ngày chia ngọt sẻ bùi nơi chiến khu.
=> Tình cảm chân thành, sâu sắc của đồng bào Việt Bắc.
2. Tâm trạng của người ra đi

2.1. Đoạn thơ thứ hai
“Tiếng ai …
… hôm nay”
+ Các từ láy “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”: gợi tả chính xác không khí và tâm trạng lúc chia tay.
+ Hình ảnh “áo chàm”: hoán dụ chỉ đồng bào Việt Bắc – những con người giản dị mà nghĩa tình chân thành.
+ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”: dấu chấm lửng cuối câu, nhịp thơ ngắt quãng, ngập ngừng  nỗi niềm đầy xúc động, bâng khuâng của người ra đi.

2.2. Đoạn thơ thứ tư
“Ta với mình….
nghĩa tình bấy nhiêu”
+ Dùng cặp đại từ “mình – ta” kết thúc là “mình đi – nhớ mình” và những hình ảnh so sánh quen thuộc (mặn mà đinh ninh, nguồn bao nhiêu nước..)
 Chuyện ân tình cách mạng được khéo léo thể hiện như tâm trạng của tình yêu đôi lứa.
 Khẳng định tấm lòng thủy chung son sắt với cách mạng của người ra đi
2.3. Vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người Việt Bắc qua hồi tưởng của người cán bộ về xuôi:
2.3.1. Thiên nhiên:
“Nhớ gì….
….đều đều suối xa”
- Điệp từ “nhớ”, “nhớ sao”, “nhớ gì”… xuyên suốt, là hồi ức về những kỉ niệm đẹp về Việt Bắc:
+ Cảnh núi rừng Việt Bắc:
Hiện lên đa dạng, sinh động trong nhiều khoảng không gian và thời gian khác nhau; có những nét riêng biệt, độc đáo, khác hẳn những miền quê khác
+ Nỗi nhớ Việc Bắc được so sánh “như nhớ người yêu”
 nỗi nhớ cháy bỏng, da diết, mãnh liệt.
+ Điệp từ “nhớ” đặt ở đầu câu  như liệt kê ra từng nỗi nhớ cụ thể:
. nhớ ánh nắng ban chiều,
. ánh trăng buổi tối, không gian gợi cảm nên thơ
. những bản làng ẩn hiện trong sương sớm,
những ánh lửa hồng trong đêm khuya,
. những tên núi, tên rừng, tên sông suối, nương rẫy quen thuộc thân yêu
 Cảnh đẹp, có phần hoang sơ nhưng không hiu quạnh mà thơ mộng, ấm áp.
2.3.2. Con người:
Trong nỗi nhớ của nhà thơ, đồng bào Việt Bắc hiện lên với những phẩm chất cao đẹp:
- Họ gắn bó với cách mạng cùng “mối thù nặng vai”, cùng chia sẻ đắng cay ngọt bùi với cách mạng:
“Ta đi ta nhớ … … đắp cùng”
- Tuy họ nghèo về vật chất nhưng “đậm đà lòng son", giàu về tình nghĩa, cần cù, chắt chiu, tần tảo
“Nhớ người mẹ … … bắp ngô”
- Họ lạc quan yêu đời, gắn bó cùng kháng chiến dù còn nhiều gian khổ, thiếu thốn:
“Nhớ sao……núi đèo”
- Cuộc sống của đồng bào Việt Bắc: êm ả, bình dị, tiếng chày hòa trong tiếng suối xa:
“Nhớ sao tiếng mõ……suối xa”
=> Con người Việt Bắc nghèo khổ nhưng cần cù, thủy chung và sâu nặng ân tình.
2.3.3. Bộ tranh tứ bình: Cảnh thiên nhiên và con người hòa quyện thắm thiết:
“Ta về… thuỷ chung”.
- Hai câu đầu đoạn thơ, tác giả giới thiệu chung về cảm xúc:
+ Câu hỏi tu từ "Ta về mình có nhớ ta?"
 là cái cớ để người ra đi bày tỏ tấm lòng mình: "Ta về … cùng người"
+ Hình ảnh "hoa cùng người"
 gợi lên sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người trong bức tranh quê hương Việt Bắc.
- Tám câu sau: bức tranh cụ thể của quê hương Việt Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi:
+ Cảnh và người: có sự hòa quyện bởi cách sắp xếp độc đáo theo lối xen kẽ: câu lục tả cảnh, câu bát tả người.
+ Thiên nhiên Việt Bắc: được miêu tả diễn biến theo bốn mùa, mỗi mùa có nét đặc trưng riêng, tạo nên một bức tranh tứ bình rất đẹp
* Mùa đông: “Rừng xanh … thắt lưng”
Trên nền xanh bạt ngàn của núi rừng Việt Bắc, xuất hiện hoa chuối "đỏ tươi" như những ngọn lửa thắp sáng rừng xanh.
 Sự đối chọi hai màu xanh– đỏ làm trẻ lại màu xanh trầm tịch của rừng già và xua tan đi cái lạnh lẽo của mùa đông vùng cao.
Hình ảnh "dao gài thắt lưng" phản quang "ánh nắng"
 Rất gợi cảm, tạo thành điểm sáng khiến con người trở thành trung tâm của bức tranh.
* Mùa xuân: “Ngày xuân …sợi giang”

+ Chữ "trắng": gợi lên một sắc trắng tinh khiết, mênh mang  sức xuân ngập tràn đất trời núi rừng Việt Bắc.
+ Nhớ người thợ đan nón "chuốt từng sợi giang"
 Động từ "chuốt": vừa gợi lên sự khéo léo, kiên nhẫn, tỉ mỉ của con người Việt Bắc.
* Mùa hạ: “Ve kêu .... một mình”
+ Nhớ Việt Bắc mùa hè: là nhớ tiếng ve râm ran làm nên khúc nhạc rừng sôi động, nhớ màu vàng của “rừng phách đổ vàng”
 Người đọc có cảm giác dường như tiếng ve đã thúc giục ngày hè trôi nhanh, làm cho rừng phách thêm vàng.
+ Hình ảnh cô thiếu nữ đi "hái măng một mình" : không hề lẻ loi, cô đơn mà chịu khó tận tụy với công việc.
* Mùa thu Việt Bắc: không kém phần nên thơ:
“Rừng thu…
…thủy chung”
+ Nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa rừng thu. Trăng "rọi" qua tán lá rừng xanh  gợi lên cảnh sống yên ả, "hoà bình”, nên thơ.
+ Nhớ con người Việt Bắc luôn lạc quan, họ ca hát về mối ân tình thuỷ chung với cách mạng.
=> Với kết cấu đan xen, đoạn thơ làm nổi bật vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người:
+ Thiên nhiên Việt Bắc: tươi đẹp, con người Việt Bắc: bình dị, chịu thương chịu khó, đầy nghĩa tình.
+ Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình, những con người Việt Bắc đã góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến.
2.4. Hồi tưởng của người ra đi về khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến:
2.4.1. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu:
- Kỉ niệm về những cuộc hành quân ra trận thật hùng vĩ của bộ đội và nhân dân:
“Những đường Việt Bắc của ta

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”.
+ Từ láy tượng thanh "rầm rập":
 diễn tả tiếng bước chân mạnh mẽ, gợi lên nhịp độ khẩn trương, gấp gáp của số lượng người đông đảo cùng hành quân  Sức mạnh tổng hợp làm rung chuyển mặt đất.
+ Hình ảnh bộ đội ta hành quân ra trận:
"Quân đi … … mũ nan"
. Từ láy "điệp điệp trùng trùng":
 khắc họa đoàn quân đông đảo bước đi mạnh mẽ như những đợt sóng dâng trào, vô tận.
+ Hình ảnh ẩn dụ: "ánh sao đầu súng"
 ánh sao của lí tưởng dẫn đường cho người chiến sĩ đánh đuổi kẻ thù xâm lược
 thể hiện niềm tin lạc quan chiến thắng trong tâm hồn người lính ra trận.
+ Cùng hành quân với bộ đội là những đoàn dân công phục vụ chiến đấu: "Dân công …lửa bay"
+ Hình ảnh cường điệu:
"bước chân nát đá"
 khẳng định ý chí phi thường, sức mạnh to lớn của nhân dân trong kháng chiến.
+ Niềm lạc quan tin tưởng vững chắc:
"Nghìn đêm …… ngày mai lên"

 Bóng đêm đen tối thăm thẳm (gợi kiếp sống nô lệ của dân tộc dưới ách đô hộ của kẻ thù) >< ánh sáng của niềm tin vào ngày mai chiến thắng huy hoàng, tốt đẹp.
=> Đoạn thơ vừa đậm chất sử thi vừa giàu tính lãng mạn  Khắc họa sâu sắc cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, đầy gian khổ hi sinh nhưng nhất định thắng lợi của dân tộc.
- Tố Hữu còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức mạnh dẫn tới chiến thắng:
+ Sức mạnh của lòng căm thù:
“Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”
+ Sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung:
“Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi”
+ Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân:
“Nhớ khi giặc… một lòng”
+ Đánh giặc ngay tại chỗ (“Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây”),
+ Dựa vào rừng núi để đánh giặc (“Núi giăng … vây quân thù”),
+ Quân dân đoàn kết (“Đất trời ta cả chiến khu một lòng”)
 tất cả tạo thành hình ảnh đất nước đứng lên
2.4.2. Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến:
“Mình về, có nhớ ….,
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.”
+ Giọng thơ trang trọng mà thiết tha: nhấn mạnh, khẳng định  Việt Bắc là quê hương của cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, nơi khai sinh những địa danh mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc.
+ Việt Bắc còn là trái tim, đầu não của cuộc kháng chiến, là nơi các chủ trương của Đảng và Chính phủ toả đi khắp nước, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng:
Điều quân… các khu…”
1950 - Bác ở chiến khu Việt Bắc
+ Việt Bắc là niềm tin, là hi vọng, niềm mong đợi của cả dân tộc
“Ở đâu u ám quân thù,

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền”
 Những vần thơ mộc mạc, giản dị mà thắm thiết nghĩa tình: khẳng định niềm tin yêu của cả nước đối với Việt Bắc là vô bờ.
3. Nghệ thuật đậm đà tính dân tộc:
a. Về thể loại:
- Sử dụng thể thơ: lục bát, một thể thơ truyền thống mang vẻ đẹp cổ điển.
- Cấu tứ bài thơ: là cấu tứ ca dao với lối đối đáp của hai nhân vật trữ tình “: "mình" - "ta".
- Sử dụng hình thức tiểu đối của ca dao: vừa nhấn mạnh ý vừa tạo ra nhịp thơ cân xứng, uyển chuyển, làm cho lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, thấm sâu vào tâm tư:
+ “Nhìn cây nhớ núi/nhìn sông nhớ nguồn”
+ “Bâng khuâng trong dạ / bồn chồn bước đi”
+ “Trám bùi để rụng,/ măng mai để già”
+ “Nông thôn phát động,/ giao thông mở đường.”
b. Về ngôn ngữ:
- Sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân: rất giản dị, mộc mạc nhưng cũng rất sinh động
 Tái hiện một thời cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào nghĩa tình.
+ Đó là thứ ngôn ngữ rất giàu hình ảnh cụ thể:
“Nghìn đêm thăm thẳm sương dày”
“Nắng trưa rực rỡ sao vàng”
+ Cũng là thứ ngôn ngữ giàu nhạc điệu:
“Chày đêm nện cối đều đều suối xa”
“Đêm đêm rầm rập như là đất rung”
- Sử dụng nhuần nhuyễn phép trùng điệp của ngôn ngữ dân gian:
+ “Mình về, mình có nhớ ta”
“Mình về, có nhớ chiến khu”
+ “Nhớ sao lớp học i tờ”
“Nhớ sao ngày tháng cơ quan”
“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều”
 tạo giọng điệu trữ tình tha thiết, ngọt ngào, như đưa ta vào thế giới của kỷ niệm và tình nghĩa thuỷ chung.
III. Tổng kết:
GHI NHỚ ( SGK)
nguon VI OLET