Những kiến thức xoay quanh khí hậu,địa lý,thời tiết

đề thi Sưu tầm
  Đánh giá    Viết đánh giá
 157       1      0
Phí: Tải Miễn phí(FREE download)
Mã tài liệu
cr82xq
Danh mục
Thư viện Đề thi & Kiểm tra
Thể loại
Ngày đăng
4/16/2012 6:16:18 PM
Loại file
doc
Dung lượng
2.14 M
Lần xem
1
Lần tải
157
File đã kiểm duyệt an toàn

Thư viện địa lý Việt Nam KIẾN THỨC KHÍ HẬU,ĐỊA LÝ,THỜI TIẾT Chủ biên và biên tập:Hà Triệu Huy CHƯƠNG I:KHÍ HẬU KHÍ HẬU CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 1.Khí hậu Canada Khí hậu Canada đặc trưng bởi tính đa dạng,xem chi tiết và tải về Đề thi Những kiến thức xoay quanh khí hậu,địa lý,thời tiết, Đề Thi Sưu Tầm , Đề thi Những kiến thức xoay quanh khí hậu,địa lý,thời tiết, doc, 1 trang, 2.14 M, Sưu tầm chia sẽ bởi Huy Hà Triệu đã có 157 download

Đây là đoạn mẫu , hãy download về để xem đầy đủ, hoàn toàn miễn phí 100%

Thư viện địa lý Việt Nam
 
 
 
 
 
 
KIẾN THỨC KHÍ HẬU,ĐỊA LÝ,THỜI TIẾT
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Chủ biên và biên tập:Hà Triệu Huy
 
 
CHƯƠNG I:KHÍ HẬU
 
 
 
KHÍ HẬU CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
 
 
1.Khí hậu Canada
Khí hậu Canada đặc trưng bởi tính đa dạng: nhiệt độ và lượng mưa tùy thuộc vào từng miền và mùa. Đa phần Canada có 4 mùa rõ rệt: Xuân, hạ, thu và đông. Nhiệt độ và thời tiết trong mỗi mùa của các miền cũng có thể khác nhau.
Mùa xuân: là mùa mưa ở phần lớn các miền của Canada. Nhiệt độ ban ngày tăng đều đặn nhưng ban đêm thì khá mát mẻ. Nhiệt độ ban ngày bình quân của tháng ba, tháng tư và đầu tháng năm là 12 C.
Mùa hạ: chính thức bắt đầu từ ngày 21 tháng sáu, nhưng đối với đa số người dân Canada thì tháng bảy và tháng tám mới là mùa hạ. Trong mùa hạ, thời tiết ấm ở phần lớn đất nước. Ở miền Nam Canada, nhiệt độ ban ngày thường cao hơn 20 C và đôi khi là cao hơn 30 C.
Mùa thu: hay còn gọi là mùa lá rụng, bắt đầu từ tháng chin. Thời tiết mát mẻ và lá của nhiều loại cây đổi màu và rụng. Trời có thể mưa vào thời gian này của năm. Ở một số miền của Canada, nhất là miền Bắc và miền núi, tuyết có thể rơi vào tháng mười. Ở phần lớn đất nước, nhiệt độ ban ngày trung bình là khoảng  10  C đến 12 C. Những tháng mùa thu là tháng chín, tháng mười và tháng mười một.
Mùa đông: trong những tháng mùa đông( tháng mười hai, tháng một và tháng hai), nhiệt độ ở phần lớn các miền của đất nước thường thấp hơn 0  C, cả ngày và đêm. Ở một số nơi, nhiệt độ giảm theo chu kỳ, xuống thấp hơn -25  C, nhưng ở bờ biển phía tây( vWest coast), nhiệt độ ít khi thấp hơn 0  C. Ở phần lớn Canada, tuyết phủ từ tháng mười hai tới giữa tháng ba. Ở các vùng càng cao và càng về phía Bắc, mùa đông càng dài và lạnh.
 
 
 
 
2.Khí hậu Mỹ (Hoa Kỳ)
Về nhiều phương diện thì Hoa Kỳ được hình thành thông qua từ sự mở rộng đường biên. Sự mở rộng về phía tây vẫn còn là một phần của lịch sử nước Mỹ hiện nay, và có rất nhiều người còn sống vẫn nhớ về những ngày đầu định cư của người dân Mỹ, về những cuộc đấu tranh anh dũng thường xuyên của họ với mảnh đất này.Ngày nay, đường biên giới của nước Mỹ đã không còn là vấn đề lớn nữa. Mặc dù có thể nói rằng loài người có đủ mọi phương tiện kỹ thuật để sống ở bất cứ nơi đâu trên bề mặt trái đất, nhưng những vùng đất của Hoa Kỳ, nơi mà người ta có thể chiếm lĩnh bằng những nỗ lực kinh tế và sức lực khiêm tốn, đều đã được chiếm lĩnh hết.Kéo dài về phía nam cũng như về phía bắc các bang thuộc Hồ Lớn (Great Lakes), bao gồm cả một phần lãnh thổ cạnh đường biên giới Canada, cũng như một phần của Alaska, Northlands (bản đồ 15) rất thưa thớt các khu định cư. Tính chất không thuận tiện cho cuộc sống của môi trường thiên nhiên cộng với cư dân ít ỏi đã tạo cho Northlands một đặc tính riêng biệt.Môi trường khắc nghiệtNếu như yêu cầu người Mỹ mô tả Vùng đất phía Bắc thì có lẽ tính từ được sử dụng nhiều nhất sẽ là “lạnh”. Nhiệt độ trung bình vào tháng Giêng từ khoảng -70C dọc theo những rìa phía nam Great Lakes tới -400C tại một số vùng thuộc Alaska. Nhiệt độ đôi khi có thể đạt tới mức - 600C.Không chỉ nhiệt độ mùa đông rất thấp trên hầu hết những khu vực trong vùng, mà mùa đông còn rất dài. Thời gian trung bình từ đợt sương giá cuối cùng vào mùa xuân và lần sương giá đầu tiên của mùa thu thường là 135 ngày tại vùng cận biên phía nam nhưng chỉ có hơn 14 ngày dọc theo những vùng đất ven Bắc Băng Dương. Do tất cả các loại cây lương thực đều cần một mùa sinh trưởng dài hơn 90 ngày nên chúng chỉ có thể được trồng tại một số rất ít các vùng đất nhỏ dọc theo những giới hạn phía nam.
 Mùa hè nói chung ngắn và mát mẻ, tuy nhiên đôi khi lại có những ngày ấm áp một cách đáng ngạc nhiên. Khí hậu ôn hòa của biển chỉ rõ nét tại những vùng ngoại vi, chủ yếu ở phía đông và phía tây.Sự khác biệt rõ rệt về nhiệt độ theo mùa bắt nguồn từ sự thay đổi quá lớn về độ dài của ngày và góc tới của tia sáng mặt trời. Do Trái đất quay theo lộ trình hàng năm xung quanh mặt trời nên Cực Bắc nghiêng về phía mặt trời trong thời gian được coi là mùa hè ở Mỹ và khuất bóng khỏi những tia sáng mặt trời trong thời gian mùa đông. Như vậy, tất cả những khu vực thuộc phía bắc của Vòng Bắc cực nằm trong bóng đêm ít nhất một ngày vào giữa mùa đông và ít nhất một ngày vào giữa mùa hè không có hoàng hôn. Ngoài ra, trong suốt mùa đông, mặt trời khi lên cũng chỉ thấp sát đường chân trời. Thậm chí cả những khu vực miền nam của vùng này cũng chỉ nhận được sáu tới bảy tiếng đồng hồ ánh sáng ban ngày trong mùa đông.Lượng mưa rất khác biệt trong khắp các vùng đất thuộc Northlands. Mức cao nhất là ở vùng đông nam xa xôi, nơi mà các chế độ bão cả mùa đông lẫn mùa hè đổ xuống nhiều hơn lượng mưa hàng năm của bờ biển phía nam La
ador 100 cm. Lượng mưa tập trung chủ yếu về khu vực nội địa và phía bắc.Mặc dù lượng mưa ít ỏi, rất ít vùng đất tại Northlands mang diện mạo của một môi trường khô hạn. Thực tế, vào mùa hè phần nhiều vùng này được bao phủ bởi nước đọng. Một phần điều này là do mức độ bốc hơi và chuyển hóa hơi nước rất thấp trong khí hậu lạnh ở đây. Tại các phần phía bắc của khu vực, tình trạng nước đọng còn được hỗ trợ bởi sự tồn tại của băng giá vĩnh viễn trên một diện rộng - một lớp kề mặt đất đóng băng vĩnh viễn thường có độ dày 100 mét và đôi khi sâu xuống phía dưới đến 300 mét. Tại những vùng ấm áp hơn, đất đóng băng vĩnh viễn không nối tiếp nhau liên tục, các vùng đất đóng băng xen lẫn với đất không đóng băng. Do trong mùa hè ngắn ngủi lớp đất đóng băng tan ra với bề dầy khoảng 1 mét nên nước được giữ lại trên bề mặt của lớp đất đóng băng dưới đó, tạo ra một mặt đất bùn lầy và ẩm ướt.
 
 
3.Khí hậu Mexico
Có thể nói, đường chí tuyến bắc đã phân chia lãnh thổ México thành hai vùng khí hậu riêng biệt: nửa phía bắc chí tuyến có khí hậu ôn hòa còn nửa phía nam chí tuyến thì có điều kiện khí hậu phụ thuộc nhiều vào độ cao. México là một đất nước có nhiều núi non trùng điệp và điều này đã khiến cho México trở thành một trong những quốc gia có hệ thống khí hậu đa dạng nhất trên thế giới.
Ở nửa phía nam của đường chí tuyến, tại những vùng có độ cao không vượt quá 1000 m thì có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm quanh năm, với nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 24° - 28 °C, chênh lệch nhiệt độ giữa mùa hè và mùa đông không quá lớn, chỉ khoảng 5 °C. Trong khi đó, những vùng ở phía bắc đường chí tuyến của México thì có nhiệt độ trung bình năm thấp hơn, vào khoảng 20° - 24 °C với mùa hè nóng ẩm còn mùa đông thì lạnh và khô.
Thung lũng México nằm ở phía nam đường chí tuyến là một khu vực tập trung nhiều khu vực đô thị lớn của đất nước, trong đó có thành phố Mexico. Khu vực này nằm ở độ cao trên 2000 m nên nhìn chung có khí hậu ôn hòa tương đối dễ chịu, nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 16° - 18 °C.
Nhiều vùng đất ở Mexico, đặc biệt là tại phía bắc đường chí tuyến thường có rất ít mưa, tạo nên một số vùng hoang mạc lớn tại đất nước này. Trong khi đó miền nam México (đặc biệt là những vùng đồng bằng duyên hải như bán đảo Yucatan) thì lượng mưa thường đạt trên 2000 mm/năm.
 
 
 
 
4.Khí hậu Chile
Chile nằm hoàn toàn trong vùng khí hậu Ôn đới nhưng cũng có nơi nóng đến 43 độ và rét đến -40 độ. Năm nóng nhất là năm 2001. (45 độ).
Khí hậu Miền Bắc
Do có địa hình thẳng đứng, trải dài từ bắc xuống nam nên khí hậu Ở Chile rất đa dạng. Phía Bắc Chile có một sa mạc khô hạn nhất thế giới là Atacama, một số khu vực nơi đây hầu như chưa bao giờ có mưa. Nhiệt độ ngày và đêm khác nhau rõ rệt.
Khí hậu Miền Trung 
Khu vực đường bờ biển có khí hậu ôn đới quanh năm. Trong khi đó, ở khu vực đồng bằng trên vùng cao phía Bắc miền Trung, nhiệt độ mùa hè trung bình Ở mức 260 c vào ban ngày và có thể xuống thấp tới tận 130C vào ban đêm. Khí hậu Ở miền Trung là khí hậu cận nhiệt đới địa trung hải rất đa dạng, với mùa hè khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ cao nhất là 30-330C. Mùa đông ngắn, ít mưa, nhiệt độ cao nhất là 10 –150C, nhiệt độ thấp nhất là dưới 00C.
Khí hậu Miền Nam
Miền Nam Bio Bio có mưa thường xuyên trong năm. Nhiệt độ không khác biệt nhiều giữa thời gian ban ngày và ban đêm. Tuy nhiên, ở Patagonia. khu vực cận nam, có thời tiết đa dạng hơn, thường xuyên ẩm ướt, lạnh và có gió.
Khí hậu Khu vực đảo
Thời tiết Ở đảo Easter và đảo Robinson Crusoe khá dễ chịu trong suốt cả năm.
 
 
 
 
 
 
5.Khí hậu Brazin
Phần lớn diện tích Brasil nằm trong khoảng từ xích đạo cho đến đường chí tuyến nam. Mặc dù 90% lãnh thổ Brasil nằm trong vùng nhiệt đới nhưng giữa vùng này với vùng khác trên đất nước vẫn có những sự khác biệt khá lớn về khí hậu. Từ bắc xuống nam, khí hậu Brasil chuyển dần từ khí hậu nhiệt đới (giữa chí tuyến nam và xích đạo) cho đến khí hậu cận nhiệt tương đối ôn hòa (nằm dưới chí tuyến nam). Brasil có tổng cộng năm dạng khí hậu khác nhau: xích đạo, nhiệt đới, nhiệt đới khô, núi cao và cận nhiệt đới.
Nhiệt độ trung bình năm quanh đường xích đạo khá cao, trung bình đạt khoảng 25 °C[19]. Tuy nhiên trong những ngày nóng bức nhất của mùa hạ, nhiệt độ tại một số vùng của Brasil có thể lên tới 40 °C.Miền nam Brasil có khí hậu tương đối cận nhiệt đới và có thể có sương giá về mùa đông. Tuyết rơi có thể xảy ra ở những vùng núi cao như Rio Grande do Sul hay Santa Catarina. Lượng mưa tại Brasil nhìn chung tương đối cao, khoảng 1000 đến 1500 mm mỗi năm. Mưa tập trung nhiều hơn tại vùng lòng chảo Amazon nóng ẩm ở phía bắc, nơi lượng mưa có thể lên đến 2000 mm mỗi năm hoặc thậm chí cao hơn. Tuy có một lượng mưa hàng năm lớn như vậy song khu vực này cũng có mùa khô, kéo dài từ 3 tháng đến 5 tháng tùy theo vĩ độ.
Do nằm tại Nam bán cầu nên thời gian các mùa trong năm tại Brasil ngược lại so với các nước Bắc bán cầu. Mùa hạ ở đây kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4, còn mùa đông lại nằm trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 11. Trên thực tế, ở những vùng nằm gần xích đạo, sự chênh lệch về mùa gần như không đáng kể với khí hậu nóng ẩm quanh năm, trong khi những vùng có khí hậu nhiệt đới thường chỉ có mùa mưa và mùa khô. Tại vùng có khí hậu cận nhiệt ở phía nam, thời tiết chia ra đủ 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Brasil cũng thường phải hứng chịu những trận bão lớn từ Đại Tây Dương đổ vào.
 
 
6.Khí hậu Nam Phi
Nam Phi là đất nước nằm ở phần mũi phía Nam của lục địa châu Phi, với một đường bờ biển dài hơn 2500 kilometres (1.550 dặm) chạy qua hai đại dương (Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương). Với tổng diện tích là 1.219.912 km² (470 979 mi²)[8] Nam Phi là nước lớn thứ 25 trên thế giới (sau Mali). Nước này có kích thước tương đương Colombia. Njesuthi tại Drakensberg với độ cao 3 408 m (11.424 ft) là đỉnh cao nhất Nam Phi. Nam Phi giáp biên giới với Botswana - 1.840 km, Lesotho - 909 km, Mozambique - 491 km, Namibia - 967 km, Swaziland - 430 km, và Zimbabwe - 225 km. Nó có bờ biển dài 2.798 km.
Trái ngược với quan niệm thông thường của mọi người, Nam Phi có khí hậu nói chung ôn hòa, một phần nhờ nó được bao quan bởi Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương ở ba phía, nhờ vị trí nằm tại bán cầu nam với thời tiết dịu hơn, và nhờ độ cao tăng dần về phía bắc (về hướng xích đạo) và trong lục địa. Vì những ảnh hưởng địa hình và hải dương này, Nam Phi có nhiều khu vực khí hậu.
Các vùng khí hậu khá khác biệt, từ xa mạc khô cằn phía nam Namib tại cực tây bắc tới kiểu khí hậu cận nhiệt đới tươi tốt ở phía đông dọc biên giới với Mozambique và Ấn Độ Dương. Từ phía đông, địa hình nhanh chóng chuyển thành núi non dựng đứng về hướng cao nguyên nội địa được gọi là Thảo nguyên cao. Thậm chí Nam Phi bị xếp hàng là bán khô cằn, có khá nhiều khác biệt về khí hậu cũng như địa hình.
Nội địa Nam Phi là một vùng cao nguyên đất sét bụi rậm rộng lớn, phẳng và dân cư thưa thớt, khí hậu khô hơn về hướng tây bắc dọc theo xa mạc Namib. Trái lại, ở bờ biển phía đông là vùng đất với cây cối tươi tốt, nhiều nước với kiểu khí hậu nhiệt đới. Cực tây nam có khí hậu rất giống với kiểu khí hậu Địa Trung Hải với mùa đông ẩm và mùa hè khô, là nơi có Quần xã sinh vật Fynbos nổi tiếng. Khu vực này cũng là nơi sản xuất ra đa số các loại rượu Nam Phi. Vùng này cũng nổi tiếng vì loại gió tại đó, thổi không liên tục suốt năm. Sự dữ dội của loại gió này khiến việc đi ngang qua Mũi Hảo Vọng trở nên đặc biệt khó khăn cho các thủy thủ, gây ra nhiều vụ đắm tàu. Xa hơn về phía đông của bờ biển phía nam đất nước, lượng mưa được phân bố đồng đều suốt năm khiến phong cảnh xanh tươi. Vùng này thường được gọi là Garden Route.
Bang Free đặc biệt phẳng nhờ nó nằm trên cao nguyên. Phía bắc Sông Vaal, Thảo nguyên cao được cung cấp nhiều nước hơn và không có kiểu thời tiết đặc biệt nóng cận nhiệt đới. Johannesburg, tại trung tâm Thảo nguyên cao, ở độ cao 1740 mét (5.709 ft) và có lượng mưa trung bình hàng năm 760 milimét (30 in). Mùa đông tại vùng này lạnh, dù tuyết khá hiếm.
Tới phía bắc Johannesburg, độ cao giảm về hướng vách đứng Thảo nguyên cao, và chuyển về hướng Thảo nguyên cây bụi thấp hơn, một vùng pha trộn giữa những khu rừng khô và phong phú về động thực vật hoang dã. Phía đông Thảo nguyên cao, về hướng vách đứng phía đông, Thảo nguyên thấp trải dài về phía Ấn Độ Dương. Vùng này có nhiệt độ đặc biệt cao, và cũng là nơi thuận lợi cho canh tác nông nghiệp cận nhiệt đới. Các dãy núi Ba
erton dải Greenstone tại thảo nguyên thấp là những dãy núi già nhất trên Trái đất, có niên đại từ 3.5 tỷ năm trước. Bằng chứng sớm nhất về cuộc sống (có niên đại 3.2 - 3.5 triệu năm) đã được tìm thấy tại những dãy núi này.
Dãy núi cao Drakensberg, hình thành nên dốc đứng đông nam Thảo nguyên cao, là nơi có thể tổ chức môn trượt tuyết vào mùa đông. Nhiều người cho rằng địa điểm lạnh nhất Nam Phi là Sutherland ở phía tây Núi Roggeveld, nơi nhiệt độ vào giữa mùa đông có thể xuống tới −15 độ C (5 °F). Trên thực tế, nơi lạnh nhất là Buffelsfontein, tại quận Molteno thuộc Đông Cape. Buffelsfontein đã ghi nhận nhiệt độ −18.6 độ C (-1.5 °F).[9] Vùng sâu trong nội địa có thời tiết nóng nhất: nhiệt độ 51.7 °C (125 °F) đã được ghi lại năm 1948 tại Bắc Cape Kalahari gần Upington.[10]
Nam Phi cũng có một quần đảo cận Nam Cực nhỏ là Quần đảo Hoàng tử Edward, gồm Đảo Marion (290 km²/112 mi²) và Đảo Hoàng tử Edward (45 km²/17.3 mi²) (không nên nhầm với một tỉnh trùng tên của Canada).
 
 
 
 
 
 
7.Khí hậu Angola
Luanda có thể chia làm hai phần (Hạ Luanda) và (Thượng Luanda). Hạ Luanda nằm ngay cạnh hải cảng, là phần thành phố cũ với những di tích lịch sử từ thời thuộc địa. Còn phần Thượng Luanda thì mới được xây dựng trong nội địa với những công trình kiến trúc mới.
Thành phố có các trường đại học: Đại học Agostinho Neto (1963), Viện Nghiên cứu Giáo dục và Dịch vụ Xã hội (1962) và Bảo tàng Angola (1938).
Nhìn chung khí hậu tại Luanda là nóng và ẩm. Dòng biển lạnh Beneguela ngoài khơi Đại Tây Dương đã ngăn cản hơi ẩm từ biển ngưng tụ thành mưa mà chỉ có những đám sương mù thường xuyên xuất hiện để ngăn nhiệt độ không xuống quá thấp về ban đêm. Lượng mưa trung bình năm tại Luanda là 323 mm (tương đương 12,7 inch) nhưng không đều giữa các năm, tùy theo cường độ mạnh yếu của dòng biển lạnh. Mùa mưa ngắn tập trung chủ yếu giữa tháng 3 và tháng 4.
 
 
8.Khí hậu Pháp
Pháp, nằm giữa vùng ôn đới vì vậy Pháp được thừa hưởng một nền khí hậu rất ôn hoà với bốn mùa rõ rệt. Mùa đông nhiệt độ trung bình từ 0-80 C, mùa hè nhiệt độ trung bình từ 16-240 C.
Do địa lý mỗi vùng có sự khác nhau vì thế mà khí hậu cũng được phân biệt rất rõ rệt ở mỗi vùng : Khí hậu miền địa trung hải, khí hậu miền đại dương và khí hậu lục địa.
Khu vực Bretagne và khu Normandie chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương ẩm ướt,mưa nhiều, phần lớn là chịu ảnh hưởng của gió tây, mùa đông không lạnh lắm, nhiệt độ trung bình 70 C, mùa hè mát nhiệt độ trung bình là 160 C
Vùng Aquitaine chịu ảnh hưởng của vùng địa trung hải và một phần của đại dương vì vậy mùa xuân thường có mưa nhiều, quanh năm gió mát. Nhiệt độ trung bình thường là 50 C mùa đông và 220 C mùa hè
Khu vực phía Đông và Đông Bắc lại được biết đến khí hậu bán lục địa. Mùa đông ở vùng này rất khắc nghiệt thường có tuyết rơi. Nhiệt độ trung bình vào mùa đông là -10 C. Mùa hè nắng nóng thường có giông. Nhiệt độ trung bình là 190 C
Những hiểu biết về khí hậu và địa lý của từng vùng sẽ giúp bạn có sự  lựa chọn phù hợp trường đại học mà bạn sẽ theo học tại đất nước này. Nhìn chung ở các thành phố lớn, bạn sẽ không bao giờ lo ngại về sự khắc nghiệt của thời tiết vì khí hậu Pháp là nền khí hậu ôn hòa.
 
 
 
9.Khí hậu Anh
Mặc dù Anh quốc nổi tiếng vì cái lạnh, thời tiết hay mưa nhưng khí hậu cũng thay đổi nhanh chóng, có khi ấm áp, thời tiết nắng ấm hay sương mù và thậm chí cả tuyết nữa. Sinh viên quốc tế, những người đã quen với khí hậu nhiệt đới và cận xích đạo,thường rất ngạc nhiên bởi sự đa dạng thời tiết ở Anh. Bạn có thể may mắn khi ở một nơi nào có thể nhìn thấy được cả mưa, tuyết, sấm chớp, mưa đá và nắng ấm áp – chỉ trong một ngày!
Nhìn chung, mùa hè thường rất mát mẻ và mùa đông thì khá dễ chịu. Nhiệt độ hàng ngày và lượng mưa trung bình rất khác nhau giữa các thành phố. Nhìn chung, tháng ấm áp nhất là tháng Bảy, khi mà nhiệt độ trung bình là 16,50C, và tháng lạnh nhất là tháng Giêng, với nhiệt độ trunng bình khoảng 3,80C. Tháng ẩm ướt nhất là tháng Mười Hai, khi lượng mưa trung bình lên tới 78,9mm, và tháng khô nhất là tháng Tư, khi mà lượng mưa chỉ có 54,1 mm.
Miền tây thì ẩm ướt hơn và ấm áp hơn phía đông, và miền bắc thì mát mẻ hơn miền nam. Không có nhiều tuyết ở Anh, trừ phía bắc Scotland. Vì thời tiết ở Anh rất khó đoán trước nên tốt nhất là bạn nên chuẩn bị tinh thần về những thay đổi bất ngờ bằng cách mang theo ô gấp và mặc thêm một lớp quần áo, ví dụ như một chiếc áo len mỏng trong những tháng mùa hè. Và cũng rất thích hợp khi đi giày với đế bằng cao su và một cái đế giày tốt sẽ giúp bạn khỏi bị trượt trên những con đường ướt.
Ban ngày tại miền nam nước Anh kéo dài khoảng 16 tiếng trong tháng Sáu và tháng Bảy, nhưng chỉ có 8 tiếng trong tháng Mười Hai và tháng Một. Sự khác nhau giữa một ngày mùa đông với một ngày mùa hè càng rõ nét hơn ở Scotland vì vùng đó nằm gần xích đạo hơn.
 
 
10.Khí hậu Na Uy
Vương quốc Na Uy nằm ở phía Tây bán đảo Scandinavi, thuộc Tây Nam Châu Âu. Dân cư Na Uy hầu hết tập trung sinh sống tại các vùng ven biển, do vậy ở khu vực này có rất nhiều gió, khí hậu ấm áp và tuyết tan nhanh. Thậm chí ở phía Bắc của vòng Bắc cực, tại các bến cảng, thời tiết đóng băng quanh năm, trong đất liền thời tiết lạnh hơn và tuyết rơi nhiều trong năm. Từ hàng nghìn năm nay, người dân Na Uy thường dùng ván trượt tuyết làm phương tiện đi lại phổ biến nhất. Na Uy có khí hậu ôn hoà với mùa Đông ấm áp và mùa Hè mát mẻ ở khu vực ven biển. Còn các khu vực xa biển có khí hậu lạnh về mùa Đông và mùa Hè nóng. ở vùng cao nguyên thuộc cực Bắc thường có gió mạnh kèm theo tuyết rơi và sương mù dày đặc vào mùa Đông. ở bờ biển phía Tây thường xuyên có mưa to với lượng mưa trung bình hàng năm là 1958mm. Tại Oslo, nhiệt độ trung bình vào khoảng từ –7 độ C đến –2 độ C vào tháng 1, từ 13-22 độ C vào tháng 7.
 
 
 
 
11.Khí hậu Nga
Khí hậu của Nga được hình thành dưới một số yếu tố xác định. Sự khổng lồ của diện tích và sự xa xôi của nhiều vùng, khiến khí hậu lục địa có ưu thế hơn. phổ biến ở cả đất nước Nga, ngoại trừ các vùng lãnh nguyên và cực phía Đông Nam. Các dãy núi phía nam cản trở các luồng không khí từ Ấn Độ Dương; các đồng bằng phía tây và phía bắc khiến đất nước chịu ảnh hưởng của Đại Tây Dương và vùng biển Bắc Cực.Do ảnh hưởng dịu mát của Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, các khu vực đông dân nhất của nước Nga tại châu Âu, phía nam của vùng Tây Siberia và phía nam vùng Viễn Đông của nước Nga, bao gồm các thành phố Moskva, Sankt-Pete
urg có khí hậu lục địa. Hầu hết phần lãnh thổ Nga ở Bắc Âu, phía bắc bán đảo Scandinavi và Thái Bình Dương, có khí hậu cận bắc cực, với một mùa đông cực kỳ khắc nghiệt, bên trong vùng Đông Bắc Siberia, đặc biệt là nước Cộng hòa Sakha thuộc Nga - vị trí có nhiệt độ thấp kỉ lục ( -68 ° C/-90.4 ° F), và nhiều nơi khác tương đối hơn. Những dải đất dọc theo Bắc Băng Dương và các đảo ở phía Bắc có khí hậu vùng cực ( khí hậu cực ở một số hòn đảo và khí hậu lãnh nguyên ở nơi khác). Một phần nhỏ của Biển Đen, đặc biệt tại Sochi lại có một khí hậu cận nhiệt đới với một mùa đông ẩm ướt khác thường. Mùa đông ở đây khô hơn mùa hè tại nhiều khu vực của vùng Đông Siberia và vùng Viễn Đông, ngay cả khi mùa mưa đến. Lượng mưa vào mùa đông của các vùng khác của đất nước bình thường như tuyết rơi. Khu vực dọc theo sông Volga thấp, bờ biển Caspian cũng như một số khác ở phía nam nước Nga có một khí hậu khô cằn.  
 
12.Khí hậu Đức
Cộng hòa Liên bang Đức nằm giữa trái tim châu Âu và được bao bọc bởi chín nước láng giềng: Đan Mạch ở phía Bắc, Hà Lan, Bỉ , Lúxămbua và Pháp ở phía Tây, Thụy Sĩ và Áo ở phía Nam, Cộng hòa Séc và Ba Lan ở phía Đông. Vị trí trung tâm này trở nên rõ rệt hơn sau khi nước Đức được thống nhất ngày 3-10-1990. Lãng thổ quốc gia Cộng hòa Liên bang Đức rộng khoảng 357,000 km2. Khoảng cách lớn nhất từ Bắc đến dài 876 km và từ Đông sang Tây dài 640km theo đường chim bay. Dân số của nước Đức khoảng 82,1 triệu người(năm 2004).Mật độ dân cư là 230 người trên một km2.Nước Đức có địa hình, cảnh quan đặc biệt đa dạng và hấp dẫn. Những dãy núi cao, thấp xen kẽ với các cao nguyên, vùng núi trung du, vùng duyên hải và đồng bằng rộng mở. Từ Bắc xuống , nước Đức được chia làm năm vùng cản quan lớn: vùng đồng bằng Bắc Đức, vùng núi trung du, vùng núi Tây , vùng chân núi Alpen Đức và vùng núi Alpen Bayern.Về khí hậu, nước Đức nằm trong vùng ôn đới lạnh gió Tây giữa Đại Tây Dương và khí hậu lục địa phía Đông. Hiếm khi xảy ra chênh lệch lớn về nhiệt độ. lượng mưa trải suốt các mùa trong năm. Nhiệt độ trung bình mùa đông dao động từ 1,5oC ở vùng đồng bằng đến -6oC trên vùng núi. Nhiệt độ trung bình của tháng 7 là 18oC ở đồng bằng là 20oC trong các thung lũng kín ở phía . Những vùng khí hậu ngoại lệ là các vùng thượng lưu sông Rhein có khí hậu rất ôn hòa, vùng thượng Bayern chịu ảnh hưởng của khí đoàn gió Nam khô nóng từ dãy Alpen và vùng Harz chịu ảnh hưởng của những đợt gió mạnh, màu hè lạnh và mùa đông nhiều tuyết.
 
 
 
13.Khí hậu Ý
Là nước trong vùng nhiệt đới, khí hậu nóng, thay đổi theo vĩ tuyến và chia thành ba mùa rõ rệt: mùa nóng (tháng 3 - tháng 6), mùa mưa có lượng mưa lớn do ảnh hưởng gió mùa Tây Nam (tháng 6 - tháng 10), mùa lạnh hanh khô và ít rét (tháng 10 - tháng 3). Ấn Độ chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, song sự phân bố mưa không đều đã tạo ra vùng khí hậu khô hạn và vùng khí hậu ẩm ướt. Người ta thường phân biệt vùng Ấn Độ ẩm (ở phía Tây, phía Nam và phía Đông Bắc), đây là những vùng có mật độ dân cư cao nhất nước, và vùng Ấn Độ khô (cao nguyên Deccan, vùng Tây Bắc) dân cư thưa thớt.
 
 
14.Khí hậu Trung Quốc
Khí hậu Trung Quốc phức tạp , đa dạng, đa số nằm trong khu vực bắc ôn đới, thuộc khí hậu gió mùa lục địa, đa số các vùng có bốn mùa rõ rệt, mùa đông lạnh giá nóng nực. Do đất nước rộng lớn, địa hình phức tạp, độ cao chênh lệch lớn nên khí hậu cũng đa dạng theo. Từ nam lên bắc lần lượt là các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới, trung ôn đới, hàn ôn đới,, Còn khí hậu vùng cao nguyện Thanh Tạng là vùng khí hậu theo đường thẳng đứng.
Cực bắc Trung Quốc là Mạc Hà tỉnh Hắc Long Giang ở 53 độ vĩ bắc thuộc khí hậu Hàn ôn đới, trong khi đó cực nam Trung Quốc là đảo Mẫu ấm Sa trong vùng biển quần đảo Nam Sa tỉnh Hải Nam, chỉ cách đường xích đạo 400km lại thuộc khí hậu xích đạo.Vì vậy từ Nam tới Bắc khí hậu chênh lệch rất lớn. Mùa đông, phần lớn lãnh thổ nghìndặm băng giá, vạn dặm tuyết rơ, ngay khu Mạc Hà nhiệt độ trung bình trong tháng riêng là -30 độ C, trong khi đó ở phía Nam đảo Hải Nam trung bình là 20 độ C. Đặc diểm khí hậu Trung Quốc là về mùa đông đa số các vùng lạnh giá, khí hậu miền Nam Bắc chênh lệch rõ rệt. Về mùa hè do ánh mặt trời chiếu thẳng xuống bắc bán cầu nên miền Bắc ngày dài hơn, về mùa đông mặt trời chiếu tới 2 miền Nam Bắc nên ngày gần như nhau. Trừ vùng cao nguyên Thanh Tạng có địa hình quá cao ra, cả nước đều nóng ấm, khí hậu chênh lệch không nhiều.
Đa số các vùng do ảnh huởng dòng khí vùng biển ẩm, thổi vào lục địa nên mưa nhiều, nhưng lượng mưa giữa các vùng và các mùa không đều nhau. Miền Đông mưa nhiều, miền Tây ít. Từ Đông Nam tới Tây Bắc lượng mưa giảm dần đồng thời mưa nhiều vào mùa hạ. Miền Nam mùa mưa kéo dài từ tháng tháng 10. Miền Bắc múa mưa ngắn, tập trung vào tháng 7, tháng 8. Lượng mưa hàng năm cũng không đều, năm nhiều, năm ít và chênh nhau rất lớn. Đa số các miền của Trung Quốc nằm về phía Bắc trí tuyến bắc nên mùa đông thời gian mặt trời chiếu ngắn, nhận dược năng lượng mặt trời ít, càng về phía Bắc càng ít nên thời tiết càng lạnh. Mùa hè do mặt trời chiếu thẳng xuống bán cầu tời gian mặt trời chiếu nhiều hơn nên nhiệt độ cao hơn.
 
 
 
 
 
 
15.Khí hậu Hàn Quốc
Khí hậu Hàn Quốc là sự kết hợp giữa khí hậu đại lục và khí hậu biển. Hàn Quốc có 4 mùa rõ rệt với đặc điểm mùa hè nóng và ẩm, mùa đông lạnh và khô. 3 mặt của Hàn Quốc tiếp giáp với biển nên thích hợp cho các môn thể thao trên biển.
Mùa hè : Thời gian nóng nhất là từ tháng 6 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình trong tháng 8 là 25,4℃. Nhiều người thường đi nghỉ mát vào khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8.
Mùa đông : Thời gian lạnh nhất là từ tháng 12 đến tháng 2 với nhiệt độ trung bình tại miền Bắc là -8℃và miền Nam là 0℃. Truyết thường rơi nhiều ở các vùng núi phía đông nên nơi đay có nhiều khu trượt tuyết. Khoảng thời gian từ tháng 12 đến tháng 2 là mùa trượt tuyết.
Mùa xuân và mùa thu : Từ tháng 3 đến tháng 5 là mùa xuân và từ tháng 9 đến tháng 11 là mùa thu.2 mùa này rất dễ chịu và thích hợp cho các hoạt động ngoài. Trời vào mùa xuân, thời tiết mát mẻ, cây cối đâm nảy lộc. Vào mùa thu, không khí khô và trời trong xanh. Đây là mùa tổ chức các lễ hội và hoạt động thể thao.
Lượng mưa trung bình một năm là 1260mm. Mưa nhiều nhất từ tháng 6 đến tháng 9, chiếm 50% của lượng mưa cả năm.
Mùa mưa – từ cuối tháng 6 đến giữa tháng 7, có những lúc mưa kéo dài nhiều ngày.
Đặc điểm : Hàn Quốc ít xẩy ra động đất và có bão, mưa dông, bão tuyết, nhiệt độ cao vào mùa đông và rét đậm rét hại.
Bão : Hàng năm có khoảng 28 cơn bão được hình thành từ phía Bắc Thái Bình Dương, trong đó 2 hoặc 3 cơn bão để bộ vào Hàn Quốc và gây thiệt hại.
Mưa dông : thường xuất hiện vào mùa hè và đang có xu hướng tăng dần.
Lũ lụt : Mạc dù đã có hệ thống đập nhưng lũ lụt vẫn gây thiệt hại do mưa bão kéo dài.
 
 
 
 
16.Khí hậu Nhật Bản
Đặc điểm lớn nhất của khí hậu Nhật Bản là có bốn muà Xuân, Hạ, Thu, Đông rõ rệt Mùa xuân : từ tháng 3 – tháng. Mùa hạ: từ tháng 6 – tháng 8 Mùa thu : từ tháng 9 – tháng 11. Mùa đông: từ tháng 12 – tháng 2. Nhiệt độ mùa đông và mùa hạ chênh nhau tới trên 30 độ. Vào mùa hạ, với nhiệt độ và độ ẩm cao làm cho những người từ đại lục thấy khó chịu. Vào mùa xuân và mùa thu khí hậu rất thoải mái dễ chịu nhưng thời tiết cũng thường thay đổi. Vào đầu mùa hạ, ngoại trừ
Đặc điểm lớn nhất của khí hậu Nhật Bản là có bốn muà Xuân, Hạ, Thu, Đông rõ rệtMùa xuân : từ tháng 3 – tháng.Mùa hạ: từ tháng 6 – tháng 8Mùa thu : từ tháng 9 – tháng 11.Mùa đông: từ tháng 12 – tháng 2.Nhiệt độ mùa đông và mùa hạ chênh nhau tới trên 30 độ. Vào mùa hạ, với nhiệt độ và độ ẩm cao làm cho những người từ đại lục thấy khó chịu. Vào mùa xuân và mùa thu khí hậu rất thoải mái dễ chịu nhưng thời tiết cũng thường thay đổi. Vào đầu mùa hạ, ngoại trừ Hokkaido ra, có mưa nhiều từ tháng Sáu đến giữa tháng Bảỵ Mùa thu cũng tương đối có nhiều mưa. Hơn nữa từ giữa mùa hạ đến đầu mùa thu, có nhiều bão phát sinh ở vùng phía tây của Bắc Thái Bình Dương đổ bộ vào Nhật Bản, đôi khi gây ra nhiều thiệt hạị Ngoài ra các dãy núi chạy dọc chiều dài Nhật Bản phân chia đất nước thành hai phần: phần biển Nhật Bản và phần Bắc Thái Bình Dương. Vào mùa đông phần biển Nhật Bản có nhiều tuyết rơi cũng là một đặc điểm của khí hậu Nhật Bản.Nhật Bản là quốc gia với hơn ba nghìn đảo trải dài dọc biển Thái Bình Dương của Châu Á. Các đảo chính chạy từ Bắc tới Nam bao gồm Hokkaidō, Honshū (đảo chính), Shikoku và Kyūshū. Quần đảo Ryukyu, bao gồm Okinawa, là một chuỗi các hòn đảo phía Nam Kyūshū. Cùng với nhau, nó thường được biết đến với tên gọi "Quần đảo Nhật Bản".Khoảng 70%-80% diện tích Nhật Bản là núi, loại hình địa lý không hợp cho nông nghiệp, công nghiệp và cư trú. Nhật Bản là quốc gia có mật độ dân số lớn thứ 30 trên thế giới.Các hoạt động núi lửa diễn ra thường xuyên nên quốc gia này có vô số suối nước nóng và các suối này đã và đang được phát triển thành các khu nghỉ dưỡng.Khí hậu Nhật Bản phần lớn là ôn hòa, nhưng biến đổi từ Bắc vào Nam. Đặc điểm địa lý Nhật Bản có thể phân chia thành 6 vùng khí hậu chủ yếu:Hokkaidō: vùng cực bắc có khí hậu ôn hòa với mùa đông dài và lạnh, mùa hè mát mẻ. Lượng mưa không dày đặc, nhưng các đảo thường xuyên bị ngập bởi những đống tuyết lớn vào mùa đông.Biển Nhật Bản: trên bờ biển phía Tây đảo Honshū', gió Tây Bắc vào thời điểm mùa đông mang theo tuyết nặng. Vào mùa hè, vùng này mát mẻ hơn vùng Thái Bình Dương dù đôi khi cũng trải qua những đợt thời tiết rất nóng bức do hiện tượng gió Phơn.Cao nguyên trung tâm: Một kiểu khí hậu đất liền điển hình, với sự khác biệt lớn về khí hậu giữa mùa hè và mùa đông, giữa ngày và đêm. Lượng mưa nhẹ.Biển nội địa Seto: Các ngọn núi của vùng Chūgoku và Shikoku chắn cho vùng khỏi các cơn gió mùa, mang đến khí hậu dịu mát cả năm.Biển Thái Bình Dương: Bờ biển phía Đông có mùa đông lạnh với ít tuyết, mùa hè thì nóng và ẩm ướt do gió mùa Tây Nam.Quần đảo Tây Nam: Quần đảo Ryukyu có khí hậu cận nhiệt đới, với mùa đông ấm và mùa hè nóng. Lượng mưa nặng, đặc biệt là vào mùa mưa. Bão ở mức bình thường.Nhiệt độ nóng nhất đo được ở Nhật Bản là 40,9 °C - đo được vào 16 tháng 8 năm 2007.Mùa mưa chính bắt đầu từ đầu tháng 5 tại Okinawa; trên phần lớn đảo Honshū, mùa mưa bắt đầu từ trước giữa tháng 6 và kéo dài 6 tuần. Vào cuối hè và đầu thu, các cơn bão thường mang theo mưa nặng.Nhật Bản là quê hương của chín loại sinh thái rừng, phản ánh khí hậu và địa lý của các hòn đảo. Nó trải dài từ những rừng mưa nhiệt đới trên quần đảo Ryukyu và Bonin tới các rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rụng trên các vùng khí hậu ôn hòa của các đảo chính, tới rừng ôn đới lá kim vào mùa đông lạnh trên các phần phía Bắc các đảo.
 
 
17.Khí hậu Đài Loan
Thiên nhiên: Formosa là tên mà người Bồ Đào Nha gọi Đài Loan khi họ đến đây vào thế kỷ 16 và thấy vẻ đẹp của hòn đảo xanh tươi.Khí hậu Đài Loan có 4 mùa, mùa xuân từ tháng 3 đến tháng 4, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9 nóng và ẩm ướt, mùa thu từ tháng 10 đến tháng 11, mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2. Đặc trưng cho khí hậu ở Đài Loan là vùng khí hậu cận nhiệt đới với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25 độ C đến 28 độ C.
Nếu bạn đến từ một quốc gia vĩ độ cao, bạn có thể bỏ áo khoác mùa đông của bạn sau khi đến Đài Loan và thưởng thức trong sự ấm áp dễ chịu của mặt trời. Nếu bạn muốn trải nghiệm những cảm giác vô tư của các hạt lành mạnh của mồ hôi chảy xuống trán của bạn, thì bạn nên đến các bãi biển tại Kending trong miền Nam Đài Loan, nơi nó được mùa hè quanh năm. Các đảo Đài Loan nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới, và nó được bao quanh bởi các đại dương; và gió biển, mà đó là lý do thời tiết ẩm ướt của Đài Loan, chắc chắn sẽ làm bạn hoàn toàn quên về nhà khô lạnh.
 
 
 
 
18.Khí hậu Lào
Nhờ vào độ cao, vĩ độ và ảnh hưởng của gió mùa mà Lào có nhiệt độ từ nhiệt đới đến cận nhiệt đới. Mùa mưa ở đây kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 với nhiệt độ từ 30oC trở lên. Ở những vùng núi như Xiêng Khoảng, nhiệt độ có thể xuống đến độ âm vào tháng 12 và tháng 1. Tháng 3 và tháng 4 là những tháng nóng nhất khi nhiệt độ lên đến 34oC. Những tháng mát mẻ nhất là từ tháng 11 đến tháng 2, tức là nửa đầu của mùa khô. Vào thời gian này, mực nước sông Mekong xuống rất thấp, để lộ ra những cù lao và những bờ cát ẩn mình dưới mặt nước trong suốt thời gian còn lại trong năm.
Lượng mưa ở Lào rất khác nhau tùy theo từng vùng trong nước. Tỉnh Luông Phrabang, một tỉnh miền núi phía bắc có lượng mưa hàng năm khoảng 1270mm, trong khi ở cao nguyên Bolovens phía nam là 2540mm.
Nhiều sự kiện văn hóa ở Lào gắn liền với mùa và khí hậu. Ví dụ trong lễ hộ Pháo Thăng thiên (Boun Bang Phay) và tháng 5, người Tây Tạng bắn lên trời những chiếc Pháo tự chế khổng lồ với hi vọng trời sẽ trút mưa xuống; và khi mùa gặt đã xong chính là lúc thích hợp nhất để người ta tổ chức đám cưới.
 
 
19.Khí hậu Thái Lan
Thái Lan có khí hậu nhiệt đới chia làm ba mùa rõ rệt, mùa nóng và khô ráo từ tháng 2 đến tháng 5 (nhiệt độ trung bình 34oC và ẩm độ 75%), mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10 đầy ánh nắng (nhiệt độ trung bình ban ngày 34oC và ẩm độ 87%), và mùa khí hậu mát mẻ từ tháng 11 đến tháng 1 (nhiệt độ trong khoảng 32oC đến dưới 20oC và ẩm độ thấp). Miền Bắc và Đông bắc lạnh hơn vào ban đêm. Miền Nam có nhiệtđộ của rừng mưa nhiệt đới với mức trung bình 28oC hầu như quanh năm. 
 
 20.Khí hậu Malaysia
Malaysia thuộc vùng khí hậu nhiệt đới; quanh năm nắng nóng, mưa nhiều.Nhiệt độ trung bình giao động từ 24C đến 34CĐộ ẩm 70 - 90 %Malaysia có hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Mùa khô từ tháng 6-7, mùa mưa từ tháng 10-12.Khí hậu chịu ảnh hưởng bởi 2 loại gió mùa: gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 mm đến 4.000 mm
 
 
 
 
21.Khí hậu Singapore
Tổng diện tích chỉ có 648,1km2, trong đó diện tích đất liền là 585,4 km2, còn lại là phần diện tích của 63 hòn đảo nằm rải rác trong biên giới biển. Lượng mưa lớn và độ ẩm cao trong năm phản ánh đúng vị trí địa lý nằm sát với đường xích đạo của Singapore. Thông thường lượng mưa hàng năm là 2.346mm, tuy được phân bổ đều cho cả năm nhưng thường thì tập trung nhiều hơn trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, việc này có thể lý giải cho việc nhiệt độ từ tháng 12 đến tháng 1 thường thấp hơn nhiệt độ trung bình cả năm tuy nhiên cũng hiếm khi xuống thấp quá 20oC.Dân cư Singapore có 77% là người gốc Hoa, còn lại là người gốc Malay, ấn, và các nước khác, phản ánh sự đa dạng về văn hoá của người Singapore. Là một đất nước phát triển hơi thiên về công nghệ thông tin và dịch vụ, tỷ lệ thất nghiệp của đất nước Singapore rất thấp – chỉ 3,2% - tạo điều kiện cho người dân có mức thu nhập bình quân hàng năm lên đến mức USD 25.490.Khí hậu Singapore tương đối giống với khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới và nắng quanh năm. Với sự tác động của vùng duyên hải nên nhiệt độ Singapore hầu như duy trì ở mức độ từ 24oC và 32oC. Singapore có độ ẩm rất cao, khoảng 84,4%. Tháng 12 là tháng mưa liên tục, tháng 02 là tháng nắng suốt cả tháng, tháng 07 và tháng 08 là tháng nóng nhất với nhiệt độ cao đạt mức tối đa.
 
22.Khí hậu Úc
Châu Úc nằm ở Bán cầu Nam vì vậy các mùa của nó trái ngược với phí Bắc bán cầu. Khí hậu Úc ấm hơn Châu Âu và Châu Mỹ, Đặc biệt phía bắc có thời tiết nóng ẩm tương tự vùng Đông Nam Á và Thái Bình Dương.Nước Úc chia ra làm 2 khu vực khí hậu: 40% của Châu Úc thuộc vùng nhiệt đới và phần còn lại thuộc vùng ôn đới.- Vùng khí hậu nhiệt đới gồm 2 mùa: mùa nóng ẩm từ tháng 11 - tháng 4 và mùa khô từ tháng 5 - tháng 10.- Vùng khí hậu ôn đới gồm 4 mùa: Mùa xuân (tháng 9 -11), Mùa hè (tháng 12 - 2), Mùa thu (tháng 3 - 5) và Mùa đông (tháng 6 - 8).Nhiệt độ tháng Giêng (giữa mùa hè) ở các bang Queensland, Northen Te
itory và Western Australia trung bình khoảng 29oC vào ban ngày và 20oC vào ban đêm. Còn nhiệt độ tháng bảy (giữa mùa đông) ban ngày khoảng 22oC và ban đêm khoảng 10oC.Ở các bang New South Wales, Victoria, Tasmania và South Australia vào tháng giêng nhiệt độ trung bình ban ngày là 28oC và ban đêm 16oC, còn tháng bảy là 15oC vào ban ngày và 7oC vào ban đêm.
 
 
 
 
 
KHÍ HẬU,THỜI TIẾT MỘT SỐ THÀNH PHỐ LỚN TRÊN THẾ GIỚI
 
1.Sydney-Australia
Sydney có cận nhiệt đới với những mùa hè ấm áp và với mùa đông mát mẻ, với lượng mưa trải đều trong năm. Thời tiết ôn hòa bởi ở gần đại dương, và các nhiệt độ khắc nghiệt hơn được ghi lại ở các vùng ngoại ô phía tây sâu trong lục địa. Tháng ấm nhất là tháng giêng, với nhiệt độ không khí trung bình trên bờ biển là 18,6–25,8°C và trung bình có 14.6 ngày trong năm nhiệt độ bên trên 30 °C. Nhiệt độ cao nhất được ghi lại là 45,3 °C vào ngày 14 tháng 1 năm 1939 vào cuối của một làn sóng nhiệt 4 ngày trên toàn quốc. Mùa đông hơi mát, với nhiệt độ ít khi nào xuống thấp hơn 5 °C trong các khu vực ven biển. Tháng lạnh nhất là tháng 7, với trung bình xê xích 8,0–16,2 °C. Nhiệt độ thấp nhất được ghi lại là 2,1 °C.
Lượng mưa được chia khá đều giữa mùa hè và mùa đông, nhưng cao hơn một ít trong suốt nửa đầu của năm, khi gió phía tây thổi nhiều. Lượng mưa trung bình hàng năm, điều hòa ít biến động, là 1217.0 mm, rơi trên trung bình là 138,0 ngày trong 1 năm. Tuyết rơi lần cuối cùng ở khu vực thành phố Sydney là vào thập niên 1830.
Mặc dù thành phố không chịu bão nhiệt đới hay các trận động đất lớn, hiệu ứng El Niño đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định khuôn mẫu thời tiết của Sydney: hạn hán và cháy rừng một mùa, và mưa bão và lụt lội mùa còn lại, liên hệ với các pha trái ngược nhau của sự dao động. Rất nhiều khu vực của thành phố giáp với các khu rừng bụi rậm đã bị ảnh hưởng bởi cháy rừng, đáng kể nhất là trong năm 1994 và 2002 – những lần này thường xảy ra vào mùa xuân hay mùa hè. Thành phố cũng thường bị mưa đá và bão lớn. Một cơn bão như vậy xảy ra ở các vùng ngoại vi phía đông Sydney vào buổi tối 14 tháng 4 năm 1999, tạo ra các hạt mưa đá lớn với các hạt đường kính ít nhất 9 cm và kết quả là bảo hiểm tốn khoảng $1,5 tỉ trong dưới 1 giờ.
Các nghiên cứu gần đây bởi các khoa học gia nghiên cứu về khí hậu tại Đại học Macquarie cho rằng việc khai phá đất ở phía tây Sydney đã góp phần vào những thay đổi lớn trong khí hậu của thành phố.
Trong bảng dưới đây, các giá trị từng tháng là trung bình trên giá trị của từng ngày trong tháng đó.
 
 
 
 
 
 Khí hậu Sydney
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Cao kỷ lục °C (°F)
45.3 (114)
42.1 (108)
39.8 (104)
33.9 (93)
30.0 (86)
26.9 (80)
25.9 (79)
31.3 (88)
34.6 (94)
38.2 (101)
41.8 (107)
42.2 (108)
45,3 (114)
Trung bình tối cao °C (°F)
25.9 (79)
25.7 (78)
24.7 (76)
22.4 (72)
19.4 (67)
16.9 (62)
16.3 (61)
17.8 (64)
19.9 (68)
22.1 (72)
23.6 (74)
25.2 (77)
21,7 (71)
Trung bình tối thấp °C (°F)
18.7 (66)
18.8 (66)
17.5 (64)
14.7 (58)
11.5 (53)
9.3 (49)
8.0 (46)
8.9 (48)
11.0 (52)
13.5 (56)
15.6 (60)
17.5 (64)
13,8 (57)
Thấp kỷ lục °C (°F)
10.6 (51)
9.6 (49)
9.3 (49)
7.0 (45)
4.4 (40)
2.1 (36)
2.2 (36)
2.7 (37)
4.9 (41)
5.7 (42)
7.7 (46)
9.1 (48)
2,1 (36)
Lượng mưa mm (inch)
102.0 (4)
117.9 (4.6)
129.4 (5.1)
126.4 (5)
120.7 (4.8)
130.6 (5.1)
97.3 (3.8)
81.2 (3.2)
69.1 (2.7)
77.6 (3.1)
83.1 (3.3)
77.9 (3.1)
1.212,5 (47,7)

 
 
 
 
 
2.Singapore city- Singapore
Singapore là một hòn đảo có hình dạng một viên kim cương bao quanh bởi nhiều đảo nhỏ khác. Có hai con đường nối giữa Singapore và bang Juhor của Malaysia — một con đường nhân tạo có tên Đường nối Johor-Singapor ở phía Bắc, băng qua eo biển Te
au và chỗ nối thứ hai Tuas, một cầu phía Tây nối với Juhor. Đảo Jurong, Pulau Tekong, Pulau Ubin và Sentosa là những đảo lớn nhất của Singapore, ngoài ra còn có nhiều đảo nhỏ khác. Vị trí cao nhất của Singapore là đồi Bukit Timah với độ cao 166 m.
Vùng thành thị trước đây chỉ tập trung ở khu vực phía Bắc Singapore bao quanh sông Singapore, hiện nay là trung tâm buôn bán của Singapore, trong khi đó những vùng còn lại rừng nhiệt đới ẩm hoặc dùng cho nông nghiệp. Từ thập niên 1960, chính phủ đã xây dựng nhiều đô thị mới ở những vùng xa, tạo nên một Singapore với nhà cửa san sát ở khắp mọi miền, mặc dù Khu vực Trung tâm vẫn là nơi hưng thịnh nhất. Ủy ban Quy hoạch Đô thị là một ban của chính phủ chuyên về các hoạt động quy hoạch đô thị với nhiệm vụ là sử dụng và phân phối đất hiệu quả cũng như điều phối giao thông. Ban đã đưa ra quy hoạch chi tiết cho việc sử dụng đất ở 55 khu vực.
Singapore đã mở mang lãnh thổ bằng đất lấy từ những ngọn đồi, đáy biển và những nước lân cận. Nhờ đó, diện tích đất của Singapore đã tăng từ 581,5 km² ở thập niên 1960 lên 697,25 km² ngày nay (xấp xỉ diện tích huyện Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh)), và có thể sẽ tăng thêm 100 km² nữa đến năm 2030.
Singapore có khí hậu xích đạo ẩm với các mùa không phân biệt rõ rệt. Đặc điểm của loại khí hậu này là nhiệt độ và áp suất ổn định, độ ẩm cao và mưa nhiều. Nhiệt độ thay đổi trong khoảng 22°C đến 31 °C (72°–88°F). Trung bình, độ ẩm tương đối khoảng 90% vào buổi sáng và 60% vào buổi chiều. Trong những trận mưa lớn kéo dài, độ ẩm tương đối thường đạt 100%. Nhiệt độ cao nhất và thấp nhất đã từng xuất hiện là 18,4 °C (65,1 °F) và 37,8 °C (100,0 °F).
Sự đô thị hóa đã làm biến mất nhiều cánh rừng mưa nhiệt đới một thời, hiện nay chỉ còn lại một trong số chúng là Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bukit Timah. Tuy nhiên, nhiều công viên đã được gìn giữ với sự can thiệp của con người, ví dụ như Vườn Thực vật Quốc gia. Không có nước ngọt từ sông và hồ, nguồn cung cấp nước chủ yếu của Singapore là từ những trận mưa rào được giữ lại trong những hồ chứa hoặc lưu vực sông. Mưa rào cung cấp khoảng 50% lượng nước, phần còn lại được nhập khẩu từ Malaysia hoặc lấy từ nước tái chế - một loại nước có được sau quá trình khử muối. Nhiều nhà máy sản xuất nước tái chế đang được đề xuất và xây dựng nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu.
 
 
 
 Khí hậu Singapore
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Trung bình tối cao °C (°F)
29.9 (86)
31.0 (88)
31.4 (89)
31.7 (89)
31.6 (89)
31.2 (88)
30.8 (87)
30.8 (87)
30.7 (87)
31.1 (88)
30.5 (87)
29.6 (85)
30,9 (88)
Trung bình tối thấp °C (°F)
23.1 (74)
23.5 (74)
23.9 (75)
24.3 (76)
24.6 (76)
24.5 (76)
24.2 (76)
24.2 (76)
23.9 (75)
23.9 (75)
23.6 (74)
23.3 (74)
23,9 (75)
Lượng mưa mm (inch)
198 (7.8)
154 (6.1)
171 (6.7)
141 (5.6)
158 (6.2)
140 (5.5)
145 (5.7)
143 (5.6)
177 (7)
 
 
 
 

 
 
 
 
3.Hà Nội-Việt Nam
Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa. Thuộc vùng nhiệt đới, thành phố quanh nǎm tiếp nhận lượng bức xạ Mặt Trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao. Và do tác động của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một năm. Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh. Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 28,1 °C. Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là khí hậu của mùa đông với nhiệt độ trung bình 18,6 °C. Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng 10, thành phố có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông.
Khí hậu Hà Nội cũng ghi nhận những biến đổi bất thường. Vào tháng 5 năm 1926, nhiệt độ tại thành phố được ghi lại ở mức kỷ lục 42,8 °C. Tháng 1 năm 1955, nhiệt độ xuống mức thấp nhất, 2,7 °C. Đầu tháng 11 năm 2008, một trận mưa kỷ lục đổ xuống các tỉnh miền Bắc và miền Trung khiến 18 cư dân Hà Nội thiệt mạng và gây thiệt hại cho thành phố khoảng 3.000 tỷ đồng.
 
 
 
 
 
 Khí hậu Hà Nội
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Trung bình tối cao °C (°F)
19 (66)
19 (67)
22 (72)
27 (80)
31 (87)
32 (90)
32 (90)
32 (89)
31 (88)
28 (82)
24 (76)
22 (71)
Trung bình tối thấp °C (°F)
14 (58)
16 (60)
18 (65)
22 (71)
25 (77)
27 (80)
27 (80)
27 (80)
26 (78)
23 (73)
19 (66)
16 (60)
Lượng mưa mm (inch)
20.1 (0.79)
30.5 (1.20)
40.6 (1.60)
80 (3.15)
195.6 (7.70)
240 (9.45)
320 (12.6)
340.4 (13.4)
254 (10.0)
100.3 (3.95)
40.6 (1.60)
20.3 (0.80)

 
 
 
4.Thượng Hải-Trung Quốc
 Khí hậu Thượng Hải (1971-2000)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Trung bình tối cao °C (°F)
8.1 (47)
9.2 (49)
12.8 (55)
19.1 (66)
24.1 (75)
27.6 (82)
31.8 (89)
31.3 (88)
27.2 (81)
22.6 (73)
17.0 (63)
11.1 (52)
20,2 (68)
Trung bình tối thấp °C (°F)
1.1 (34)
2.2 (36)
5.6 (42)
10.9 (52)
16.1 (61)
20.8 (69)
25.0 (77)
24.9 (77)
20.6 (69)
15.1 (59)
9.0 (48)
3.0 (37)
12,9 (55)
Lượng mưa mm (inch)
50.6 (2)
56.8 (2.2)
98.8 (3.9)
89.3 (3.5)
102.3 (4)
169.6 (6.7)
156.3 (6.2)
157.9 (6.2)
137.3 (5.4)
62.5 (2.5)
46.2 (1.8)
37.1 (1.5)
1.164,5 (45,8)

 
 
 
 
5.Tokyo-Nhật Bản
Tokyo nằm ở vành đai khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa hè ẩm ướt và mùa đông dịu mát với những đợt rét. Lượng mưa bình quân là 1,380mm. Lượng tuyết ít nhưng vẫn thường xuyên diễn ra .Tokyo là một ví dụ điển hình cho loại khí hậu nhiệt đô thị đảo, dân số đông góp một phần quan trọng đến khí hậu thành phố. Tokyo được xem là "một ví dụ thuyết phục cho mối quan hệ giữa sự tăng trưởng đô thị và khí hậu". Tokyo cũng thường có bão hàng năm, nhưng phần lớn là bão yếu.
Tokyo từng hứng chịu các trận động đất vào năm 1703, 1782, 1812, 1855 và 1923. Trận động đất năm 1923 với cường độ 8,3 đã giết chết 142.000 người.
 Khí hậu Tokyo, Nhật Bản (1971-2000)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Trung bình tối cao °C (°F)
9.8 (50)
10.0 (50)
12.9 (55)
18.4 (65)
22.7 (73)
25.2 (77)
29.0 (84)
30.8 (87)
26.8 (80)
21.6 (71)
16.7 (62)
12.3 (54)
19,7 (67)
Trung bình tối thấp °C (°F)
2.1 (36)
2.4 (36)
5.1 (41)
10.5 (51)
15.1 (59)
18.9 (66)
22.5 (73)
24.2 (76)
20.7 (69)
15.0 (59)
9.5 (49)
4.6 (40)
12,5 (55)
Lượng mưa mm (inch)
48.6 (1.9)
60.2 (2.4)
114.5 (4.5)
130.3 (5.1)
128.0 (5)
164.9 (6.5)
161.5 (6.4)
155.1 (6.1)
208.5 (8.2)
163.1 (6.4)
92.5 (3.6)
39.6 (1.6)
1.466,7 (57,7)

 
 
 
 
 
 
 
6.Seoul-Hàn Quốc
Cũng giống như phần lớn các vùng khác ở Hàn Quốc, Seoul có khí hậu ôn hòa và khí hậu lục địa, bất chấp việc Hàn Quốc bị vung quanh bởi ba mặt đều là biển. Mùa hè bình thường khí hậu nóng và ẩm, với mùa mưa kéo dài từ tháng 6 đến tháng 9. Tháng 8, tháng nóng nhất trong năm, có nhiệt độ trung bình từ 22 °C đến 30 °C (72 °F đến 86 °F) và cũng có thể nóng hơn. Mùa đông thường rất lạnh nếu so sánh với các vùng ở cùng vĩ độ, với nhiệt độ trung bình tháng giêng từ -10 °C đến 1 °C (19 °F đến 33 °F), mùa đông bình thường thì khô hơn rất nhiều so với mùa hè dù bình thường trong một năm ở Seoul có khoảng 28 ngày là có tuyết.
 
 Khí hậu Seoul (1971-2000)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Trung bình tối cao °C (°F)
1.6 (35)
4.1 (39)
10.2 (50)
17.6 (64)
22.8 (73)
26.9 (80)
28.8 (84)
29.5 (85)
25.6 (78)
19.7 (67)
11.5 (53)
4.2 (40)
16,9 (62)
Trung bình tối thấp °C (°F)
-6.1 (21)
-4.1 (25)
1.1 (34)
7.3 (45)
12.6 (55)
17.8 (64)
21.8 (71)
22.1 (72)
16.7 (62)
9.8 (50)
2.9 (37)
-3.4 (26)
8,2 (47)
Lượng mưa mm (inch)
21.6 (0.9)
23.6 (0.9)
45.8 (1.8)
77.0 (3)
102.2 (4)
133.3 (5.2)
327.9 (12.9)
348.0 (13.7)
137.6 (5.4)
49.3 (1.9)
53.1 (2.1)
24.9 (1)
1.344,3 (52,9)

 
 
 
 
 
 
 
 
7.Bắc Kinh-Trung Quốc
Khí hậu của Bắc Kinh là dạng khí hậu lục địa ẩm chịu ảnh hưởng của gió mùa, đặc điểm là mùa hè nóng và ẩm ướt do tác động của gió mùa Đông Á, mùa đông thì lạnh, khô và nhiều gió phản ánh ảnh hưởng của áp thấp vùng Siberi. Nhiệt độ cao ban ngày trung bình tháng Một là 1.6 °C (34.9 °F), trong khi thông số tương tự cho tháng Bảy 30.8 °C (87 °F). Lượng mưa hàng năm vào khoảng 580 mm (22.8 in), trong đó phần lớn mưa vào các tháng mùa hè. Nhiệt độ cao nhất từng đo được là 42 °C (108 °F) và thấp nhất là −27 °C (−17 °F).
 
 
8.Rome-Italia
 Khí hậu sân bay Roma-Ciampino, gần trung tâm thành phố (1961–1990)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Trung bình tối cao °C (°F)
11.8 (53)
13.0 (55)
15.2 (59)
18.1 (65)
22.9 (73)
27.0 (81)
30.4 (87)
30.3 (87)
26.8 (80)
21.8 (71)
16.3 (61)
12.6 (55)
20,5 (69)
Trung bình tối thấp °C (°F)
2.7 (37)
3.5 (38)
5.0 (41)
7.5 (46)
11.1 (52)
14.7 (58)
17.4 (63)
17.5 (64)
14.8 (59)
10.8 (51)
6.8 (44)
3.9 (39)
10,0 (50)
Lượng mưa mm (inch)
102.6 (4)
98.5 (3.9)
67.5 (2.7)
65.4 (2.6)
48.2 (1.9)
34.4 (1.4)
22.9 (0.9)
32.8 (1.3)
68.1 (2.7)
93.7 (3.7)
129.6 (5.1)
111.0 (4.4)
874,7 (34,4)

 
 
 
 
9.Berlin- Đức
Thành phố nằm trong vùng khí hậu ôn hòa. Nhiệt độ trung bình cả năm ở Berlin-Dalem là 9,2 °C và lượng mưa trung bình hằng năm là 579 mm.
Các tháng nóng nhất trong năm là tháng 7 và tháng 8 với nhiệt độ bình quân là 18,4 hay 17,8 °C, tháng lạnh nhất trong năm: tháng 1 và tháng 2, nhiệt độ trung bình là 0,5 và 1,2 độ Celsius.
Tháng 7 là tháng có mưa nhiều nhất, trung bình là 67 mm, tháng có mưa ít nhất là tháng 2, trung bình 36 mm.
 Khí hậu Berlin
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Trung bình tối cao °C (°F)
3 (37)
4 (39)
9 (48)
13 (55)
19 (66)
22 (72)
24 (75)
24 (75)
19 (66)
13 (55)
7 (45)
4 (39)
Trung bình tối thấp °C (°F)
-2 (28)
-2 (28)
-1 (30)
4 (39)
9 (48)
12 (54)
14 (57)
14 (57)
11 (52)
6 (43)
2 (36)
0 (32)
Lượng mưa mm (inch)
42 (1.7)
33 (1.3)
41 (1.6)
37 (1.5)
54 (2.1)
69 (2.7)
56 (2.2)
58 (2.3)
45 (1.8)
37 (1.5)
44 (1.7)
55 (2.2)

 
 
 
 
10.Moscow-Liên Bang Nga
 Khí hậu Moscow (1971–2000), records (1879–the present)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Cao kỷ lục °C (°F)
8.6 (47)
8.3 (47)
17.5 (64)
28.0 (82)
33.2 (92)
34.7 (94)
36.5 (98)
36.8 (98)
32.3 (90)
24.0 (75)
12.6 (55)
9.6 (49)
36,8 (98)
Trung bình tối cao °C (°F)
-4.9 (23)
-3.5 (26)
2.2 (36)
10.8 (51)
18.2 (65)
22.1 (72)
23.2 (74)
21.3 (70)
15.1 (59)
8.1 (47)
0.6 (33)
-3.1 (26)
9,2 (49)
Trung bình tối thấp °C (°F)
-10.3 (13)
-9.9 (14)
-4.7 (24)
2.1 (36)
7.4 (45)
12.0 (54)
13.8 (57)
12.0 (54)
7.0 (45)
2.0 (36)
-3.7 (25)
-7.9 (18)
1,7 (35)
Thấp kỷ lục °C (°F)
-42.2 (-44)
-38.2 (-37)
-32.4 (-26)
-21.0 (-6)
-7.5 (19)
-2.3 (28)
1.3 (34)
-1.2 (30)
-8.5 (17)
-16.1 (3)
-32.8 (-27)
-38.8 (-38)
-42,2 (-44)
Lượng mưa mm (inch)
46 (1.8)
36 (1.4)
33 (1.3)
38 (1.5)
52 (2)
84 (3.3)
90 (3.5)
80 (3.1)
67 (2.6)
66 (2.6)
60 (2.4)
53 (2.1)
705 (27,

 
 
 
 
11.London-Vương Quốc Anh
Luân Đôn nằm trong vùng khí hậu ôn đới đại dương, giống như phần lớn đảo Anh, thành phố ít khi chứng kiến nền nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp. Mùa hè ở Luân Đôn có thời tiết ấm áp với nhiệt độ cao tháng Bảy là 22.8 °C (73.0 °F) và thấp là 14.0 °C (57.2 °F). Nhiệt độ có thể vượt mức 25 °C (77 °F) trong nhiều ngày nhưng hầu hết các năm thì nhiệt độ chỉ vượt ngưỡng 30 °C (86 °F) vài ngày. Nhiệt độ cao nhất từng được ghi nhận tại thành phố này là 38 °C (100 °F) vào năm 2003.
Mùa đông ở Luân Đôn lạnh nhưng hiếm khi xuống dưới mức đóng băng với nhiệt đô cao ban ngày vào khoảng 5 °C (41 °F) – 8 °C (46 °F), mùa xuân thì mát mẻ vào ban ngày và se lạnh vào buổi chiều. Nhiệt độ thấp nhất từng ghi nhận là −21.1 °C (−6 °F) vào tháng Một năm 1795. Mùa thu thời tiết thường mát và không ổn định do có sự đối lưu giữa luồng khí mát từ bắc cực và luồng khí ấm từ chí tuyến. Luân Đôn là một thành phố tương đối khô với lương mưa nhẹ khoảng 583.6 millimetres hàng năm.
Luân Đôn thường ít khi có tuyết, chủ yếu bởi nhiệt độ từ các khu vực xung quanh làm Luân Đôn ấm hơn khoảng 5 °C (9 °F) so với các vùng xung quanh. Tuy nhiên, những trận mưa tuyết thường diễn ra vài lần trong năm. Luân Đôn thường ít xảy ra thiên tai, nhưng một vài trận thiên tai cũng đã diễn ra, ví dụ như trận bão lớn năm 1987.
Vào nửa sau thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, Luân Đôn được biết đến là thành phố sương mù vì lượng sương mù và khói dày đặc. Sau một trận sương mù năm 1952, đạo luật làm sạch không khí được thông qua năm 1962, điều này đã làm giảm đáng kể ô nhiễm môi trường trong thành phố.
 Khí hậu London (Greenwich)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Trung bình tối cao °C (°F)
7.9 (46)
8.2 (47)
10.9 (52)
13.3 (56)
17.2 (63)
20.2 (68)
22.8 (73)
22.6 (73)
19.3 (67)
15.2 (59)
10.9 (52)
8.8 (48)
14,8 (59)
Trung bình tối thấp °C (°F)
2.4 (36)
2.2 (36)
3.8 (39)
5.2 (41)
8.0 (46)
11.1 (52)
13.6 (56)
13.3 (56)
10.9 (52)
8.0 (46)
4.8 (41)
3.3 (38)
7,2 (45)
Lượng mưa mm (inch)
51.9 (2)
34.0 (1.3)
42.0 (1.7)
45.2 (1.8)
47.2 (1.9)
53.0 (2.1)
38.3 (1.5)
47.3 (1.9)
56.9 (2.2)
61.5 (2.4)
52.3 (2.1)
54.0 (2.1)
583,6 (23)

 
 
 
 
12.Paris-Pháp
Paris có khí hậu ôn đới đại dương. Ảnh hưởng của đại dương chiếm ưu thế, thể hiện như: mùa hè mát, trung bình 18°C; mùa đông không quá lạnh, trung bình 6 °C; các mùa đều mưa nhiều và thời tiết thất thường. Lượng mưa trung bình ở Paris là 641 mm. Mưa tuyết không nhiều, chủ yếu vào những tháng lạnh nhất như tháng 1, tháng 2, nhưng đôi khi vào tận tháng 4. Tuy vậy khí hậu Paris cũng đôi khi đột biến. Nhiệt độ cao nhất ghi được tại đây là vào ngày 28 tháng 6 năm 1948, lên đến 40,4 °C. Còn nhiệt độ thấp nhất ghi lại được vào ngày 10 tháng 12 năm 1879, xuống tới -23,9 °C.Mùa hè năm 2003, cùng với châu Âu, Paris cũng phải chịu một trận nắng nóng lịch sử.
 
 
 
 
 
  Dữ liệu trạm khí tượng Paris-Montsouris 1961-1990
Tháng
 1
 2
 3
 4
 5
 6
 7
 8
 9
10
11
12
Năm
Nhiệt độ thấp nhất trung bình (°C)
2,0
2,6
4,5
6,7
10,1
13,2
15,2
14,8
12,6
9,4
5,2
2,9
8,3
Nhiệt độ trung bình (°C)
4,2
5,3
7,8
10,6
14,3
17,4
19,6
19,2
16,7
12,7
7,7
5,0
11,7
Nhiệt độ cao nhất trung bình (°C)
6,3
7,9
11,0
14,5
18,4
21,6
23,9
23,6
20,8
16,0
10,1
7,0
15,1
Lượng mưa trung bình (mm)
55.0
45.4
52.2
49.5
62.0
53.2
58.3
46.0
52.9
54.9
57.0
55.1
641.6
 
 
 
 
 
 
 
 
 
13.Ottawa-Canada
Ottawa có một khí hậu đại lục ẩm ướt (Koppen Dfb) với nhiệt độ cao nhất là 37.8 °C (100 °F) vào mùa hè năm 1986 và 2001, thấp nhất là -38.9 °C (-38 °F) vào ngày 29 tháng 12 năm 1933, và là thủ đô lạnh hàng thứ nhì trên thế giới (sau Ulaanbaatar, Mongolia). Với khí hậu đặc biệt này, Ottawa rất hãnh diện về các hoạt động hàng năm nhưng cũng có yêu cầu đa dạng về quần áo. Tuy nhiên vì khí hậu vào mùa hè rất ấm áp nên Ottawa chỉ xếp hạng thứ 7 trong các thủ đô lạnh nhất thế giới căn cứ vào nhiệt độ trung bình hàng năm, nhưng nếu dựa vào nhiệt độ trung bình của tháng 1 thì Ottawa xếp hạng 3 sau Ulaanbaatar, Mongolia và Astana, Kazakhstan.
Tuyết và băng nước đá có ảnh hưởng lớn đến Ottawa vào mùa Đông. Lượng tuyết hàng năm tại Ottawa vào khoảng 235 cm (93 in). Ngày có nhiều tuyết rơi nhất được ghi lại là 4 tháng 3 năm 1947 với 73 cm (2.5 feet). Nhiệt độ trung bình tháng 1 là -10.8 °C (13 °F), ban ngày nhiệt độ trên 0 °C và ban đêm lạnh dưới -25 °C (-13 °F) vào mùa Đông. Mùa tuyết rơi hàng năm thay đổi thất thường. Thông thường tuyết bao phủ mặt đất từ giữa tháng 12 đến đầu tháng 4, nhưng cũng có năm tuyết chỉ rơi sau lễ Giáng sinh, nhất là những năm gần đây. Năm 2007 thật đáng chú ý vì mãi đến gần cuối tháng 1 mới có tuyết rơi. Những cơn gió lạnh cóng trung bình hàng năm là 51, 14 và 1 với những ngày nhiệt độ xuống dưới -20 °C (-4 °F), -30 °C (-22 °F) và -40 °C (-40 °F) theo thứ tự. Cơn gió lạnh nhất được ghi lại là -47.8 °C (-54.0 °F) vào ngày 8 tháng 1 năm 1968.
Ottawa và những nơi khác của Canada thường có những cơn mưa đóng băng. Trận bão đóng băng năm 1998 là một cơn bão lớn đã làm cúp điện và ảnh hưởng đến nền kinh tế địa phương.
Mùa hè thường ấm áp và ẩm ướt tại Ottawa mặc dù rất ngắn ngủi. Nhiệt độ trung bình cao nhất của tháng 7 là 26.5 °C (80 °F) với dòng không khí lạnh bất ngờ đến từ hướng Bắc đã hạ thấp độ ẩm ướt với nhiệt độ khoảng 30 °C (86 °F) hoặc cao hơn. Nhiệt độ cao nhất được ghi lại là 39.5 °C (103 °F) vào mùa hè năm 2005 ở vài địa điểm. Thời tiết nóng bức thường tăng thêm độ ẩm ướt đặc biệt là các khu vực gần sông ngòi. Ottawa hàng năm có 41, 12 và 2 ngày với độ ẩm ướt trên 30 °C (86 °F), 35 °C (95 °F) và 40 °C (104 °F) theo thứ tự. Ngày có độ ẩm ướt cao nhất 48 °C (118 °F) là 1 tháng 8 năm 2006.
 
 
 
14.Los Angeles-bang California Mỹ
 Khí hậu Los Angeles (LAX)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Trung bình tối cao °F (°C)
65.7 (19)
65.8 (19)
65.5 (19)
67.5 (20)
69.1 (21)
72.0 (22)
75.4 (24)
76.6 (25)
76.6 (25)
74.5 (24)
70.3 (21)
65.8 (19)
70,4 (21)
Trung bình tối thấp °F (°C)
47.8 (9)
49.3 (10)
50.5 (10)
52.9 (12)
56.3 (13)
59.5 (15)
62.8 (17)
64.2 (18)
63.1 (17)
59.2 (15)
52.9 (12)
47.8 (9)
55,5 (13)
Lượng mưa inch (mm)
2.4 (61.0)
2.5 (63.8)
2 (50.3)
0.7 (18.3)
0.1 (3.60)
0 (0.80)
0 (0.30)
0.1 (3.80)
0.3 (7.90)
0.3 (8.60)
1.8 (44.7)
1.7 (42.2)
12 (305,3)

 
 
 
 
 
15.New York-Bang New York-Mỹ
Theo phân loại khí hậu Köppen, New York có khí hậu bán nhiệt đới ẩm, trung bình có 234 ngày nắng trong năm. Đây là thành phố chính vùng cực bắc tại Bắc Mỹ có khí hậu bán nhiệt đới ẩm.
Mùa hè ở New York có đặc điểm là nóng và ẩm, nhiệt độ cao trung bình từ 26 – 29 °C (79 đến 84 °F) và thấp trung bình từ 17 – 21 °C (63 đến 69 °F). Tuy nhiên trung bình cũng có đến từ 16 đến 19 ngày nhiệt độ vượt trên 32 °C (90 °F) trong mỗi mùa hè và có thể vượt trên 38 °C (100 °F) cứ mỗi 4 đến 6 năm. Vào mùa đông, thời tiết lạnh và những cơn gió thổi ngoài biển có lúc làm giảm ảnh hưởng của Đại Tây Dương. Tuy nhiên, Đại Tây Dương giúp cho thành phố ấm vào mùa đông hơn các thành phố trong nội địa Bắc Mỹ nằm trên cùng vĩ tuyến như Chicago, Pittsburgh và Cincinnati. Nhiệt độ trung bình trong tháng 1, tháng lạnh nhất ở Thành phố New York, là 0 °C (32 °F). Tuy nhiên cũng có ít ngày, nhiệt độ mùa đông xuống hàng -12 đến hàng -6 °C (10 đến 20 °F) và cũng có ít ngày nhiệt độ lên cao từ 10 đến 15 °C (50 đến 60 °F). Mùa xuân và mùa thu, thời tiết khá thất thường, có thể lạnh cóng hoặc ấm mặc nhưng thường dễ chịu với độ ẩm ít.
New York có lượng mưa hàng năm khoảng 1.260 mm (49,7 inch), trải khá đều suốt năm. Tuyết rơi vào mùa đông trung bình khoảng 62 cm (24,4 in), nhưng thường khá biến đổi từ năm này sang năm khác và tuyết phủ mặt đất thường rất ngắn. Tuy hiếm gặp, nhưng đôi khi vùng New York cũng phải hứng chịu những cơn bão.
 
 
 
 Khí hậu Thành phố New York - Công viên Trung tâm
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Cao kỷ lục °F (°C)
72 (22)
75 (24)
86 (30)
96 (36)
99 (37)
101 (38)
106 (41)
104 (40)
102 (39)
94 (34)
84 (29)
75 (24)
106 (41)
Trung bình tối cao °F (°C)
38 (3)
41 (5)
50 (10)
61 (16)
71 (22)
79 (26)
84 (29)
82 (28)
75 (24)
64 (18)
53 (12)
43 (6)
62 (17)
Trung bình tối thấp °F (°C)
26 (-3)
28 (-2)
35 (2)
44 (7)
54 (12)
63 (17)
69 (21)
68 (20)
60 (16)
50 (10)
41 (5)
32 (0)
48 (9)
Thấp kỷ lục °F (°C)
-6 (-21)
-15 (-26)
3 (-16)
12 (-11)
28 (-2)
44 (7)
52 (11)
50 (10)
39 (4)
28 (-2)
7 (-14)
-13 (-25)
-15 (-26)
Lượng mưa inch (mm)
4.13 (104.9)
3.15 (80)
4.37 (111)
4.28 (108.7)
4.69 (119.1)
3.84 (97.5)
4.62 (117.3)
4.22 (107.2)
4.23 (107.4)
3.85 (97.8)
4.36 (110.7)
3.95 (100.3)
49,7

 
 
 
 
16.Washington D.C.- Mỹ
Washington có khí hậu nửa nhiệt đới, ẩm ướt  đây là khí hậu đặc trưng của khu vực các tiểu bang giữa duyên hải Đại Tây Dương , có bốn mùa rõ rệt. Đặc khu nằm trong vùng chịu đựng nhiệt độ (Hardiness zone) cấp 8a gần trung tâm thành phố, và vùng chịu đựng nhiệt độ cấp 7b ở những nơi khác trong thành phố. Điều này chứng tỏ Washington, D.C. có một khí hậu ôn hòa. Mùa xuân và mùa thu khí hậu dịu, ít ẩm ướt trong khi mùa đông mang đến nhiệt độ khá lạnh và lượng tuyết rơi trung bình hàng năm là 16,6 in (420 mm). Nhiệt độ thấp trung bình vào mùa đông là quanh 30 °F (-1 °C) từ giữa tháng 12 đến giữa tháng 2. Những cơn bão tuyết gây ảnh hưởng cho Washington trung bình xảy ra cứ mỗi bốn đến sáu năm một lần. Những cơn bão mạnh nhất được gọi là "nor'easter" thường có đặc điểm là gió mạnh, mưa nhiều và đôi khi có tuyết. Những cơn bão này thường ảnh hưởng đến phần lớn vùng ven biển Đông Hoa Kỳ.
Mùa hè có chiều hướng nóng và ẩm, nhiệt độ trung bình hàng ngày trong tháng 7 và tháng 8 vào khoảng 80-89 °F (khoảng 26,7-31,7 °C). Sự kết hợp giữa nóng và ẩm trong mùa hè mang đến những cơn bão kèm sấm chớp rất thường xuyên. Một số cơn bão lớn đôi khi tạo ra lốc xoáy trong khu vực. Trong khi đó các cơn bão nhiệt đới (hu
icane), hay tàn dư của nó, đôi khi hoành hành trong khu vực vào cuối hè và đầu thu. Thường thì chúng bị yếu dần khi đến Washington, một phần vì vị trí của thành phố nằm bên trong đất liền. Tuy nhiên lụt lội trên sông Potomac do sự kết hợp của thủy triều cao, sóng biển dâng lên cao lúc có bão được biết đến là đã nhiều lần gây thiệt hại tài sản nặng nề tại Georgetown.
Nhiệt độ cao nhất kỷ lục tại Washington, D.C. là 106 °F (41 °C) được ghi nhận vào ngày 20 tháng 7 năm 1930 và ngày 6 tháng 8 năm 1918, trong khi nhiệt độ thấp nhất kỷ lục là −15 °F (−26.1 °C) được ghi nhận vào trong trận bão tuyết ngày 11 tháng 2 năm 1899. Trung bình, mỗi năm thành phố có 36,7 ngày nóng trên 90 °F (32 °C), và 64,4 đêm dưới độ đóng băng.
 Khí hậu Washington, D.C.
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Cao kỷ lục °F (°C)
79 (26)
84 (29)
93 (34)
95 (35)
99 (37)
102 (39)
106 (41)
106 (41)
104 (40)
96 (36)
86 (30)
79 (26)
106 (41)
Trung bình tối cao °F (°C)
42 (6)
47 (8)
56 (13)
66 (19)
75 (24)
84 (29)
88 (31)
86 (30)
79 (26)
68 (20)
57 (14)
47 (8)
66 (19)
Trung bình tối thấp °F (°C)
27 (-3)
30 (-1)
37 (3)
46 (8)
56 (13)
65 (18)
70 (21)
69 (21)
62 (17)
50 (10)
40 (4)
32 (0)
49 (9)
Thấp kỷ lục °F (°C)
-14 (-26)
-15 (-26)
4 (-16)
15 (-9)
33 (1)
43 (6)
52 (11)
49 (9)
36 (2)
26 (-3)
11 (-12)
-13 (-25)
-15 (-26)
Lượng mưa inch (mm)
3.2 (81.3)
2.6 (66)
3.6 (91.4)
2.8 (71.1)
3.8 (96.5)
3.1 (78.7)
3.6 (91.4)
3.4 (86.4)
3.8 (96.5)
3.2 (81.3)
3.0 (76.2)
3.0 (76.2)
39,1 (993,1)

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
KHÍ HẬU VIỆT NAM
 
 
Việt Nam nằm  hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới nửa cầu bắc,thiên về chí tuyến hơn xích đạo.Vị trí đó đã tạo cho Việt Nam một nền nhiệt độ khá cao.nhiệt độ trung bình năm từ 22 đến 27 độ.Hằng năm có khoảng 100 ngày mưa với lượng mưa trung bình từ 1500 đến 2000mm.Độ ẩm không khí trên dưới 80%.Số giờ nắng khoảng 1400-3000 giờ,nhiệt bức xạ trung bình năm là dưới 1 triệu kacl/m2.
Chế độ gió mùa cũng làm cho tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của thiên nhiên Việt Nam thay đổi.Nhìn chung,Việt Nam có một mùa nóng,mưa nhiều và một mùa tương đối lạnh và ít mưa.Trên nền chung đó,khí hậu của các tỉnh phía Bắc (từ đèo Hải Vân trở ra miền Bắc )thay đổi theo 4 mùa khá rõ rệt là xuân,hạ,thu,đông.Việt Nam chịu tác động của gió mùa đông bắc nên nhiệt độ chung bình thấp hơn nhiệt độ trung bình nhiều nước khác cùng vĩ độ như châu Á.So với các nước này thì ở Việt Nam nhiệt độvề mùa đông lạnh hơn và mùa hạ ít nóng hơn.
Do ảnh hưởng của gió mùa cũng như sự phức tạp của địa hình nên khí hậu của Việt Nam luôn luôn thay đổi trong năm,giữa năm này với năm khác và nơi này với nơi khác (từ bắc xuông nam,từ thấp lên cao).Khí hậu của Việt Nam cũng tạo ra những bất lợi về thời tiết như bão (trung bình một năm có 6-10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới,lũ lụt và hạn hán…)
 
 
I.Đặc trưng khí hậu Việt Nam
Căn cứ vào hệ thống phân tích phức tạp trong hoạt động của các hoàn lưu lớn (gió mùa,tín phong) cùng các hệ thống sơn văn lớn,người at chia khí hậu lãnh thổ Việt Nam ra thành 3 miền chính và một miền phụ là khí hậu biển Đông.
1.Miền khí hậu phía Bắc
Được xác định là bao gồm phần phía bắc lãnh thổ Việt Nam,tính từ Hoàng Sơn (đèo ngang) ở khoảng vĩ tuyến 18 độ bắc trở ra.Tại khu vực này thường xuyên một loại hình khí hậu đặc biệt:khí hậu nhiệt đới gió màu có mùa đông lạnh.
Mặc dù chỉ có 3 tháng nhiệt độ trung bình dưới 20 độ (tính cho các khu vực đồng bằng,ở các vùng núi cao có thể kéo dài hơn) nhưng cũng không có ít những ngày rét liên tục dưới 5 độ.Nhiệt độ thấp nhất ở vùng núi có thể xuống dưới OO ,tất nhiên các đỉnh núi cao trên dãy Phanxipang nhiệt độ còn thấp hơn thế nữa.Vào những ngày nhiệt độ xuống thấp nhất ở Sa Pa đã thấy có tuyết.
Ở đồng bằng lấy Hà Nội làm chuẩn nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất vào khoảng 16 đến 17 độ,nhiệt độ tối thấp xuống đến 2,6 độ.Biên độ nhiệt trung bình năm 14-160 như vậy là vượt giới hạn của miền nhiệt đới.
Có hai yếu tố ảnh hưởng đến đặc tính mùa đông của khí hậu phía bắc.Thứ nhất là trong mùa đông cũng xuất hiện nhiều đợt nắng ấm,đạt tỉ lệ gần 50% số ngày trong mùa.Thứ hai là tuy về nguyên tắc mùa khô nhưng vào cuối đông,sựu xâm nhập của gió màu cực đới thỉnh thoảng đem lại những ngày có mưa nhỏ,loại mưa phùn hay mưa bụi như vẫn quen gọi này đã làm cho mùa khô bị rút ngắn.Có thể coi thời gian từ cuối tháng 1 đến giữa tháng 3 là thời kỳ ẩm ướt nhất trong năm,là thời kỳ không có lợi cho con người nhưng có lợi cho thực vật và cây trồng.
Cũng như các miền khác,mùa hè miền Bắc là mùa mưa,kéo dài theo nguyên tắc từ tháng 4 đến tháng 10.Đây là màu có những nhiệt độ cao nhất trong năm:nhiệt độ tối cao trung bình lên tới 31 độ đến 32 độ,nhiệt độ tối cao tuyệt đối vượt mức 42 độ (Hà Nội:42,8 độ).Các tháng có mùa mưa lớn nhất là 7,8,9,mỗi tháng riêng ở Hà nội nhận được trên 30mm nước.Lượng mưa mùa mưa mùa mưa ở đây chiếm khoảng 80% lượng mưa trong năm và số ngày mưa chiếm 70% số ngày mưa trong năm.
Tuy nhiê,một trong những nét đặc thù của khí hậu miền bắc là tính theeisu ổn định của nó.mùa khô hay mùa mưa có thể bắt đầu hoặc kết thúc sớm hay muộn so với bình thường \.Trong mùa đông có thể coi là thời kỳ nắng ấm,trong mùa hè có thể có những ngày khô hạn \,đặc biệt à khi gió Tây thổi.Dông,bão,hội tụ nhiệt đới thường làm đảo lộn quy luật thông thường các yếu tố khí hậu,điều đó làm cho việc dự báo thời tiết trở nên khó khăn.
 
2.Miền khí hậu phía Nam
Bao gòm lãnh thổ sườn Tây dãy Trường Sơn,đông Nam Bộ và Đồng bằng Nam bộ .So với miền khí hậu phái bắc thì miền khí hậu phía Nam đơn giản hơn nhiều và đặc trưng cho khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình.
Do nằm ngoài ảnh hưởng của gió màu cực đới,lãnh thổ miền Nam quanh năm có nền nhiệt độ cao .Trên thực tế không có khái niệm mùa nhiệt ở đây.Nhiệt độ trung bình hàng năm ở vùng đồng bằng vào khoảng 26 đến 27 độ ,biên độ nhiệt giữa các tháng nóng nhất và lạnh nhất chỉ khoảng 3 đến 4 độ.
Sự phân biệt ra hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt hơn ở miền bắc.Trong mùa mưa (từ tháng 4-5 đến tháng 10-11) lượng mưa rơi chiếm đến 90% lượng mưa trong năm ,lượng mưa mùa khô chiếm khoảng 70%.Nhìn cung khí hậu miền Nam không biến động nhiều trong năm.Cũng có ít bão nhưng lại bị hạn hán đe dọa.
 
3.Miền khí hậu Trung và Nam Bộ
Đây là nơi chuyển tiếp giữa hai miền khí hậu nêu trên.Yếu tố ảnh hưởng to lớn với dải đất ven biển này là miền đông Trường Sơn và các hoành sơn.Dãy núi trưởng thành hoạt động như một vật cản đối với gió Tây Nam làm cho mùa mưa bị lệch đi so với toàn quốc,mùa khô cũng vậy.
Vào mùa hạ trong khi cả nước có mưa rơi lớn nhất thì cả dải ven biển từ nam đèo ngang cho tới Phan Thiết có thời tiết kho nóng nhất trong năm.Đây là ảnh hưởng của hiện tượng gió phơn loại gió nóng và khô thổi từ đỉnh núi xuống thung lũng hay đồng bằng do quá trình hun nóng đoạn nhiệt.Mưa chỉ tăng bắt đầu từ tháng 8 và đạt cực đại vào mùa đông tức là vào tháng 10-11,thời điểm cả nước đang là mùa khô,có khi kéo dài đến tháng 12-1.Các mùa mưa cũng là tháng có mưa bão lớn,lũ lụt xảy ra thường gây tàn phá nghiêm trọng.
Sự phân hóa nhiệt và mưa trên lãnh thổ Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ được thể hiện theo hai hướng từ bắc xuống nam từ đông sang tây.Nếu nư mùa đông,từ đòe Hải Vân trở ra đến đèo Ngang còn có thời tiết lạnh,nhiệt độ trung bình dưới 20 độ thì bắt đàu từ Quảng Nam-Đà Nẵng trở xuống phía Nam coi như ấm hoàn toàn.Đến Phú Yên-Khánh Hòa thì giống Nam Bộ.Chế độ mưa cũng giảm từ bắc xuống nam và thời gian xuất hiện mưa cực đại cũng muộn dần,cùng với sự muộn dần của bão.
Sự phân hóa nhiệt độ kể trên do ảnh hưởng của địa hình.Dải đất ven biển còn được điều hòa của biển nhưng lại chịu tác động mạnh của gió Tây.Dải đồi núi thấp phía trong đã có khí hậu khắc nghiệt hơn còn sườn đông Trường Sơn,sườn đón gió thì ấm hơn và mưa nhiều hơn cùng với sự giảm nhiệt độ theo độ cao.
 
 
4.Miền khí hậu biển đông
Đây là miền khí hậu tương đối đồng nhất hơn cả.Các đặc điểm của miền khí hậu này bắt nguồn từ đặc tính hải dương của nó.Biểu thị ở chỗ biên độ nhiệt trong năm không lớn.,giao động nhiệt giữa ngày đêm coi như không đáng kể dù là ở bắc hay nam biển đông.Độ ẩm không khí trong năm và dĩ nhiên gió mạnh hơn trên đất liền.Các cơ bão trước khi cập bờ lúc nào cũng đi vào biển đông trước tiên
 
5.Miền khí hậu Tây Nguyên
Khí hậu của Tây Nguyên chia làm 3 kiểu.Đầu tiên là kiểu khí hậu phía bắc Tây Nguyên (bao gồm Kon Tum,Gia Lai) có mùa lạnh và mùa nóng phân biệt rõ,biên độ nhiệt trung bình năm khoảng 3 độ.Lượng mưa hàng năm từ 2000 đến 3000mm,tập trung nhiều nhất trong năm khoảng 6-7 tháng (từ tháng 4 đến thán 10),trong đó lượng mưa tổng cộng như Plei Ku acao gấp 23 lần lượng mư atrong mùa khô (2571 mm so với 113mm).Sự biến động khí hậu về mặt không gian cũng rất đáng chú ý:Plei Ku chỉ cách Kon TuM 47km nhưng lượng mưa ở Kon Tum đã kém hơn Plei Ku  đến 800mm.Những sự biến động về nhiệt độ và lượng mưa trong năm như vậy có thể thấy ở Tây Nguyên.
Khí hậu Nam Tây Nguyên bao gồm Lâm Đồng và các khu vực phụ cận có đặc trưng là nền nhiệt độ thấp hơn so với các khu vực khác vì có độ cao địa hình .lượng mwua trung bình năm xấp xỉ Bắc Tây Nguyên,trong đó Bảo Lộc và Di Linh có lượng mưa trung bình cao hơn cả.
Khu vực Trung Tây Nguyên gồm Cao Nguyên Đắc Lắc và vùng thung lũng song Đà Rằng ,song Srepock có nền nhiệt cao hơn hẳn hai khu vực trước,lượng mư hằng năm nhỏ hơn và thường có nắng hạn vào mùa khô.Nhiều bằng chứng cho thấy rằng nhiệt độ ở Tây Nguyên nhất là ở Đắc Lắc hiện nay tăng cao hơn và lượng mưa vào màu mưa cũng ít hơn thời kỳ trước 1954.Đây là hậu quả của việc mất đi lớp phủ rừng qui mô lớn
 
Cụ thể:
1.Sa Pa-Lào Cai
Nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam, thị trấn Sa Pa ở độ cao 1.600 mét so với mực nước biển, cách thành phố Lào Cai 38 km và 376 km tính từ Hà Nội. Ngoài con đường chính từ thành phố Lào Cai, để tới Sa Pa còn một tuyến giao thông khác, quốc lộ 4D nối từ xã Bình Lư, Lai Châu. Mặc dù phần lớn cư dân huyện Sa Pa là những người dân tộc thiểu số, nhưng thị trấn lại tập trung chủ yếu nhữngngười Kinh sinh sống bằng nông nghiệp và dịch vụ du lịch.
Sa Pa có khí hậu mang sắc thái ôn đới và cận nhiệt đới, không khí mát mẻ quanh năm. Thời tiết ở thị trấn một ngày có đủ bốn mùa: buổi sáng là tiết trời mùa xuân, buổi trưa tiết trời như vào hạ, thường có nắng nhẹ, khí hậu dịu mát, buổi chiều mây và sương rơi xuống tạo cảm giác lành lạnh như trời thu và ban đêm là cái rét củamùa đông. Nhiệt độ không khí trung bình năm của Sa Pa là 15 °C. Mùa hè, thị trấn không phải chịu cái nắng gay gắt như vùng đồng bằng ven biển, khoảng 13 °C – 15 °C vào ban đêm và 20 °C – 25 °C vào ban ngày. Mùa đông thường có mây mù bao phủ và lạnh, nhiệt độ có khi xuống dưới 0 °C, đôi khi có tuyết rơi. Lượng mưa trung bình hàng năm ở đây khoảng từ 1.800 đến 2.200 mm, tập trung nhiều nhất vào khoảng thời gian từ tháng 5 tới tháng 8.
Thị trấn Sa Pa là một trong những nơi hiếm hoi của Việt Nam có tuyết. Trong khoảng thời gian từ1971 tới 2011, 15 lần tuyết rơi tại Sa Pa. Lần tuyết rơi mạnh nhất vào ngày 13 tháng 2 năm 1968, liên tục từ 3 giờ sáng đến 14 giờ cùng ngày, dày tới 20 cm.
   Nhiệt độ và lượng mưa trung bình tại Sa Pa
Tháng
 1
 2
 3
 4
 5
 6
 7
 8
 9
10
11
12
Năm
Nhiệt độ trung bình (°C)
8
7
14
17
17
20
19
19
18
16
11
8
15
Lượng mưa trung bình (mm)
140
80
100
140
285
290
490
670
260
50
140
50
168


 
 
 
 
2.Hải Phòng-Hải Phòng
Thời tiết Hải phòng mang tính chất đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt nam: nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt. Nhiệt độ trung bình vào mùa hè là khoảng 32,5 °C, mùa đông là 20,3 °C.Cả năm là trên 23.9 °C. Lượng mưa trung bình năm là khoảng 1600 - 1800 mm. Độ ẩm trong không khí trung bình 85 - 86%.Thấp nhất vào tháng 12, đỉnh điểm vào tháng 2 ( 100% ).
Tuy nhiên, Hải Phòng có một chút khác biệt so với Hà Nội về mặt nhiệt độ và thời tiết. Do cạnh biển, thành phố này ấm hơn 1 °C vào mùa đông và mát hơn 1 đến 2 độ vào mùa hè.Ngoài ra, thành phố trồng rất nhiều cây nên không khí ở đây kể cả vào ngày trời nóng vẫn rất thoáng đãng và trong lành, các đường phố có nhiều bóng cây râm mát.
 
 
 
3.Vinh-Nghệ An
Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt và có sự biến động lớn từ mùa này sang mùa khác.
Nhiệt độ trung bình 24°C, nhiệt độ cao tuyệt đối 42.1°C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 4°C. Độ ẩm trung bình 85-90%. Số giờ nắng trung bình 1.696 giờ. Năng lượng bức xạ dồi dào, trung bình 12 tỷ Keal/ha năm, lượng mưa trung bình hàng năm 2.000mm thích hợp cho các loại cây trồng phát triển.
Có hai mùa gió đặc trưng: Gió Tây Nam - gió khô xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 9 và gió Đông Bắc - mang theo mưa phùn lạnh ẩm ướt kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau.
 
 
4.Huế-Thừa Thiên Huế
Thành phố Huế có sự ngoại lệ về khí hậu so với vùng Bắc Bộ và Nam Bộ, vì nơi đây khí hậu khắc nghiệt và có sự khác nhau giữa các miền và khu vực trong toàn tỉnh. Vùng duyên hải và đồng bằng có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, trời nóng và oi bức, có lúc lên tới 39,9ºC. Từ tháng 8 đến tháng 1 là mùa mưa và hay xảy ra bão lụt, nhiệt độ trung bình 19,7ºC, cũng có khi hạ xuống còn 8,8ºC, trời lạnh. Vào mùa này có những đợt mưa suốt ngày, kéo dài cả tuần lễ.
Vùng núi mưa nhiều, khí hậu mát mẻ, nhiệt độ dao động từ 9ºC đến 29ºC.
 
5.Đà Nẵng-Đà Nẵng
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9 °C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung bình 28-30 °C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18-23 °C. Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C.
Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình 85,67-87,67%; thấp nhất vào các tháng 6, 7, trung bình 76,67-77,33%.
Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình 550-1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình 23-40 mm/tháng.
Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 đến 165 giờ/tháng.
 
 
6.Đà Lạt-Lâm Đồng
Nằm ở độ cao 1.500 mét và được các dãy núi cùng quần hệ thực vật rừng, đặc biệt là rừng thông bao quanh, nên tuy ở trong vùng nhiệt đới gió mùa, Đà Lạt vẫn có một khí hậu miền núi ôn hòa và dịu mát quanh năm. Ở Đà Lạt có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa trùng với mùa gió mùa tây nam, bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10. Còn mùa khô trùng với mùa gió mùa đông bắc, kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau. Vào mùa khô, Đà Lạt chịu ảnh hưởng của khối không khí biển Đông, mang lại thời tiết nắng ấm, ít mây, không mưa, nhiệt độ hạ thấp về ban đêm và biên độ nhiệt lớn. Trong những tháng mùa mưa, gió mùa đông bắc hầu như không còn ảnh hưởng đến Đà Lạt, thay thế bởi khối không khí xích đạo từ phía nam tràn lên phía bắc. Gió mùa tây nam mang lại nguồn ẩm chủ yếu cho những trận mưa lớn và những đợt mưa kéo dài nhiều ngày. Mặc dù vậy, do ảnh hưởng của khối không khí nhiệt đới Thái Bình Dương, trong mùa mưa vẫn có những thời kỳ thời tiết tạnh ráo.
Nhiệt độ trung bình tháng ở Đà Lạt không bao giờ vượt quá 20°C, ngay cả trong những tháng nóng nhất. Tuy vậy, Đà Lạt cũng không phải là nơi có nhiệt độ trung bình tháng thấp, trong những tháng mùa đông, nhiệt độ trung bình tháng vẫn trên 14°C. Theo số liệu thống kê từ năm 1964 tới năm 1998, nhiệt độ trung bình năm ở Đà Lạt là 17,9°C, trong đó năm 1973 có nhiệt độ trung bình cao nhất lên đến 18,5°C, còn năm 1967 nhiệt độ trung bình xuống thấp nhất, 17,4°C. Nếu so sánh với Sa Pa, thị trấn nghỉ dưỡng ở miền Bắc nằm trên độ cao 1.581 mét, thì nhiệt độ trung bình ở Đà Lạt cao hơn 2,6°C. Biên độ nhiệt độ ngày đêm ở Đà Lạt rất lớn, trung bình năm đạt 11°C, cao nhất trong những tháng mùa khô, lên tới 13 – 14°C, và thấp nhất trong những tháng mùa mưa, chỉ khoảng 6 – 7°C. Ngược lại, biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm lại nhỏ, tháng ấm nhất và tháng lạnh nhất cũng chỉ chênh lệnh 3,5°C. Độ dài ngày trong các mùa ở Đà Lạt không có sự chênh lệch lớn, trung bình khoảng từ 11 đến ít hơn 12 giờ vào mùa đông và trên 12 giờ vào mùa hè. Tổng số giờ nắng trong năm ở đây tương đối cao, khoảng 2.258 giờ một năm, tập trung chủ yếu vào các tháng 12, 1, 2 và 3 của mùa khô. Tổng lượng bức xạ thu nhập ở Đà Lạt khoảng 140 kCalo/cm²/năm, nhiều nhất vào tháng 4 và ít nhất vào tháng 8. Nếu so với các vùng lân cận, lượng bức xạ Mặt Trời của Đà Lạt không cao, nhưng đây là nguồn năng lượng chủ yếu cho các quá trình trao đổi nhiệt, mang lại nền nhiệt độ thấp và tương đối ôn hòa.
Mùa mưa ở Đà Lạt thường bắt đầu vào cuối tháng 4, đầu tháng 5 và kết thúc vào khoảng cuối tháng 10, đầu tháng 11. Tuy hàng năm, thời điểm bắt đầu và kết thúc của mùa mưa có thể thay đổi, nhưng mùa mưa ở đây thường kéo dài khoảng hơn 6 tháng. Trung bình, một năm Đà Lạt có 161 ngày mưa với lượng mưa 1.739 mm, tập trung nhiều nhất vào ba tháng 7, 9 và 10, ba tháng có sự hoạt động mạnh của trường gió mùa tây nam. Nếu lấy trung bình từ tháng 5 tới tháng 10, tổng lượng mưa trong mùa mưa ở Đà Lạt chiếm đến gần 80% lượng mưa của cả năm. So với vùng đồng bằng, Đà Lạt có số ngày mưa trong năm nhiều hơn, nhưng lượng mưa lại thấp hơn. Ở Đà Lạt còn có một hiện tượng thời tiết đáng chú ý khác là sương mù, trung hình 80 đến 85 ngày trong một năm, nhưng xuất hiện nhiều nhất vào khoảng thời gian từ tháng 2 tới tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 10. Phổ biến hơn cả là loại sương mù bức xạ được hình thành khi mặt đất bị lạnh đi nhiều do bức xạ vào lúc trời quang, lặng gió. Sương mù dày ít xảy ra hơn, thường gặp vào tháng 9 và tháng 10, trung bình mỗi tháng có tới 4 đến 5 ngày sương mù dày.
 Khí hậu Đà Lạt
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Năm
Trung bình tối cao°C
22.3
24.0
25.0
25.2
24.5
23.4
22.8
22.5
22.8
22.5
21.7
21.4
20,6
Trung bình tối thấp°C
11.3
11.7
12.6
14.4
16.0
16.3
16.0
16.1
15.8
15.1
14.3
12.8
14,3
Lượng mưa mm
11
24
62
170
191
213
229
214
282
239
97
36
1.739

 
 
 
 
7.Thành phố Hồ Chí Minh
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, Thành phố Hồ Chí Mình có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từtháng 12 tới tháng 4 năm sau. Trung bình, Thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới 270 giờ nắng một tháng, nhiệt đó trung bình 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống 13,8 °C. Hàng năm, thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới 28 °C. Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392 mm vào năm 1958. Một năm, ở thành phố có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9. Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Ðông Bắc. Các quận nội thành và các huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại.
Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Ðông Bắc. Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung bình 3,6 m/s, vào mùa mưa. Gió Gió Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2,4 m/s, vào mùa khô. Ngoài ra còn có gió tín phongtheo hướng Nam – Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, trung bình 3,7 m/s. Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão. Cũng như lượng mưa, độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa, 80%, và xuống thấp vào mùa không, 74,5%. Trung bình, độ ẩm không khí đạt bình quân/năm 79,5%
 
 
 
 
 
 
 
 
KHÍ TƯỢNG
 
1.Bão-áp thấp nhiệt đới
Bão và áp thấp nhiệt đới là một xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) có gió mạnh nhất vùng gần tâm mạnh cấp 6 trở lên (tức là trên 39km/h).
Bão và áp thấp nhiệt đới là một xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) có gió mạnh nhất vùng gần tâm mạnh cấp 6 trở lên (tức là trên 39km/h). Trong nghiệp vụ dự báo người ta phân biệt: Khi gió mạnh nhất vùng gần tâm XTNĐ mạnh cấp 6 – 7 (Tức là 10,8 – 17,2m/s) được gọi là áp thấp nhiệt đới (ATNĐ); Khi gió mạnh nhất vùng gần tâm XTNĐ mạnh từ cấp 8 trở lên (Tức là trên 17,2m/s) được gọi là bão.
* Vậy xoáy thuận nhiệt đới là gì? 
Xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) là một hệ thống khí áp thấp ở vùng nhiệt đới. Áp suất khí quyển (khí áp) trong XTNĐ thấp hơn rất nhiều so với xung quanh. Vùng có khí áp nhỏ nhất được gọi là vùng trung tâm. Ở Bắc Bán cầu XTNĐ có hoàn lưu gió xoáy vào tâm theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, ngược lại ở Nam Bán Cầu gió xoáy vào tâm XTNĐ theo hướng thuận chiều kim đồng hồ.
 
2.Mưa lớn
Hiện tượng mưa lớn là hệ quả của một số loại hình thời tiết đặc biệt như bão, áp thấp nhiệt đới hay dải hội tụ nhiệt đới, front lạnh, đường đứt... Đặc biệt khi có sự kết hợp của chúng sẽ càng nguy hiểm hơn gây nên mưa, mưa vừa đến mưa to, trong một thời gian dài trên một phạm vi rộng.
Theo “Qui định tạm thời về tổng kết các hiện tượng thời tiết nguy hiểm hàng năm” của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, căn cứ vào lượng mưa thực tế đo được trong 24 giờ tại các trạm quan trắc khí tượng bề mặt, trạm đo mưa trong mạng lưới KTTV mà phân định các cấp mưa khác nhau theo qui định của Tổ chức Khí tượng Thế giới. Mưa lớn được chia làm 3 cấp:- Mưa vừa: Lượng mưa đo được từ 16 - 50 mm/24h.- Mưa to: Lượng mưa đo được từ 51 - 100 mm/24h.- Mưa rất to: Lượng mưa đo được > 100 mm/24h.Ngày có mưa lớn là ngày xảy ra mưa trong 24 giờ (từ 19 giờ ngày hôm trước đến 19 giờ ngày hôm sau) đạt cấp mưa vừa trở lên.Trong các nghiên cứu về ảnh hưởng của mưa thì cấp mưa to 51 - 100 mm/24h bắt đầu có những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống con người.
 
 
3.Mưa đá
Mưa đá là hiện tượng mưa dưới dạng hạt hoặc cục băng có hình dáng và kích thước khác nhau do đối lưu cực mạnh từ các đám mây dông gây ra. Kích thước có thể từ 5 mm đến hàng chục cm, thường cỡ khoảng một vài cm, có dạng hình cầu không cân đối. Những hạt mưa đá thường rơi xuống cùng với mưa rào.
Mưa đá là hiện tượng mưa dưới dạng hạt hoặc cục băng có hình dáng và kích thước khác nhau do đối lưu cực mạnh từ các đám mây dông gây ra. Kích thước có thể từ 5 mm đến hàng chục cm, thường cỡ khoảng một vài cm, có dạng hình cầu không cân đối. Những hạt mưa đá thường rơi xuống cùng với mưa rào. Mưa đá thường kết thúc rất nhanh trong vòng 5 -10 phút, lâu nhất cho cả một vệt mưa cũng chỉ 20 - 30 phút Trong cơn dông mưa đá thường kèm theo gió rất mạnh, có khi là gió lốc kèm theo mưa đá, sức tàn phá hết sức khủng khiếp do gió mạnh và xoáy gây ra. Ngoài gió rất mạnh ra thì bản thân những hòn mưa đá cũng có khi gây ra đổ nhà, tàn phá cây cối, thậm chí chết người. Vì vậy mưa đá được xếp vào những hiện tượng thời tiết nguy hiểm. Mưa đá thường xảy ra ở vùng núi hay khu vực giáp biển, giáp núi (bán sơn địa), còn vùng đồng bằng ít xảy ra hơn. Vì vậy ở nước ta mưa đá có thể xảy ra ở khắp các vùng miền. và cả trong mùa hè. Riêng ở vùng núi phía bắc nước ta, từ tháng 1 đến tháng 5 hàng năm thường có mưa đá, nhiều nhất là từ tháng 3 đến tháng 5, mà nguyên nhân chủ yếu là các đợt front lạnh cực mạnh tràn về nhanh. Khi chưa nhận được tin dự báo mưa đá bạn đọc vẫn có thể qua hiểu biết mà tự phòng tránh: Nếu thấy trời nổi dông gió, mây đen bao phủ bầu trời gần như kín tầm mắt, có dạng như bầu vú, rồi dông gió nổi lên mạnh, tạo ra tiếng "ù ù, ầm ầm" liên tục thì bạn hãy cảnh giác với mưa đá. Nếu tiếp đó lắc rắc vài hạt mưa rào, ta cảm thấy nhiệt độ không khí như lạnh đi, có thể mưa đá đã kéo đến. Hãy cùng nhau chiêm nghiệm, rất lợi ích và thú vị!.
 
4.Dông
Dông trong khí tượng được hiểu là hiện tượng khí tượng phức hợp gồm chớp và kèm theo sấm do đối lưu rất mạnh trong khí quyển gây ra. Nó cũng thường kèm theo gió mạnh, mưa rào, sấm sét dữ dội, thậm chí cả mưa đá, vòi rồng (ở vùng vĩ độ cao có khi còn có cả tuyết rơi).
Thuật ngữ "dông" tiếng Anh là "thunderstorm", từ điển khí tượng Trung Quốc dịch là "lôi bạo" (âm Hán-Việt) nghĩa là sấm dữ dội), còn trong dân gian ta "dông" là "trận gió to", không hoàn toàn trùng với thuật ngữ "dông" trong khí tượng.Người La-mã xưa thì cho rằng dông sét là những trận chiến giữa thần sấm (Jupiter, còn thần thoại Hy lạp là thần Zuis) và thần lửa (Vulkan). Dông được xếp vào thời tiết nguy hiểm vì hàng năm có nước sét đánh chết hàng nghìn người, gây ra hàng trăm vụ cháy rừng, cháy nhà, làm hư hỏng nhiều thiết bị máy móc, nhất là các thiết bị điện tử.
Dông ở nước ta có thể xảy ra quanh năm, nhưng vào tháng chính đông ở khu vực Bắc bộ nước ta dông rất ít, có năm gián đoạn đến dịp sang xuân. Dông thường sinh ra trong thời tiết nóng ẩm nên về mùa hè ở nước ta dông xảy ra thường xuyên hơn, thường vào buổi chiều hay chiều tối và được gọi là dông nhiệt. Đặc biệt trên các vùng núi hay sông hồ trong những tháng nóng ẩm, dông có thể xuất hiện nhiều và bất thường, lại hay kèm theo gió mạnh nên rất nguy hiểm cho tính mạng con người.
 
 
5.Tố,lốc,vòi rồng
Tố là hiện tượng gió tăng tốc đột ngột, hướng cũng thay đổi bất chợt, nhiệt độ không khí giảm mạnh, ẩm độ tăng nhanh thường kèm theo dông, mưa rào hoặc mưa đá. Đôi khi có những đám mây kỳ lạ bỗng xuất hiện. Chân mây tối thẫm, bề ngoài tơi tả, mây bay rất thấp và hình thay đổi mau. Đó là những đám mây báo trước gió mạnh đột ngột, thường là Tố. Tố xảy ra khi không khí lạnh tràn vào vùng nóng và nâng không khí nóng lên đột ngột. Tố thường xảy ra trong một thời gian ngắn chừng vài phút. Vùng Tố là một dải dài và hẹp chuyển dịch với tốc độ khá lớn, tới cấp 10. Tố rất nguy hiểm và xảy ra đột ngột chưa dự đoán trước được.    Lốc là những xoáy trong đó gió trong hoàn lưu nhỏ cỡ hàng chục, hàng trăm mét. Lốc xoáy là những xoáy nhỏ cuốn lên, có trục thẳng đứng, thường xảy ra khi khí quyển có sự nhiễu loạn và về cơ bản là không thể dự báo được. Nguyên nhân sinh gió lốc là những dòng khí nóng bốc lên cao một cách mạnh mẽ. Trong những ngày hè nóng nực, mặt đất bị đốt nóng không đều nhau, một khoảng nào đó hấp thụ nhiệt thuận lợi sẽ nóng hơn, tạo ra vùng khí áp giảm và tạo ra dòng thăng. Không khí lạnh hơn ở chung quanh tràn đến tạo hiện tượng gió xoáy, tương tự như trong cơn bão. Tốc độ gió của lốc tăng mạnh đột ngột trong một thời gian rõ rệt.     Hai hiện tượng tố, lốc thường xảy ra nhanh, không lan rộng. Về định nghĩa chuyên ngành thì đây là hai hiện tượng khác nhau, nhưng khi thu thập số liệu từ nhiều nguồn khác nhau thì hai hiện tượng này thường được thống kê đan xen lẫn lộn. Do vậy hai hiện tượng này tạm ghép thành một hiện tượng (tố lốc).     Ở Việt Nam số liệu thống kê về vòi rồng rất ít, do vậy cơ sở dữ liệu và bản đồ về hiện tượng này chưa được xây dựng. Vòi rồng là hiện tượng gió xoáy rất mạnh, phạm vi đường kính rất nhỏ, hút từ bề mặt đất lên đám mây vũ tích, tạo thành hình như cái phễu di động, trông giống như cái vòi, nhưng từ trên bầu trời thò xuống nên dân ta "tôn kính" gọi là "vòi rồng" (mà không gọi là vòi voi chẳng hạn), chứ thực tế không có con rồng nào cả. Trên đường di chuyển nó có thể cuốn theo (rồi ném xuống ở một khoảng cách sau đó) hoặc phá huỷ mọi thứ, kể cả những nhà gạch xây không kiên cố, nên nó cũng là hiện tượng khí tượng đặc biệt nguy hiểm. Nhìn từ xa vòi rồng có thể có màu đen hoặc trắng, tuỳ thuộc những thứ mà nó cuốn theo. Vòi rồng xuất hiện ở trên đại dương thường hút nước biển lên cao tạo thành các cây nước (waterspouts). Rất thú vị là không phải chỉ có dân ta "tôn kính" gọi nó là vòi rồng mà cả ở Trung quốc người ta cũng gọi là vòi rồng (âm Hán-Việt là "lục long quyển"). Còn tiếng Anh thuật ngữ đó là "Tornado" có nguồn gốc từ tiếng Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha, đều có nghĩa là "quay" hay "xoáy" (gió xoáy).     Khủng khiếp hơn Tố là Vòi rồng. Một đám mây đen kịt đang trôi rất thấp, chợt từ chân mây thòi ra chiếc vòi đen khổng lồ từ từ hạ xuống mặt đất. Bụi, cát, đá bị cuốn lên nối với vòi mây, uốn éo, rít lên những tiếng ghê rợn. Đó là Vòi rồng. Vòi rồng là một xoáy khí nhỏ nhưng cực mạnh. Khi một khối không khí nóng, ẩm di chuyển ở dưới một khối không khí lạnh khô thì có khả năng làm xuất hiện những xoáy khí. Nếu xoáy khí này có áp suất trung tâm rất thấp nghĩa là vật chất trong tâm xoáy rất loãng thì không khí nóng, ẩm ở phía dưới bị hút lên tạo thành một cái vòi chuyển động xoáy rất mãnh liệt. Đó là nguyên nhân phát sinh vòi rồng. Vòi rồng nuốt chửng những vật nó gặp trên đường đi, cuốn chúng lên cao, mang đi xa rồi ném trả lại mặt đất ở rải rác các nơi. Vòi rồng là một luồng gió xoáy có sức phá hoại mãnh liệt. Tốc độ gió trong vòi rồng còn lớn hơn gió bão, có khi tới hàng trăm mét trong một giây. Vòi rồng phát triển từ một cơn dông, thường từ ổ dông rất mạnh hay siêu mạnh, nên ở đâu có dông dữ dội là ở đó có thể có vòi rồng, song cũng may là nó rất hiếm. Cũng có khi nó sinh ra từ một dải gió giật mạnh (được gọi những đường tố) hay từ một cơn bão. Người ta cho rằng khi không khí ở lớp bên trên lạnh đè lên lớp không khí nóng ở phía dưới, không khí nóng sẽ bị cưỡng bức chuyển động lên rất mạnh, thế nhưng khí vòi rồng xảy ra trên mặt nước thì thường lại không thấy đối lưu và cũng không thấy sự khác biệt nhiệt độ giữa các lớp. Vì vậy nguyên nhân vòi rồng con người vẫn chưa hoàn toàn hiểu được hết.    Ở nước ta, vòi rồng và tố thường xuất hiện vàc các tháng mùa hè. Năm nào cũng xảy ra hiện tượng này, song có năm nhiều, năm ít. Ở Bắc Bộ vòi rồng, tố không những xảy ra trong các tháng mùa hè, mà đặc biệt thường hay xảy ra vào các giai đoạn chuyển tiếp từ đông sang hè (tháng 4, tháng 5), mỗi khi có một đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới. Ở Nam Bộ số lần xảy ra vòi rồng ít hơn ở Bắc Bộ và Trung Bộ. 
 
 
 
6.Sương mù
Sương mù là hiện tượng hơi nước ngưng tụ thành các hạt nhỏ li ti trong lớp không khí sát mặt đất, làm giảm tầm nhìn ngang xuống dưới 1 km. Nó giống như mây thấp nhưng khác ở chỗ sương mù tiếp xúc trực tiếp với bề mặt đất, còn mây thấp không tiếp súc với bề mặt đất mà cách mặt đất một khoảng cách được gọi là độ cao chân mây. Chính vì thế người ta xếp sương mù vào họ mây thấp. Căn cứ vào nguyên nhân hình thành, sương mù được chia ra các loại khác nhau như: + Sương mù bức xạ hình thành khi mặt đất lạnh đi do bức xạ vào ban đêm trời quang mây, lặng gió; + Khi không khí ẩm di chuyển ngang qua nơi có bề mặt lạnh sẽ bị lạnh đi nên hình thành sương mù bình lưu; + Khí không khí lạnh di chuyển qua miền có mặt nước ấm hơn nhiều thì hơi nước bốc lên gặp lạnh nhanh chóng ngưng tụ thành sương mù bốc hơi. Ngoài ra còn sương mù do mưa, sương mù thung lũng, v.v...Mù là hiện tượng tập hợp các hạt bụi, khói lơ lửng trong không khí, làm giảm tầm nhìn ngang. Mù mạnh có thể làm giảm tầm nhìn ngang xuống vài trăm mét, thậm chí hàng chục mét như sương mù mạnh. Mù thường do nguyên nhân địa phương như cháy rừng, môi trường ô nhiễm,...Sương mù và mù đều là hiện tương khí tượng nguy hiểm. Đặc biệt đối với giao thông vận tải đường bộ, đường sông, đường biển và hàng không, hàng năm sương mù đã gây ra những trở ngại và tổn thất không nhỏ.     Sương mù ở nước ta thường xảy ra thường xuyên vào các tháng từ cuối mùa thu đến cuối mùa xuân, nhiều và mạnh nhất vào các tháng mùa đông. Ngày nay môi trường không khí càng ngày càng ô nhiễm nên sương mù và mù xảy ra nhiều hơn và cường độ mạnh hơn.
 
 
7.Sương muối
Sương muối là hiện tượng hơi nước đóng băng thành các hạt nhỏ và trắng như muối ngay trên mặt đất hay bề mặt cây cỏ hoặc các vật thể khác khi không khí trên đó ẩm và lạnh. Nó thường hình thành vào những đêm đông, trời lặng gió, quang mây, khi mà bức xạ là nguyên nhân chủ yếu của quá trình lạnh đi của không khí và các vật thể. Nên nhớ rằng nó không mặn mà chỉ trắng như muối, gần giống với lớp tuyết ở trong khoang lạnh của tủ lạnh.     Xem ra "màu trắng" của nó đã được thể hiện trong tên gọi sương muối ở nhiều thứ tiếng trên thế giới, như tiếng Anh "hoar frost", trong đó "hoar" là "trắng như tóc hoa râm"; tiếng Trung là "bạch sương", bạch là trắng, tiếng Pháp là "gelée blanche", "blanche" là trắng. Có nơi cho rằng có 2 loại sương muối: "hoar frost" và "rime", nhưng với "rime", không khí ẩm ban đầu ngưng kết thành các hạt nước, sau đó mới bị lạnh đi để trở thành các hạt băng. Sương muối là hiện tượng nguy hiểm đối với nhiều loại cây trồng và vật nuôi.     Ở nước ta sau khi không khí lạnh về, vùng núi Bắc bộ nằm sâu trong không khí lạnh, đêm trời quang mây, lặng gió, không khí ẩm đã lạnh lại bị bức xạ mất nhiệt nên tiếp tục lạnh, nhiệt độ không khí giảm nhanh dẫn đến hình thành sương muối. Sương muối thường hình thành khi nhiệt độ không khí ian sương giá kéo dài.    Vào mùa thu, về đêm trời thường quang đãng, gió lặng, nhưng buổi sáng ta lại thấy những giọt nước long lanh đọng trên ngọn cỏ, lá cây. Đó là những hạt sương móc. Sương móc hình thành do sự ngưng hơi nước trên các vật ở gần sát mặt đất khi nhiệt độ các vật này giảm xuống dưới điểm sương của không khí. Trời quang, gió lặng chính là điều kiện thuận lợi cho sự hình thành sương móc.    Nếu nhiệt độ mặt đất giảm xuống 0oC hay thấp hơn, hơi nước sẽ ngưng kết thành thể rắn, xốp, có màu trắng như muối nên gọi là sương muối. Sương muối cũng là một loại thời tiết nguy hiểm vì nhiệt độ quá lạnh của nó làm chết cây trồng. Ở nước ta, hiện tượng sương muối thường xẩy ra trong các tháng mùa đông, nhất là vào các tháng 12, tháng 1 và tháng 2. Nơi hàng năm xuất hiện sương muối nhiều nhất là các tỉnh vùng núi Bắc Bộ, một số nơi trung du tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Bắc, Hòa Bình cũng có hiện tượng này. Thậm chí vùng núi Thanh Hóa và Tây Nghệ An (Nghệ Tĩnh) cũng có năm xuất hiện sương muối (như tháng 12 năm 1975). Các tỉnh Trung Trung Bộ trở vào đến Nam Bộ hầu như không có hiện tượng sương muối.
 
 
 
8.Gió khô nóng
 Trong khí tượng có hiện tượng gió vượt đèo được gọi là "Fơn" (foehn): từ bên kia núi gió thổi lên (anabatic wind), không khí bị lạnh dần đi rồi ngưng kết nên trút bớt ẩm nhưng cũng thu thêm nhiệt do ngưng kết toả ra, sau khi qua đỉnh gió thổi xuống (katabatic wind) bên này núi, nhiệt độ của nó tăng dần lên do quá trình không khí bị nén đoạn nhiệt, vì vậy đến chân núi bên này gió trở nên khô và nóng hơn. Núi càng cao chênh lệch nhiệt độ càng lớn. (thí dụ với dãy núi cao 3km, nhiệt độ không khí bên kia núi là 10oC, sang chân núi bên này nhiệt độ đã lên tới 18oC, theo Nicholas M. Short, NASA). Hiện tượng trên mỗi địa phương gọi mỗi tên khác nhau, “phơn” là tên gọi địa phương của thứ gió khô và nóng thổi trong các thung lũng của nước Áo và Thụy sĩ, ở phía bắc dãy núi An-pơ, ở tây nam nước Mỹ là "chinook", ở vùng giữa Alma-Ata và Frunze (Liên xô cũ) là "kastek", ở Việt Nam ta gọi là "gió Lào" (vì thổi từ Lào sang) hay gió tây khô nóng (gió có thể lệch tây). Gió khô nóng cũng là loại thời tiết nguy hiểm.Gió ẩm, sau khi vượt qua một chướng ngại vật cao (dãy núi cao chẳng hạn) bị biến đổi tính chất, trở nên khô nóng hơn, và biến thành gió “phơn”. Quá trình biến đổi tính chất như trên của gió gọi là quá trình “phơn”. Vật chướng ngại càng cao thì quá trình “phơn” càng mạnh, ở mỗi miền trên thế giới, gió “phơn” có tên gọi khác nhau (gió Lào ở Việt Nam, gió Chi-nuc ở Mỹ và Canada, gió Xanta Ana ở Califoocnia…)        Ở nước ta những nơi nào có gió “phơn” thổi?    Nước ta có lắm núi, nhiều đồi, gió thổi qua các miền đồi núi dù cao hay thấp đều biến thành gió “phơn” cả.    Đặc biệt ở một số miền núi, có những loại gió “phơn” nổi tiếng mà chúng ta đều biết, như gió Than Uyên thổi xuống cánh đồng Mường Than (huyện Than Uyên tỉnh Nghĩa Lộ, Tây Bắc), gió Ô quy hồ ở vùng Sapa. Nhưng điển hình nhất là gió Lào thổi trong một vùng rộng lớn về mùa hè từ Nghệ An đến cực Nam Trung bộ.        Nguồn gốc của gió Lào là gì?    Nguồn gốc của gió Lào chính là gió mùa mùa hè, mà thực chất là khối khí Ben-gan. Sau khi thổi qua lãnh thổ Campuchia và Lào, gió đã mất đi một phần hơi ẩm. Gặp dãy Trường Sơn, không khí bị đẩy lên cao và bị lạnh nên hầu hết hơi ẩm đều bị ngưng lại thành mưa trút xuống bên sườn phía Tây của dãy núi. Khi gió thổi sang bên sườn núi phía Việt Nam, gió trở nên khô và nóng, tức là “gió Lào”.    Nhưng động lực chủ yếu sinh ra gió Lào là vùng áp thấp thường hình thành ở miền Hoa nam, có khi trung tâm áp thấp nằm ngay ở đồng bằng Bắc bộ. Vùng áp thấp có tác dụng “gọi gió” hay “hút gió” vượt qua dẫy Trường Sơn. Vùng áp thấp này càng sâu thì gió Lào càng thổi mạnh, và có trường hợp tỏa rộng ra Bắc bộ, lên tới vùng Việt Bắc.        Trước khi gió Lào thổi thường có triệu chứng gì báo trước?    Trước khi gió Lào thổi, bầu trời thường trong xanh, gió yếu hay lặng gió. Trên nền trời chỉ có một vài vệt mây li ti. Chân trời phía Tây thường có mù khô màu vàng da cam, khí quyển rất trong có thể nhìn thấy một thứ nóng làm cho da mặt hầm hập như trong cơn sốt nhẹ. Tiết trời rất khô. Đó là bối cảnh báo trước sau một thời gian ngắn sẽ có gió Lào.     Đồng thời, nếu theo dõi diễn biến của các yếu tố khí tượng sẽ thấy như sau:    - Gió đổi hướng, yếu dần, rồi quay ngược chiều kim đồng hồ, chứng tỏ có vùng áp thấp đang ngự trị.    - Khí áp liên tục giảm xuống, khi nào mức giảm lớn nhất thì gió Lào sẽ thổi mạnh nhất.    - Tầm nhìn xa rất tốt.        Mùa gió Lào xảy ra vào thời gian nào?    Theo quy luật, ở miền Trung bộ, mùa gió Lào thường bắt đầu từ hạ tuần tháng 4 đến trung tuần tháng 9, trong đó gió Lào thổi nhiều nhất vào tháng 6 và tháng 7, mỗi tháng trung bình có 7-10 ngày, trong đó 2-4 ngày gió Lào thổi mạnh. Gió Lào thường thổi thành từng đợt, đợt ngắn từ 2 đến 3 ngày, có đợt từ 10 đến 15 ngày, có đợt kéo dài tới 20-21 ngày.        Gió Lào là một dạng thời tiết đặc biệt về mùa hè ở Trung Bộ Việt Nam. Gió Lào thổi theo hướng Tây nam. Trong một ngày, gió Lào thường bắt đầu thổi từ 8-9 giờ sang cho đến chiều tối, thổi mạnh nhất từ khoảng gần giữa trưa đến xế chiều. Có khi gió Lào thổi liên tục suốt cả ngày đêm, có đợt kéo dài trong 10 ngày đêm liền. Khi có gió Lào thổi, nhiệt độ cao nhất trong ngày thường vượt quá 37oC và độ ẩm nhất trong ngày thường giảm xuống dưới 50%. Gió tây thổi từ tây qua đông dãy Trường Sơn gây ra gió khô nóng chủ yếu ở khu vực miền Trung nước ta, thường xảy ra vào tháng 4, 5 và 6 hàng năm, thành từng đợt, kéo dài trong nhiều ngày. Thời tiết trong những ngày này rất khô, độ ẩm có khi xuống 30%, và nóng, nhiệt độ có khi lên tới 43oC, bầu trời không một gợn mây, trời nắng chói chang, gió lại thổi đều đều như quạt lửa, cây cỏ héo khô, ao hồ cạn kiệt, con người và gia súc bị ngột ngạt, rất dễ sinh hoả hoạn. Các nơi khác ở nước ta cũng có gió khô nóng, song mức độ thấp hơn so với Trung bộ, nên để định lượng hoá hiện tượng gió khô nóng các nhà khí tượng nước ta đưa ra chỉ tiêu: ngày có nhiệt độ >35oC, độ ẩm
 
9.Gió mùa,không khí lạnh
a.Rét đậm,rét hại
Rét đậm xuất hiện khi nhiệt độ trung bình trong ngày dưới 15oC.
 
Rét hại xuất hiện khi nhiệt độ trung bình trong ngày dưới 13oC
 
Rét đậm, rét hại là kéo dài từ 3 ngày liên tiếp trở lên theo chỉ tiêu thống kê của nông nghiệp thì được gọi là một đợt rét đậm, rét hại.
 
Trong nông nghiệp, rét đậm và rét hại gây thiệt hại nhiều cho việc sản xuất; rét đậm có ảnh hưởng đến quá trình gieo mạ, còn rét hại làm cho cây quang hợp kém, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và có khả năng cây lúa bị chết khi rét hại kéo dài trên 3 ngày.
 
Rét đậm, rét hại thường hay xảy ra ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nước ta vào các tháng chính đông (tháng XII năm trước và tháng I, tháng II năm sau). Trong thời điểm rét đậm xuất hiện ở vùng trung du các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ thì ở miền núi phía bắc thường bị rét hại, thậm chí nhiệt độ có thể xuống thấp hơn nhiều có thể gây ra tuyết, băng giá, sương muối và ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp và vật nuôi.
 
 
 
b.Gió mùa,không khí lạnh
Không khí lạnh là hiện tượng thời tiết khi khối không khí rất lạnh từ lục địa Châu Á di chuyển xuống khu vực nước ta, nơi đang có khối không khí ấm, gây ra gió đông bắc mạnh trời trở rét và thời tiết xấu, thời gian đặc trưng là vào thời kỳ gió mùa mùa đông nên còn gọi là "gió mùa đông bắc". Khối không khí lạnh này có nguồn gốc cực đới, tràn qua lục địa Châu Á dưới dạng front lạnh, xuống đến nước ta trong nhiều trường hợp không còn thể hiện rõ tính chất điển hình của một front lạnh nên ta gọi chung là "không khí lạnh".     Khi không khí lạnh tràn về, đẩy không khí nóng chuyển động lên cao, tạo thành một dải chuyển tiếp, người ta vẽ một đường phân cách giữa 2 khối không khí, khác nhau cơ bản về nhiệt độ và độ ẩm, được gọi là front lạnh (thuật ngữ này do Bjerknes (người Na-uy) đưa ra lần đầu vào lúc chiến tranh thế giới I đang đi đến hồi kết nên ông "lấy hứng" đặt là "front" (mặt trận) và được giữ nguyên trong mọi thứ tiếng).      Gió mùa đông bắc là hiện tượng thời tiết đặc biệt nguy hiểm, vì khi nó tràn về ngoài khơi vịnh Bắc bộ gió có thể mạnh đến cấp 6 - 7, có thể đánh đắm tầu thuyền, đất liền gió cấp 4 - 5, có thể làm hư hại nhà cửa, cây cối, các công trình đang thi công trên cao, ...Đặc biệt những đợt mạnh còn gây ra mưa to, gió lớn, thậm chí dông, tố lốc, có khi cả mưa đá. Vào những tháng chính đông (tháng 12, tháng 1), đêm về trời quang mây, gây ra sương muối, băng giá, thậm chí có năm cả tuyết rơi trên vùng núi cao; nếu kéo dài còn gây rét đậm, rét hại không những đối với cây trồng, gia súc mà cả con người. Ở ta không khí lạnh thường từ tháng 9 -10 đến tháng 5 - 6 năm sau, nhưng mạnh nhất vào các tháng chính đông, ảnh hưởng trực tiếp là khu vực phía bắc, từ đèo Ngang trở ra, ít khi đến nam Trung bộ.
 
 
10.Lũ lớn
Lũ là hiện tượng nước sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó giảm dần. Trong mùa mưa lũ, những trận mưa từng đợt liên tiếp trên lưu vực sông, làm cho nước sông từng đợt nối tiếp nhau dâng cao, tạo ra những trận lũ trong sông, suối. Vào các tháng mùa mưa có các trận mưa lớn, cường độ mạnh, nước mưa tích luỹ nhanh, nếu đất tại chỗ đã no nước thì nước mưa đổ cả vào dòng chảy, dễ gây ra lũ. Khi lũ lớn, nước lũ tràn qua bờ sông (đê), chảy vào những chỗ trũng và gây ra ngập lụt trên một diện rộng. Lũ lớn và đặc biệt lớn nhiều khi gây ra những thiệt hại to lớn về người và của cải. Cha ông ta đã xếp lũ, lụt là một trong những loại thiên tai nguy hiểm nhất.     Nước lũ do mưa (hay băng, tuyết ở những nước vùng vĩ độ cao) sinh ra nên mùa lũ thường đi đôi với mùa mưa. Mùa lũ ở Bắc bộ từ tháng 5-6 đến tháng 9-10, Bắc Trung bộ từ tháng 6-7 đến tháng 10-11, Trung và Nam Trung bộ: tháng 10-12, Tây nguyên: tháng 6-12, Nam bộ: tháng 7-12. Tuy vậy đầu mùa mưa cũng có thể có lũ sớm, như lũ "tiểu mãn", thường xảy ra vào "tiết tiểu mãn" (tháng 5) hàng năm ở vùng núi phía bắc nước ta. Song mùa lũ hàng năm cũng biến động cùng với mùa mưa, thậm chí sớm muộn 1-2 tháng so với trung bình nhiều năm.     Ở sông Hồng đã xẩy ra hai trận lũ đặc biệt lớn vào tháng 8 năm 1945 và tháng 8 năm 1971, đã gây ra vỡ đê nhiều nơi. Trận lũ năm 1971 là trận lũ lớn nhất trong vòng 100 năm qua ở sông Hồng. Ngoài ra, còn có các trận lũ lớn xẩy ra vào các năm: 1913, 1915, 1917, 1926, 1964, 1968, 1969, 1970, 1986, 1996, 2002...     Ở đồng bằng sông Cửu Long đã xẩy ra một số trận lũ lớn vào các năm: 1961, 1966, 1978, 1984, 1991, 1994, 1996, 2000, 2001…      Ở miền Trung những trận lũ lụt lớn đã xẩy ra vào các năm: 1964, 1980, 1983, 1990, 1996, 1998, 1999, 2001, 2003…      Một số biện pháp phòng chống lũ lụt lớn: trong phòng chống lũ, lụt nhằm giảm nhẹ thiệt hại người ta quy thành hai biện pháp, gồm: biện pháp công trình và biện pháp không công trình. Biện pháp công trình là nhằm thay đổi đặc tính của thiên tai như xây dựng các hồ chứa để điều tiết lũ, xây dựng các hệ thống đê ngăn lũ tràn vào đồng bằng, tu bổ bảo vệ đê điều, giải pháp phân, chậm lũ…. Biện pháp không công trình là nhằm thay đổi tác động của thiên tai như trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn để giảm thấp cường độ lũ lụt, xây nhà ở có khả năng chịu được nước lụt (chung sống với lũ)…
 
11.Lũ quét,sạt lở đất
Lũ lớn trên sông diễn biến chậm và thường xảy ra trên diện rộng và kéo dài, còn lũ quét là một hiện tượng thiên tai có tính chất và đặc điểm khác biệt là lũ diễn biến nhanh, mang tính bất thần và khốc liệt, mỗi trận xảy ra trên một diện hẹp và phạm vi tác động cũng hẹp hơn lũ sông. Nếu mưa lớn, nước mưa lại bị tích luỹ bởi các trướng ngại vật như đất đá, cây cối cho đến khi lượng nước vượt quá sức chịu đựng của vật chắn, phá vỡ vật chắn, ào xuống cấp tập (rất nhanh), cuốn theo đất đá, cây cối và quét đi mọi vật có thể quét theo dòng chảy thì được gọi là lũ quét (hay lũ ống), thường diễn ra rất nhanh, khoảng 3-6 giờ. Lũ quét xảy ra bất ngờ, nhanh, có sức tàn phá lớn ở các lưu vực nhỏ. Tiếng Anh lũ là flood, lũ quét là flash flood (flash là vụt hiện rồi tắt), tiếng Trung Quốc lũ là "hồng thuỷ", nghĩa là "nước lớn".     Lũ lụt là hiện tương thuỷ văn đặc biệt nguy hiểm, nhất là lũ quét. Trong một số trường hợp nó có sức tàn phá khủng khiếp và trở thành thảm hoạ tự nhiên, như trận lũ quét năm 1998 ở thị xã Lai châu (cũ) đã xoá sổ cả bản Mường Lay và khu vực thị xã. Lũ thường xảy ra ở vùng núi, nơi có địa hình đồi núi cao xen kẽ với thung lũng và sông suối thấp.      Lũ quét tạm thời có thể phân chia làm 3 loại: + Lũ gây ra do mưa địa phương, tập trung lớn ở các lưu vực tự nhiên (hầu như chưa có tác động của con người); + Lũ gây ra do mưa lớn trên các lưu vực đã chịu tác động mạnh của các hoạt động kinh tế của con người làm mất ổn định hay phá vỡ cân bằng sinh thái lưu vực (thay đổi lớp phủ, chế độ dòng chảy, lượng trữ hay các đặc tính lưu vực…); + Lũ gây ra do tháo, vỡ thình lình một lượng nước tích do vỡ đập chắn hay các đập giữ nước, các đập băng...     Lũ quét thường gây hoạ cho các sông nhỏ và vừa nhưng ít đối với sông lớn. ở các lưu vực sông suối nhỏ miền núi, nới có điều kiện thuận lợi để hình thành lũ quét như: địa hình chia cắt, độ dốc lưu vực và độ dốc long sông/suối lớn, độ ổn định của lớp đất trên bề mặt lưu vực yếu do quá trình phong hóa mạnh, lớp phủ thực vật bị tàn phá… ở những nơi này, khi xẩy ra mưa lớn, tập trung trong một thời gian ngắn thì dễ xảy ra lũ quét.     Lũ quét thường xẩy ra vào mùa lũ lớn như đã nói ở mục "Lũ lớn".
 
 
12.Hạn hán
Hạn là hiện tượng thời tiết khô không bình thường ở một khu vực do trong một thời gian dài không có mưa hay mưa không đáng kể. Song hạn không phải là hiện tượng thuần tuý vật lý, mà có sự tác động qua lại giữa nước tự nhiên với nhu cầu sử dụng nước của con người, vì thế định nghĩa chính xác về hạn là vấn đề phức tạp do phải cân nhắc rất nhiều mặt trong sự tương tác đó.          Nói chung người ta chấp nhận 3 định nghĩa sau đây về hạn: 1) Hạn khí tượng: là một thời kỳ dài mưa ít hơn trung bình nhiều năm; 2) Hạn nông nghiệp: là hạn khi mà thiếu độ ẩm đối với một thời vụ hay thời kỳ sản xuất trung bình. Điều này xảy ra ngay cả khi mưa ở mức trung bình, nhưng lại do điều kiện đất hay kỹ thuật canh tác đòi hỏi tăng lên; 3) Hạn thuỷ văn: là khi nước dự trữ có thể dùng được trong các nguồn như tầng ngầm, sông ngòi, hồ chứa tụt xuống mức thấp hơn trung bình thống kê. Điều này cũng có thể xảy ra ngay cả khi mưa trung bình, nhưng sử dụng nước tăng lên, làm thu hẹp mức dự trữ nước.      Về thuật ngữ thì nói "hạn" hay "hạn hán"? Tiếng Trung là "can hạn" hay "hạn" (âm Hán-Việt) nghĩa là "khô hạn" hay "hạn". Như vậy thuật ngữ "hạn" tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Hán, nên nói "hạn" hay "hạn hán" đều như nhau.      Hạn là hiện tượng có hại, có khi dẫn đến thảm hoạ như đã từng xảy ra ở một số nước Châu Phi. Ở nước ta hạn xảy ra ở cả 3 miền, nhưng miền trung hạn nặng nhất, nhiều vùng đang có nguy cơ sa mạc hoá. Hãy bảo vệ rừng và sử dụng tài nguyên nước hợp lý !
Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đói nghèo dịch bệnh...
a.Hạn hán là gì?
Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đói nghèo dịch bệnh...
b. Những nguyên nhân nào gây ra hạn hán?
Nguyên nhân gây ra hạn hán có nhiều song tập trung chủ yếu là 2 nguyên nhân chính:
Nguyên nhân khách quan: Do khí hậu thời tiết bất thường gây nên lượng mưa thường xuyên ít ỏi hoặc nhất thời thiếu hụt.
- Mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể trong thời gian dài hầu như quanh năm, đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khô hạn và bán khô hạn. Lượng mưa trong khoảng thời gian dài đáng kể thấp hơn rõ rệt mức trung bình nhiều năm cùng kỳ. Tình trạng này có thể xảy ra trên hầu khắp các vùng, kể cả vùng mưa nhiều.
- Mưa không ít lắm, nhưng trong một thời gian nhất định trước đó không mưa hoặc mưa chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của sản xuất và môi trường xung quanh. Đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khí hậu gió mùa, có sự khác biệt rõ rệt về mưa giữa mùa mưa và mùa khô. Bản chất và tác động của hạn hán gắn liền với định loại về hạn hán.
Nguyên nhân chủ quan: Do con người gây ra, trước hết là do tình trạng phá rừng bừa bãi làm mất nguồn nước ngầm dẫn đến cạn kiệt nguồn nước; việc trồng cây không phù hợp, vùng ít nước cũng trồng cây cần nhiều nước (như lúa) làm cho việc sử dụng nước quá nhiều, dẫn đến việc cạn kiệt nguồn nước; thêm vào đó công tác quy hoạch sử dụng nước, bố trí công trình không phù hợp, làm cho nhiều công trình không phát huy được tác dụng... Vùng cần nhiều nước lại bố trí công trình nhỏ, còn vùng thiếu nước (nguồn nước tự nhiên) lại bố trí xây dựng công trình lớn. Cạnh đó, chất lượng thiết kế, thi công công trình chưa được hiện đại hóa và không phù hợp. Thêm nữa, hạn hán thiếu nước trong mùa khô (mùa kiệt) là do không đủ nguồn nước và thiếu những biện pháp cần thiết để đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng gia tăng do sự phát triển kinh tế-xã hội ở các khu vực, các vùng chưa có quy hoạch hợp lý hoặc quy hoạch phát triển không phù hợp với mức độ phát triển nguồn nước, không hài hoà với tự nhiên, môi trường vốn vẫn tồn tại lâu nay. Mức độ nghiêm trọng của hạn hán thiếu nước càng tăng cao do nguồn nước dễ bị tổn thương, suy thoái lại chịu tác động mạnh của con người.
c. Hạn hán được phân loại như thế nào?
Theo tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) hạn hán được phân ra 4 loại: hạn khí tượng, hạn nông nghiệp, hạn thuỷ văn và hạn kinh tế xã hội.
* Thế nào là hạn khí tượng?
Thiếu hụt nước trong cán cân lượng mưa, lượng bốc hơi, nhất là trong trường hợp liên tục mất mưa. Ở đây lượng mưa tiêu biểu cho phần thu và lượng bốc hơi tiêu biểu cho phần chi của cán cân nước. Do lượng bốc hơi đồng biến với cường độ bức xạ, nhiệt độ, tốc độ gió và nghịch biến với độ ẩm nên hạn hán gia tăng khi nắng nhiều, nhiệt độ cao, gió mạnh, thời tiết khô ráo.
* Thế nào là hạn nông nghiệp?
Thiếu hụt mưa dẫn tới mất cân bằng giữa hàm lượng nước thực tế trong đất và nhu cầu nước của cây trồng. Hạn nông nghiệp thực chất là hạn sinh lý được xác định bởi điều kiện nước thích nghi hoặc không thích nghi của cây trồng, hệ canh tác nông nghiệp, thảm thực vật tự nhiên... Ngoài lượng mưa ra, hạn nông nghiệp liên quan với nhiều điều kiện tự nhiên (địa hình, đất,...) và điều kiện xã hội (tưới, chế độ canh tác,...).
* Thế nào là hạn thuỷ văn?
Dòng chảy sông suối thấp hơn trung bình nhiều năm rõ rệt và mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất hạ thấp. Ngoài lượng mưa ra, hạn thuỷ văn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác: dòng chảy mặt, nước ngầm tầng nông, nước ngầm tầng sâu...
* Thế nào là hạn kinh tế xã hội?
Nước không đủ cung cấp cho nhu cầu của các hoạt động kinh tế xã hội.
* Hạn thuỷ văn được xác định như thế nào?
Hạn thuỷ văn được đặc trưng bằng sự suy giảm dòng chảy sông và thiếu hụt các nguồn nước mặt và nước ngầm. Các chỉ tiêu hạn thuỷ văn tiêu biểu bao gồm: Cán cân nước, hệ số khô, hệ số cạn, hệ số hạn.
Cán cân nước: W=G-L Trong đó: 
W: Lượng nước có trong hệ thống G: Lượng nước đến L: Lượng nước tổn thất
- Chỉ số hạn: Hệ số khô:

Trong đó:
Kkh: Hệ số khô R: Lượng mưa E: Lượng bốc hơi khả năng
Hệ số cạn

Trong đó:
Kc: Hệ số cạn Qi: Lưu lượng thời đoạn i của năm j Qj: Lưu lượng năm Q0: Lưu lượng trung bình nhiều năm
Hệ số hạn

Trong đó:
Kh: Hệ số hạn Có thể phân định 3 cấp hạn theo Kh Hạn nhẹ: KhHạn vừa: 0,6 hHạn nặng: Kh > 1
Theo chuyên gia hạn hán của tố chức Khí tượng thế giới, một vùng được coi là khô hạn khi lượng mưa cả năm không đến 250mm và là bán khô hạn khi lượng mưa đó không đến 500mm.
Để đánh giá mức độ khô hạn người ta còn dùng chỉ số cấp nước mặt SWSI. Chỉ số SWSI được tính với thời đoạn tháng và có giá trị trong khoảng từ -4,2 đến 4,2. Giá trị âm thể hiện mức độ thiếu nước, giá trị càng nhỏ mức độ khô hạn càng khốc liệt. Giá trị dương thể hiện tình trạng dư thừa nước.
Bảng phân cấp hạn theo SWSI
SWSI
Tình trạng cấp nước
>= -4
Hạn cực nặng
-4 ÷ -3
Hạn rất nặng
-2,9 ÷ -2
Hạn vừa
-1,9 ÷ -1
Hơi khô
-0,9 ÷ 0,9
Gần như bình thường
1 ÷ 1,9
Hơi ẩm
2 ÷ 2,9
Ẩm vừa
3 ÷ 4
Rất ẩm
>4
Cực ẩm

* Hạn hán được đặc trưng bằng gì?
Để mô tả khái quát tình hình chung về hạn hán trong các khu vực và diễn biến theo thời gian của chúng, người ta đã sử dụng chỉ số khô hạn các tháng và năm:

Ở đây:
Kt: chỉ số khô hạn tháng (năm) Pt: Lượng bốc hơi theo Piche tháng (năm) Rt: Lượng mưa tháng (năm)
* Thế nào là hạn tháng?
Hạn hán trong một tháng nào đó của 12 tháng trong chu kỳ năm được ký hiệu là H(th)t xảy ra khi: R(th)t Ở đây:
R(th)t: Lượng mưa tháng t C(th): Tiêu chuẩn hạn của lượng mưa tháng
Với lượng mưa cả tháng bằng hoặc ít hơn 30mm mới được coi là tháng hạn. Như vậy tần suất hạn theo tháng ký hiệu là P(th) được xác định bằng:

Ở đây:
m(th): Số lần quan trắc được hạn tháng n(th): Số lần quan trắc lượng mưa tháng
* Thế nào là hạn tuần?
Theo thông lệ, tuần là 10 ngày trong 20 ngày đầu của tháng và 10 hoặc 11 ngày cuối tháng, có khi là 8 hoặc 9 ngày đối với tháng 2. Hạn hán trong một tuần nào đó trong số 36 tuần của cả năm được ký hiệu là H(t)t xảy ra khi:
R(t)t t
Ở đây:
R(t)t: Lượng mưa tuần t C(t): Tiêu chuẩn hạn của lượng mưa tuần
Cũng dựa trên kết quả thực nghiệm có thể chọn C(t) là 10mm. Tương tự như tần suất hạn tháng, P(t) được gọi là tần suất hạn theo tuần được xác định bằng:

Ở đây:
m(t): Số lần quan trắc được hạn tuần. n(t): Số lần quan trắc lượng mưa tuần.
Các nhóm khu vực về đặc trưng khô hạn phổ biến tại Việt Nam
Nhóm khu vực
Khu vực
Mùa khô hạn phổ biến
 Bắc bộ
Tây Bắc
XI-IV
Việt Bắc
XI - III
Đồng bằng Bắc Bộ
XI-III
Trung Bộ
Bắc Trung Bộ
IV-VIII
Nam Trung Bộ
II-VIII
Tây Nguyên
Tây Nguyên
XI-IV
 
Nam Bộ
Nam Bộ
XII - IV
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
HỎI ĐÁP KHÍ TƯỢNG-THỦY VĂN
 
1.Nơi nóng nhất trên thế giới
Cho đến nay người ta đa tìm ra được nhiệt độ cao kỷ lục ở El Azizia ở Libya là 57,8oC vào ngày 13 tháng 9 năm 1992. Sau đó là đến nhiệt độ ở Thung lũng chết ở California – Mỹ là 56,60C vào ngày 10 tháng 7 năm 1913
 
2.Cấu trúc của mắt bão
Các thành phần chính của bão bao gồm các dải mưa ở rìa ngoài, mắt bão nằm ở chính giữa và thành mắt bão nằm ngay sát mắt bão.
 
BÃO CÓ CẤU TRÚC NHƯ THẾ NÀO?
 
Các thành phần chính của bão bao gồm các dải mưa ở rìa ngoài, mắt bão nằm ở chính giữa và thành mắt bão nằm ngay sát mắt bão.
Trong không gian ba chiều, bão là một cột xoáy khổng lồ, ở tầng thấp (khoảng 0 – 3km) không khí nóng ẩm chuyển động xoắn trôn ốc ngược chiều kim đồng hồ (ở Bắc Bán Cầu) hội tụ vào tâm, chuyển động thẳng đứng lên trên trong thành mắt bão và toả ra ngoài ở trên đỉnh theo chiều ngựơc lại. Ở chính giữa trung tâm của cơn bão không khí chuyển động giáng xuống, tạo nên vùng quang mây ở mắt bão.
Có thể mô phỏng sơ bộ cấu trúc các trường khí tượng trong bão như sau:
Tham gia chuyển động xoay trong bão là một khối không khí khổng lồ có phạm vi ngang khoảng 2001000km, phạm vi thẳng đứng lên đến lớp đỉnh tầng đối lưu (10 – 12km).
Giá trị khí áp nhỏ nhất tại tâm bão và tăng dần ra phía rìa bão.
Càng vào gần tâm, cường độ gió bão càng mạnh, khu vực tốc độ gió mạnh nhất cách tâm bão khoảng vài trục km. Vào vùng mắt bão gió đột ngột yếu hẳn, tốc độ gió gần bằng không. Khi qua khỏi vùng mắt bão gió lại đột ngột mạnh lên nhưng có hướng ngược lại, đây chính là tính chất ảnh hưởng nguy hiểm nhất của bão.
Nếu nhìn từ trên cao xuống (ảnh mây bão chụp từ vệ tinh) mây bão có dạng gần tròn, hình xoáy trôn ốc ngược chiều kim đồng hồ (ở Bắc Bán Cầu):
 
 
 
 
Cấu trúc mây bão chủ yếu là hệ thống mây đối lưu, dòng thăng tập trung ở dải mây này, tốc độ dòng thăng trong bão rất lớn và có thể lên cao đến 10km, tạo thành cột không khí chuyển động xoáy rất mạnh và hình thành khối mây bão khổng lồ. Đến một độ cao nào đó dòng không khí thổi ngang từ thành mắt bão ra xung quanh tạo nên những màn mây mỏng toả ra rất xa ngoài vùng bão. Xung quanh mắt bão có mây bão dạng thành gần như thẳng đứng làm thành hình vành khăn (Thành mắt bão).
Do ở mắt bão có chuyển động giáng, nhiệt độ không khí trong mắt bão lớn hơn xung quanh rất nhiều, vì thế người ta nói bão có lõi nóng.
 
 
3.Bão áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng tới Việt Nam như thế nào?
Trong các bản tin bão có nhắc đến các khu vực chịu ảnh hưởng của bão, chúng ta không nên nhầm lẫn giữa bão ảnh hưởng và bão đổ bộ.
Khi một khu vực nào đó được xem là bị ảnh hưởng của bão, người ta căn cứ vào tốc độ gió mạnh và hiện tượng thời tiết nguy hiểm (cụ thể là mưa to đến rất to) ở khu vực đó khi bão đổ bộ hoặc ngay cả khi bão mới đến gần bờ biển của khu vực đó.
Bão, ATNĐ ảnh hưởng đến Việt Nam được chia thành 2 loại: ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp:
1/ ảnh hưởng trực tiếp:
Bao gồm tất cả các cơn bão và ATNĐ có tâm đi vào đất liền hoặc không đi vào đất liền nước ta nhưng trực tiếp gây ra gió mạnh từ cấp 6 trở lên.
2/ ảnh hưởng gián tiếp
: Bao gồm tất cả các cơn bão và ATNĐ khi tới gần bờ biển nước ta đã suy yếu nhiều nên khi tâm đi vào đất liền hoặc chuyển hướng đi hướng khác, hoặc tan rã ngay tại chỗ và chỉ gây ra gió yếu (cấp 5) và gây mưa to đến rất to trên diện rộng
 
 
4.Vì sao bão có tên và chúng được đặt tên như thế nào
Các cơn bão có thể kéo dài hàng tuần hoặc lâu hơn, và trên cùng một khu vực, cùng một thời gian có thể có 2, 3 cơn bão, thậm chí có thể nhiều hơn. Vì vậy người ta đặt tên cho các cơn bão để tránh nhầm lẫn trong việc đưa ra các thông tin về từng cơn bão.
Trong thời gian xảy ra chiến tranh Thế giới thứ II, các nhà Khí tượng Lục quân và Hải Quân Mỹ đã dùng tên của phụ nữ để đặt tên cho các cơn bão.
Các cơn bão ở đông bắc Thái Bình Dương được đặt theo tên phụ nữ từ năm 1959 – 1960. Năm 1978 sử dụng cả tên nữ giới và nam giới.
Ở vùng bắc Ấn Độ Dương, các cơn bão nhiệt đới không được đặt tên. Ở tây nam Ấn Độ Dương bão bắt đầu được đặt tên từ 1960.
Ở vùng Australia và nam Thái Bình Dương, bão bắt đầu được đặt tên (theo tên phụ nữ) từ năm 1964, 10 năm sau đó thì sử dụng cả tên nam giới.
Các cơn bão trên khu vực Tây bắc Thái Bình Dương (Việt Nam trực thuộc khu vực này) được đặt tên theo tên phụ nữ chính thức bắt đầu từ năm 1945, và đến năm 1979 thì bắt đầu sử dụng cả tên của Nam giới. Các cơn bão đang hình thành ở khu vực này sẽ được Trung tâm Bão nhiệt đới Tokyo thuộc cơ quan khí tượng nhật bản đặt tên.
Từ ngày 1/1/2000 các cơn bão ở Tây bắc Thái Bình dương được đặt tên theo danh sách các tên mới và rất khác nhau. Các tên mới được bổ sung gồm các tên của khu vực Châu Á, được lấy từ 14 nước và vùng lãnh thổ là thành viên của uỷ ban bão của Tổ chức Khí tượng Thế giới. Mỗi thành viên cung cấp 10 tên, tạo thành danh sách 140 tên bão.
Danh sách các tên mới có hai sự khác biệt với trước đây là:
Thứ nhất
: Rất ít tên bão là tên riêng của người mà phần lớn là tên các loài hoa, các động vật, các loài chim, các loài cây cỏ và thậm chí tên các món ăn.
Thứ hai
Danh sách tên bão không được sắp sếp theo thứ tự các chữ cái mà sắp sếp theo thứ tự chữ cài của tên các nước đóng góp tên.
Danh sách tên bão trên khu vực Tây bắc Thái Bình Dương và biển đông
(Sử dụng từ ngày 1/1/2000)
 
List I
Damrey, Longwang, Kirogi, Kai-tak, Tembin, Bolaven, Chanchu, Jelawat, Ewiniar, Bilis, Kaemi, Prapiroon, Maria, Saomai, Bopha, Wukong, Sonamu, Shanshan, Yagi, Xangsane, Bebinca, Rumbia, Soulik, Cimaron, Chebi, Durian, Utor, Trami
List II
Kong-rey, Yutu, Toraji, Man-yi, Usagi, Pabuk, Wutip, Sepat, Fitow, Danas, Nari, Vipa, Francisco, Lekima, Krosa, Haiyan, Podul, Lingling, Kajiki, Faxai, Vamei, Tapah, Mitag, Hagibis, Noguri, Ramasoon, Chataan, Halong
List III
Nakri, Fengshen, Kalmaegi, Fung-wong, Kammuri, Phanfone, Vongfong, Rusa, Sinlaku, Hagupit, Changmi, Megkhla, Higos, Bavi, Maysak, Haishen, Pongsona, Yanyan, Kujira, Chan-hom, Linfa, Nangka, Soudelor, Imbudo, Koni, Hanuman, Etau, Vamco
 
 
 
 
Nước/Lãnh thổ
Tên bão
Cambodia 
Damrey
Kong-rey
Nakri
Krovanh
Sarika
China 
Longwang
Yutu
Fengshen
Dujuan
Haima
DPR Korea
Kirogi
Toraji
Kalmaegi
Maemi
Meari
HK, China
Kai-Tak
Man-yi
Fung-wong
Choi-wan
Ma-on
Japan 
Tenbin
Usagi
Kanmuri
Koppu
Tokage
Lao PDR
Bolaven
Pabuk
Phanfone
Ketsana
Nock-ten
Macau 
Chanchu
Wutip
Vongfong
Parma 
Muifa
Malaysia 
Jelawat
Sepat
Rusa
Melor
Me
ok
Micronesia 
Ewinlar
Fitow
Sinlaku
Nepartak
Nanmadol
Philippines 
Bilis
Danas
Hagupit
Lupit
Talas
RO Korea
Gaemi
Nari
Changmi
Sudal
Noru
Thailand 
Prapiroon
Wipha
Mekkhala
Nida
Kulap
U.S.A. 
Maria
Francisco
Higos
Omais
Roke
Vietnam 
Saomai
Lekima
Bavi
Conson
Sonca
Cambodia 
Bopha
Krosa
Maysak
Chanthu
Nesat
China 
Wukong
Haiyan
Haishen
Dianmu
Haitang
DPR Korea
Sonamu
Podul
Pongsona
Mindule
Nalgae
HK, China
Shanshan
Lingling
Yanyan
Tingting
Banyan
Japan 
Yagi
Kaziki
Kujira
Kompasu
Washi
Lao PDR
Xangsane
Faxai
Chan-hom
Namtheun
Matsa
Macau 
Bebinca
Vamei
Linfa
Malou
Sanvu
Malaysia 
Rumbia
Tapah
Nangka
Meranti
Mawar
Micronesia 
Soulik
Mitag
Soudelor
Rananin
Guchol
Philippines 
Cimaron
Hagibis
Imbudo
Malakas
Talim
RO Korea
Chebi
Noguri
Koni
Megi
Nabi
Thailand 
Durian
Rammasun
Morakot
Chaba
Khanun
U.S.A. 
Utor
Chataan
Etau
Aere
Vicete
Vietnam 
Trami
Halong
Vamco
Songda
Saola



 
Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Trung Ương sẽ chọn lọc ra 10 cái tên để nộp cho Uỷ ban bão theo đó các cơn bão mà nước Việt Nam chúng ta đặt tên đều bắt nguồn từ các địa danh nổi tiếng,các động vật quí hiếm.Sau khi đưa 10 tên đề cử.Uỷ ban bão sẽ lấy một số lượng tên nhất định ví dụ Việt Nam có 10 tên bão thì Uỷ ban bão sẽ lấy khoảng 7 đến 8 tên và tương tự như vậy với các nước khác ở khu vực ổ bão Thái Bình Dương (14 nước).Sau khi đxa chọn lọc được tên Uỷ ban bão sẽ lập ra 1 cái list gồm tất cả các tên bão được chọn,theo vị trí A fa B của từng nước.Cơn bão nào phát sinh đầu tiên trong mùa mưa bão ở Thái Bình Dương thì sẽ lấy cái tên đứng đầu tiên trong list được chọn.Tương tự các cơn bão sau,ví dụ cơn bão thứ 2 phát sinh sẽ ứng với tên thứu 2 trong list.
(Nguồn:Chương trình Những người săn bão kênh VTC14)
 
 
 
5.Tại sao bão lại xuất hiện vào mùa hè và mùa thu?
Thời gian chính trong năm có bão hoạt động là vào mùa hè và mùa thu: từ tháng 6 – tháng 10 (ở Bắc bãn cầu) và tháng 12 – tháng 3 năm sau (ở Nam Bán Cầu). Bão xuất hiện nhiều nhất vào mùa hè và mùa thu vì vào thời gian này có đầy dủ các điều kiện thuận lợi nhất cho sự hình thành và phát triển của bão: Nhiệt độ nước biển cao (ít nhất là 26oC), Khí quyển vùng nhiệt đới khá thuận lợi cho sự phát triển đối lưu (tức hình thành dông), và chuyển động xoáy qui mô lớn xảy ra khá mạnh mẽ (trong rãnh gió mùa hoặc sóng đông)
Người ta cho rằng bão hoạt động nhiều nhất vào thời kỳ có bức xạ mặt trời lớn nhất (cuối tháng 6 đối vời vùng nhiệt đới Bắc Bán Cầu và cuối tháng 12 đối với vùng nhiệt đới Nam Bán Cầu), nước biển cần một thời gian khá dài (nhiều tuần) để đạt được nhiệt độ nớng nhất. Cùng thời gian này hoàn lưu khí quyển vùng nhiệt đới cũng hoạt động mạnh mẽ nhất (và khá thuận lợi cho sự hình thành và phát triển bão và áp thấp nhiệt đới). Vào thời gian này, vùng biển nhiệt đới và hoàn lưu khí quyển tương tự với chu trình hàng ngày của nhiệt độ không khí bề mặt – nhiệt độ cao nhất vào khoảng quá trưa, và bức xạ mặt trời lớn nhất vào buổi trưa.
 
 
 
6.Tại sao bão áp thấp nhiệt đới có thể hình thành?
Bão có thể được xem như một cỗ máy, nó cần có không khí nóng và ẩm làm nguồn năng lượng. Không khí nóng, ẩm này bị lạnh đi khi bốc lên trong mây đối lưu, trong các dải mưa và trong thành mắt bão. Hơi nước trong mây ngưng tụ thành các giọt nước, giải phóng ẩn nhiệt, bắt đầu cho quá trình bốc hơi, ẩn nhiệt được giải phóng này cung cấp năng lượng để hình thành hoàn lưu xoáy thuận, mặc dù thực tế bão sử dụng rất ít lượng nhiệt được giải phóng này để giảm khí áp bề mặt và tăng tốc độ gió.
Vào năm 1948, nhà khí tượng Erik palmen đã tìm ra rằng, bão và áp thấp nhiệt đới chỉ có thể hình thành và phát triển khi nhiệt độ nước biển đạt ít nhất 26 - 27oC. Giá trị nhiệt độ 26 - 27oC có liên quan đến độ ổn định của khí quyển ở các vĩ độ nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chỉ với nhiệt độ cao hơn 26,5oC thì đối lưu sâu mới có thể xảy ra được, còn nếu nhiệt độ thấp hơn 26,5oC thì không khí khá ổn định và không xảy ra dông.
 
 
7.Điều kiện hình thành bão?
Bão là một xoáy thuận nhiệt đới được cấu trúc bởi khối khí nóng ẩm với dòng thăng rất mạnh xung quanh mắt bão, tạo hệ thống mây, mưa xoáy vào vùng trung tâm bão. Năng lượng bão là ẩn nhiệt ngưng kết của lượng hơi nước khổng lồ bốc hơi từ mặt biển, ngoài ra bão hình thành đòi hỏi không khí có tầng kết bất ổn định đảm bảo cho sự hình thành đối lưu sâu và dông. Bão chỉ có thể hình thành khi có đủ 3 điều kiện: Nhiệt, ẩm và động lực để tạo xoáy.
Nhà khí tượng Erik palmen đã tìm ra ràng bão chỉ có thể hình thành trên biển trong dải vĩ độ 5 - 20ovĩ hai bên xích đạo có nhiệt độ cao (từ 26 – 27oC trở lên) - đảm bảo cung cấp đủ lượng hơi nước khổng lồ bốc hơi mạnh từ mặt biển để cung cấp năng lượng ngưng kết cho bão hình thành và lực coriolis dủ lớn để tạo xoáy, tạo điều kiện thuận lợi cho bão hình thành. Sở dĩ bão không thể hình thành trong giải 0 – 5ovĩ về hai phía của xích đạo vì ở đó lực coriolis quá nhỏ, không đủ để tạo xoáy.
 
 
 
8.Mắt bão là gì?
Mắt bão là khu vực có khí áp nhỏ nhất trong bão, gần như lặng gió, quang mây, và có nhiệt độ cao hơn vùng xuong quanh (do sự đốt nóng dòng không khí thăng lên), mắt bão có đường kính khoảng 30 – 60km.
  
 
 
 
 
9.Bốc hơi là gì?
Bốc hơi nước là một quá trình nước chuyển từ thể lỏng sang thể hơi hoặc khí (theo Khí tượng Khí hậu học, Hà Nội năm 1964). Bốc hơi nước là đoạn đường đầu tiên trong vòng tuần hoàn nước trong khí quyển chuyển từ thể lỏng thành hơi nước:
Bốc hơi nước là một quá trình nước chuyển từ thể lỏng sang thể hơi hoặc khí (theo Khí tượng Khí hậu học, Hà Nội năm 1964). Bốc hơi nước là đoạn đường đầu tiên trong vòng tuần hoàn nước trong khí quyển chuyển từ thể lỏng thành hơi nước:


Hình:Vòng tuần hoàn nước trong khí quyển
- Đơn vị đo lượng bốc hơi: là lớp nước đo bằng milimét (mm), bốc hơi vào không khí trên một đơn vị diện tích mặt thoáng (1m2). Ví dụ: lượng bốc hơi ngày 1/1/2006 là 5mm; có nghĩa là lượng nước với bề mặt thoáng diện tích 1m2 tại độ cao 2m (độ cao lều quan trắc) bốc hơi vào khí quyển trong ngày 1/1/2006 (24 giờ) là 5mm nước. - Khả năng bốc hơi: là lượng nước mà có thể bốc hơi trong điều kiện khí hậu thực tế của một nơi. Nó phụ thuộc vào nhiệt độ, gió, độ ẩm, lớp phủ thực vật...
 
 
 
 
 
 
 
10.Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự bốc hơi nước là gì?
Bốc hơi trong khí quyển phụ thuộc vào 3 điều kiện chính: nhiệt độ, gió, độ ẩm. - Nhiệt độ: là năng lượng cần thiết cho sự bốc hơi xuất hiện. Năng lượng này được sử dụng để bẻ gãy những liên kết giữa các phân tử nước, nó là nguyên nhân tại sao nước có thể dễ dàng bốc hơi tại điểm sôi (212°F, 100°C) nhưng bốc hơi rất chậm tại điểm đóng băng. Quá trình bốc hơi tiêu thụ nhiệt năng lấy từ môi trường, đó là nguyên nhân tại sao khi nước bốc hơi từ da của bạn làm bạn mát. Trong khí quyển độ bốc hơi phụ thuộc vào nhiệt độ không khí và nhiệt độ mặt đệm. - Độ ẩm tương đối: độ ẩm tương đối của không khí (là tỷ lệ khối lượng hơi nước trong 1m3 không khí) cũng là một trong những nhân tố tác động tới sự bốc hơi. Khi độ ẩm tương đối không khí đạt 100%, tức là ở trạng thái bão hoà hơi nước, bốc hơi không thể tiếp tục diễn ra. Độ ẩm càng nhỏ, bốc hơi càng diễn ra mạnh mẽ. - Gió và sự chuyển động đối lưu của không khí: những nơi có gió và chuyển động đối lưu mạnh mẽ thì sẽ có lượng bốc hơi và thoát hơi nuớc cao hơn. Điều này có mối quan hệ với độ ẩm tương đối; vì nếu không có gió, không khí môi trương xung quanh không lưu thông, làm cho độ ẩm gia tăng, không tạo điều kiện thuận lợi cho sự bốc hơi và ngược lại. - Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng làm ảnh hưởng đến sự bốc hơi như: độ ẩm của đất, kiểu của thảm thực vật...; thực vật ở những vùng khô cằn như cây xương rồng và những loại cây giữ nước, sự thoát hơi nước của chúng ít hơn những cây ở những vùng khác. Ở những nơi có mật độ thảm thực vật mà cao thì có nghĩa là tỷ lệ thoát hơi nước của thực vật cũng giảm theo
 
 
 
11.Vòng tuần hoàn của hơn nước khí quyển diễn ra như thế nào?
Bốc hơi nước từ các đại dương là con đường chính để nước được luân chuyển vào trong khí quyển. Diện tích rất lớn của các đại dương (trên 70% diện tích bề mặt của Trái Đất được bao phủ bởi các đại dương) đã cung cấp những cơ hội lớn cho quá trình bốc hơi diễn ra.
Bốc hơi nước từ các đại dương là con đường chính để nước được luân chuyển vào trong khí quyển. Diện tích rất lớn của các đại dương (trên 70% diện tích bề mặt của Trái Đất được bao phủ bởi các đại dương) đã cung cấp những cơ hội lớn cho quá trình bốc hơi diễn ra. Trên phạm vi toàn cầu tổng lượng nước bốc hơi bằng tổng lượng giáng thủy. Mặc dù vậy, tỉ lệ giữa lượng nước bốc hơi và lượng giáng thuỷ biến đổi theo vùng địa lý. Thông thường trên các đại dương lượng bốc hơi nhiều hơn lượng giáng thủy, trong khi đó trên mặt đất, lượng giáng thủy vượt quá lượng bốc hơi. Phần lớn lượng nước bốc hơi từ các đại dương rơi ngay trên đại dương qua quá trình giáng thủy. Chỉ khoảng 10% của nước bốc hơi từ các đại dương được vận chuyển vào đất liền và rơi xuống thành giáng thuỷ. Khi bốc hơi, một phân tử nước tồn tại trong khí quyển khoảng 10 ngày.
 
12.Tác dụng của bốc hơi nước?
Bốc hơi nước từ các đại dương là con đường chính để nước được luân chuyển vào trong khí quyển. Diện tích rất lớn của các đại dương (trên 70% diện tích bề mặt của Trái Đất được bao phủ bởi các đại dương) đã cung cấp những cơ hội lớn cho quá trình bốc hơi diễn ra.
Bốc hơi nước từ các đại dương là con đường chính để nước được luân chuyển vào trong khí quyển. Diện tích rất lớn của các đại dương (trên 70% diện tích bề mặt của Trái Đất được bao phủ bởi các đại dương) đã cung cấp những cơ hội lớn cho quá trình bốc hơi diễn ra. Trên phạm vi toàn cầu tổng lượng nước bốc hơi bằng tổng lượng giáng thủy. Mặc dù vậy, tỉ lệ giữa lượng nước bốc hơi và lượng giáng thuỷ biến đổi theo vùng địa lý. Thông thường trên các đại dương lượng bốc hơi nhiều hơn lượng giáng thủy, trong khi đó trên mặt đất, lượng giáng thủy vượt quá lượng bốc hơi. Phần lớn lượng nước bốc hơi từ các đại dương rơi ngay trên đại dương qua quá trình giáng thủy. Chỉ khoảng 10% của nước bốc hơi từ các đại dương được vận chuyển vào đất liền và rơi xuống thành giáng thuỷ. Khi bốc hơi, một phân tử nước tồn tại trong khí quyển khoảng 10 ngày.
có nhiều nắng nhiệt độ cao), nhiều gió thuận lợi cho sự bốc hơi.
 
13.Lũ được phân theo cấp độ lướn của đỉnh lũ như
Lũ được phân cấp theo độ lớn của đỉnh lũ như thế nào ?
Căn cứ vào độ lớn đỉnh lũ trung bình nhiều năm, có thể chia ra các cấp lũ như sau (hình 10):
-         Lũ nhỏ là lũ có mực nước đỉnh lũ thấp hơn đỉnh lũ trung bình nhiều năm;
-         Lũ vừa là lũ có mực nước đỉnh lũ đạt mức đỉnh lũ trung bình nhiều năm;
-         Lũ lớn là lũ có mực nước đỉnh lũ cao hơn mức đỉnh lũ trung bình nhiều năm;
-         Lũ đặc biệt lớn là lũ có đỉnh cao hiếm thấy trong các thời kỳ quan trắc;
-         Lũ lịch sử là lũ có đỉnh cao nhất trong các thời kỳ quan trắc và điều tra khảo sát.
 
 
 
14.Lũ tiểu mãn
Lũ tiểu mãn là loại lũ do mưa rào vào khoảng tiết tiểu mãn (cuối tháng 5) hàng năm gây ra. Lũ tiểu mãn thường không lớn nhưng là nguồn cung cấp nước rất quan trọng cho sản xuất, các hồ chứa và đặc biệt là các hồ chứa thuỷ điện, vì vào thời kỳ này thường nắng nóng, mưa ít, nguồn nước các hồ chứa đã cạn kiệt. Tuy vậy, cũng có khi lũ tiểu mãn khá lớn, gây ra những thiệt hại đáng kể (trận lũ tháng 5/1986) ở Trung Bộ.
 
15.Lũ trên các sông lớn
Lũ ở hạ du các sông lớn thường lên từ từ, cường suất lũ lên bằng khoảng vài centimét đến vài chục centimét trong một giờ. Thời gian một trận lũ kéo dài từ vài ngày cho đến vài tháng.
 
16.Tốc độ nước lũ
Tốc độ nước lũ là tốc độ chảy của nước lũ trong sông, có đơn vị là m/s. Tốc độ nước lũ thường khác nhau giữa các sông và giữa các trận lũ. Trên các sông suối vừa và nhỏ miền núi, có độ dốc lòng sông lớn, tốc độ nước lũ lớn nhất có thể đạt tới hơn 5m/s; nhưng ở sông lớn vùng đồng bằng, tốc độ nước lũ tương đối nhỏ chỉ khoảng 2-3 m/s.
 
17.Cường suất lũ
Cường suất lũ là sự biến đổi của mực nước trong một đơn vị thời gian, thường lấy đơn vị là cm/giờ, m/giờ, cm/ngày hoặc m/ngày. Cường suất lũ trên các sông ở vùng núi có thể lên đến 2-5 m/h, ở đồng bằng hạ lưu các sông, khoảng 10 - 20cm/h. Lũ trên thuộc sông Cửu Long loại “lũ hiền từ” nhất ở nước ta, với cường suất trung bình chỉ 3-4cm/ngày, lớn nhất cũng chỉ 20-40cm/ngày.
 
 
 
18.Biên độ mực nước lũ
Biên độ mực nước lũ: là chênh lệch mực nước giữa mực nước đỉnh với mực nước khi lũ bắt đầu lên (D H). Biên độ lũ trên các sông miền núi có thể đạt 10-20 mét, cá biệt, có nơi đạt trên 25 mét (Lai Châu), ở vùng đồng bằng thường từ 3-8 mét.
 
 
19.Lưu lượng nước
Lưu lượng nước là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang sông trong một đơn vị thời gian (1 giây), được ký hiệu là Q và đơn vị là m3/s hoặc l/s.
 
 
 
 
20.Câu trả lời về lũ
a. Lũ là gì ?
Lũ là hiện tượng nước sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó giảm dần
b. Mực nước là gì ?
Mực nước là độ cao của mặt nước trong sông so với độ cao chuẩn quốc gia (mực nước trung bình trạm Hòn Dấu), được ký hiệu là H và đơn vị là cm (centimét) hoặc m (mét).
 
c. Lưu lượng nước là gì ?
Lưu lượng nước là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang sông (hình 5) trong một đơn vị thời gian (1 giây), được ký hiệu là Q và đơn vị là m3/s hoặc l/s.
                            
d. Chân lũ lên là gì ?
Chân lũ lên là mực nước (Hcl) hay lưu lượng (Qcl) khi lũ bắt đầu lên (hình 6).
 
e. Đỉnh lũ là gì ?
Đỉnh lũ là mực nước (Hđ) hay lưu lượng nước (Qđ) cao nhất trong một trận lũ.
 
f. Chân lũ xuống là gì ?
Chân lũ xuống là mực nước (Hcx) hay lưu lượng nước (Qcx) xuống thấp thấp nhất hoặc xấp xỉ mực nước chân lũ lên.
 
g. Thời gian lũ lên là gì ?
Thời gian lũ lên là khoảng thời gian từ khi lũ bắt đầu lên đến đỉnh lũ.
 
h. Thế nào là thời gian của một trận lũ ?
Thời gian của một trận lũ là khoảng thời gian từ khi lũ bắt đầu lên đến khi hết lũ.
i. Lượng lũ là gì ?
Lượng lũ là tổng lượng nước của một trận lũ hoặc trong một khoảng thời gian nào đó của trận lũ. Lượng lũ được ký hiệu là W và có đơn vị là m3.
 
k. Mô đun đỉnh lũ là gì ?
Mô đun đỉnh lũ là lượng nước lũ lớn nhất được sinh ra trên 1 km2 diện tích lưu vực sông trong một đơn vị thời gian (1 giây), thường có đơn vị là l/s.km2 hoặc m3/s.km2.
 
l. Tốc độ nước lũ là gì ?
Tốc độ nước lũ là tốc độ chảy của nước lũ trong sông, có đơn vị là m/s. Tốc độ nước lũ thường khác nhau giữa các sông và giữa các trận lũ. Trên các sông suối vừa và nhỏ miền núi, có độ dốc lòng sông lớn, tốc độ nước lũ lớn nhất có thể đạt tới hơn 5m/s; nhưng ở sông lớn vùng đồng bằng, tốc độ nước lũ tương đối nhỏ chỉ khoảng 2-3 m/s.
 
 
 
14. Lũ trên các sông suối vừa và nhỏ diễn ra như thế nào ?
Lũ trên các sông suối vừa và nhỏ ở miền núi thường lên xuống nhanh, tốc độ chảy lớn và thời gian một trận lũ ngắn, thường chỉ kéo dài không quá 2-3 ngày. Thời gian lũ lên, từ vài giờ cho đến 10-15 giờ, còn thời gian lũ xuống từ một đến vài ngày .
 
15. Ở nước ta, mùa lũ phân bố như thế nào ?
Mùa lũ trên các sông Bắc Bộ đến Nam Trung Bộ có xu hướng xuất hiện muộn dần từ Bắc vào Nam
-         Bắc Bộ: từ tháng 6 đến tháng 10;
-         Bắc Trung Bộ (từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh):  từ tháng 7 đến tháng 11;
-         Trung và Nam Trung Bộ (từ Quảng Bình đến Ninh Thuận): từ tháng 9 đến tháng 12;
-         Bình Thuận, Nam Bộ và Tây Nguyên: từ tháng 6 đến tháng 11.  
 
 
16. Thế nào là lũ chính vụ ?
Lũ chính vụ là lũ xuất hiện vào giữa mùa lũ, thường là lũ lớn nhất trong năm nên dễ gây ngập lụt, làm thiệt hại đáng kể về người và của cải. Trên các sông Bắc Bộ, lũ chính vụ thường vào các tháng 7, 8; các sông Trung Bộ, thường vào tháng 10, 11; các sông Nam Bộ, Tây Nguyên, thường vào tháng 9, 10.
 
17. Thế nào là lũ cuối vụ ?
Lũ cuối vụ là lũ xảy ra vào cuối mùa lũ, thường không lớn. Tuy vậy, cũng có năm, có nơi lũ cuối vụ là lũ lớn nhất trong năm. Lũ trên các sông Bắc Bộ, Nam Bộ có thể xuất hiện muộn, vào tháng 11; ở Trung Bộ và Tây Nguyên vào tháng 12 hoặc tháng 1 năm sau.
 
II. CÁC CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI VỀ  LỤT, ÚNG
 
18. Lụt là gì?
Lụt là hiện tượng ngập nước của một vùng lãnh thổ do lũ gây ra. Lụt có thể do lũ lớn, nước lũ tràn qua bờ sông (đê) hoặc làm vỡ các công trình ngăn lũ vào các vùng trũng; có thể do nước biển dâng khi gió bão làm tràn ngập nước vùng ven biển (hình 11).
 
 
19. Úng là gì?
Úng là hiện tượng ngập do nước mưa gây ra.
 
 
20. Nước dâng do bão là gì ?
Nước dâng do bão là sự dâng lên của mực nước biển khi có bão so với bình thường. Bão càng mạnh và xảy ra vào thời kỳ triều cường thì làm nước dâng càng cao. Ở vùng biển từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế, nước dâng có thể lên tới 3 – 4m. Gió mạnh, nước dâng thường gây sạt lở, vỡ đê biển và làm giảm khả năng thoát lũ, gia tăng diện ngập lụt và kéo dài thời gian ngập lụt khi xảy ra lũ lớn trên sông.
 
III. CÁC CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI VỀ  LŨ QUÉT
21. Lũ quét là gì?
Lũ quét là một loại lũ lớn, xảy ra bất ngờ trên các sông suối miền núi, duy trì trong một thời gian ngắn (lên nhanh và xuống nhanh), dòng chảy xiết có hàm lượng chất rắn cao và có sức tàn phá lớn
 
 
22. Nguyên nhân sinh ra lũ quét là gì?
Hai nguyên nhân chính gây ra lũ quét là: 1- Mưa lớn với cường độ cao .
Lưu vực có sườn núi dốc, địa hình bị chia cắt và lớp phủ thực vật thưa bị phá huỷ bừa bãi
 
23. Lũ quét thường xảy ra ở đâu và khi nào?
Nơi sinh lũ quét thường ở thượng nguồn các sông nhánh, lưu vực nhỏ, có độ dốc lớn, mặt đệm bị huỷ hoại năng.
Lũ quét thường xảy ra trong thời gian ngắn (3-6h), vào ban đêm, trong các tháng đầu mùa lũ (tháng VI, VII ở Bắc Bộ, Tây Nguyên, tháng IX, X ở Trung Bộ).
 
24. Đặc điểm chính của lũ quét là gì ?
Chứa lượng vật rắn rất lớn: Lũ quét thường có tỷ lệ vật chất rắn rất lớn, thường chiếm 3-10%, thậm chí trên 10% và trở thành dạng lũ bùn đá, rất hay xảy ra ở nước ta (Hình 24).
Lũ quét có sức tàn phá rất lớn, gây thiệt hại lớn về người và tài sản.Vì vậy, động lực của nó rất lớn, sức tàn phá lớn (hình 25).
 
 
 
25. Có các dạng lũ quét nào?
Có 6 dạng lũ quét sau:
1- Lũ quét sườn dốc: là lũ quét phát sinh chủ yếu do mưa lớn đột ngột xuất hiện trên lưu vực có sườn dốc cao, độ dốc lớn và hình dạng thích hợp cho mạng sông suối tập trung nước nhanh. Lũ xảy ra trong thời gian ngắn (thường vào đêm và sáng), có tốc độ lớn, quét mọi thứ trên đường đi.
 
2- Lũ quét nghẽn dòng: do vỡ các đập tạm thời do cây cối, rác, bùn cát và các vật thể khác làm nghẽn dòng sông, suối do mưa lớn gây ra.
 
- Lũ quét nghẽn dòng là loại hình lũ miền núi thường phát sinh từ các khu vực có nhiều trượt lở ven sông, suối. Đó là các khu vực đang có biến dạng mạnh, sông suối đào xẻ lòng dữ dội, mặt cắt hẹp, sườn núi rất dốc. Do mưa lớn kéo dài, dòng suối đột nhiên bị tắc nghẽn, nước sông suối dâng cao ngập một vùng rộng lớn thường là các vùng lòng chảo, những thung lũng. Khi dòng lũ tích tụ đến mức đập chắn bị mất ổn định và vỡ, lượng nước tích lại trong vùng lòng chảo khi bị nghẽn dòng được giải phóng đột ngột tạo thành sóng lũ lớn cho phía hạ lưu.
4- Lũ bùn đá là dòng lũ đậm đặc bùn đá, cuộn chảy với động năng lớn. Lượng bùn đá trong dòng lũ chủ yếu do sạt lở núi cung cấp. Một phần bùn đá được lấy từ vật liệu có sẵn trong lòng suối (Hình 28). Đây là loại lũ quét đặc biệt nguy hiểm, thường gây nhiều thương vong lớn.
5- Lũ quét vỡ đập, đê, hồ chứa: là lũ do vỡ hồ, đập, đê hoặc công trình thuỷ điện, thuỷ lới gây ra. Lũ quét dạng này có sức tàn phá rất lớn trong khu vực rộng (Hình 29).
6- Lũ quét hỗn hợp là tổ hợp bất lợi giữa nhiều dạng thiên tai như sạt lở đất, lũ quét sườn dốc, lũ bùn đá. Đây là dạng lũ thường xảy ra nhiều ở vùng núi nước ta  và chúng có sức tàn phá mạnh, trong khu vực rộng.
 
 
26. Trượt lở là gì và thường xảy ra ở đâu?
Trượt lở là hiện tượng mất ổn định và dịch chuyển sườn dốc, mái dốc, gây mất ổn định công trình, vùi lấp người và tài sản, phá hoại diện tích canh tác và môi trường sống, có thể dẫn tới những thảm hoạ lớn cho con người và xã hội. Các loại hình trượt lở thường gặp nhất bao gồm: trượt lở, sạt lở, sụt lở, lở đá.
- Trượt lở đất: Xảy ra nhiều ở các sườn đồi núi dốc, đường giao thông, hệ thống đê đập, các bờ mỏ khai thác khoáng sản, các hố đào xây dựng công trình... Đây là loại hình tai biến thường có qui mô từ trung bình tới lớn, phạm vi phát triển rộng, diễn biến từ rất chậm (2- 5cm/năm) gây chủ quan cho con người, tới cực nhanh (lớn hơn 3m/s) làm cho con người không đối phó kịp. Đất đá trượt lở từ vài chục vạn m3 tới 1 - 2 triệu m3, trườn đi xa tới 0,5 - 1 km, đủ lớn để chặn dòng sông suối, dòng nước, tạo nên lũ quét vỡ dòng, đặc biệt nguy hiểm cho các cụm dân cư ở hạ du.
 
- Sạt lở đất thường xảy ra tại các thung lũng và triền sông, dọc các bờ biển bị xói lở (Hình 32). Trong quá trình sạt lở, có sự đan xen giữa hiện tượng dịch chuyển trượt, hiện tượng sụp đổ. Hiện tượng sạt lở thường được báo trước bằng các vết nứt sụt ăn sâu vào đất liền và kéo dài theo bờ sông, bờ biển (Hình 33). Diễn biến phá hoại của sạt lở nhanh và đột ngột. Sạt lở bờ thường có xu hướng tái diễn nhiều năm, phạm vi ảnh hưởng rộng, đe doạ phá hỏng cả cụm dân cư, đặc biệt là các cụm dân cư kinh tế lâu năm ở các vùng đồng bằng, ven biển.
 
 
 
- Sụt lở đất hay xảy ra ở các tuyến đường giao thông, các tuyến đê (Hình 34 và 35). Sụt lở đất ở các triền đồi núi thường làm mất một phần mặt đường hoặc cả đoạn đường đồi núi phá hoại cả một tuyến đường, gây ách tắc vận chuyển và hệ quả kinh tế xã hội nghiêm trọng.
- Lở đá: Là hiện tượng các tảng đá, mất gắn kết với cả khối, sụp đổ và lăn xuống vùng thấp. Đá lở thường xảy ra trên các tuyến đường giao thông miền núi, trên các sườn dốc và lân cận một số khu dân cư (Hình 36).
 
 
27.Mây phóng xạ là gì?
Bộ Quốc phòng Mỹ và Liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) dùng thuật ngữ "mây phóng xạ" để chỉ khí nóng, hơi nước, khói, bụi và các sản phẩm của phản ứng phân hạch hạt nhân được tạo ra sau vụ nổ bom nguyên tử. Thuật ngữ này cũng được dùng cho các sự cố trong nhà máy điện hạt nhân, mặc dù các lò phản ứng không phát nổ giống như bom nguyên tử.
Trên thực tế tỷ lệ các chất đồng vị phóng xạ trong đám vật chất phát sinh từ vụ nổ của bom hạt nhân hoàn toàn khác với vụ nổ của lò phản ứng.
Theo từ điển Khoa học và Công nghệ McGraw-Hill, mây phóng xạ là thuật ngữ dùng để chỉ một lượng không khí và hơi nước mang theo các chất phóng xạ từ vụ nổ hoặc sự cố hạt nhân.
Các nguyên tố hóa học có thể có một hoặc nhiều đồng vị. Các đồng vị có số nguyên tử và số proton trong hạt nhân nguyên tử giống nhau song số neutron của chúng khác nhau nên số khối cũng khác. Chúng được gọi là "đồng vị" vì nằm cùng vị trí trong bảng tuần hoàn hóa học.
Hạt nhân nguyên tử gồm hai loại: ổn định và không ổn định. Phân rã phóng xạ hay phân rã hạt nhân là hiện tượng hạt nhân nguyên tử không ổn định tự biến đổi và phát ra các bức xạ hạt nhân để đạt tới trạng thái ổn định. Các nguyên tử có tính phóng xạ (không ổn định) được gọi là các đồng vị phóng xạ, còn các đồng vị không có tính phóng xạ được gọi là đồng vị bền. Chẳng hạn, nguyên tố Ca
on (C) có hai đồng vị phóng xạ là C-12 và C-13, một đồng vị phóng xạ là C-14.
Tia phóng xạ là các dòng hạt chuyển động nhanh phát ra từ các chất phóng xạ trong quá trình phân rã hạt nhân. Chúng có thế là chùm các hạt mang điện dương (như hạt alpha, hạt proton) hay mang điện âm (như electron) hay không mang điện (như hạt neutron, hạt gamma, hạt neutrino).
Một số người cũng chưa hiểu tại sao người dân Trung Quốc đổ xô đi mua muối chứa i-ốt do lo ngại mây phóng xạ từ nhà máy điện hạt nhân Fukushima I, trong khi báo chí Nhật Bản đưa tin các chuyên gia phát hiện đồng vị phóng xạ i-ốt bên ngoài nhà máy. Tại sao người dân Trung Quốc muốn đưa muối i-ốt vào cơ thể họ trong khi nguyên tố này cũng có thể tồn tại trong mây phóng xạ?
Nguyên tố i-ốt có tới 37 đồng vị, trong đó chỉ có I-127 là đồng vị ổn định. Muối chứa I-127 và những viên nén i-ốt kali (KI) có thể được dùng để rửa trôi đồng vị phóng xạ I-131, một sản phẩm phụ của phản ứng phân hạch hạt nhân, trong cơ thể người. Như vậy có nghĩa là người ta dùng đồng vị bền duy nhất của i-ốt để ngăn chặn tác động của đồng vị phóng xạ i-ốt.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
TÌM HIỂU VỀ CÁC LOẠI THIÊN TAI (SÓNG THẦN,ĐỘNG ĐẤT,NÚI LỬA,...)
 
 
1.Động đất
Động đất hay địa chấn là một sự rung chuyển hay chuyển động lung lay của mặt đất. Động đất thường là kết quả của sự chuyển động của các phay (geologic fault) hay những bộ phận đứt gãy trên vỏ của Trái Đất hay các hành tinh cấu tạo chủ yếu từ chất rắn như đất đá. Tuy rất chậm, mặt đất vẫn luôn chuyển động và động đất xảy ra khi ứng suất cao hơn sức chịu đựng của thể chất trái đất. Hầu hết mọi sự kiện động đất xảy ra tại các đường ranh giới của các đĩa kiến tạo chia ra quyển đá của trái đất (các nhà khoa học thường dùng dữ kiện về vị trí các trận động đất để tìm ra những ranh giới này). Những trận động đất xảy ra tại ranh giới được gọi là động đất xuyên đĩa và những trận động đất xảy ra trong một đĩa (hiếm hơn) được gọi là động đất trong đĩa.
Đặcđiểm:Động đất xảy ra hằng ngày trên trái đất, nhưng hầu hết không đáng chú ý và không gây ra thiệt hại. Động đất lớn có thể gây thiệt hại trầm trọng và gây tử vong bằng nhiều cách. Động đất có thể gây ra đất lở, đất nứt, sóng thần, nước triều giả, đê vỡ, và hỏa hoạn. Tuy nhiên, trong hầu hết các trận động đất, sự chuyển động của mặt đất gây ra nhiều thiệt hại nhất. Phần lớn các động đất được nhiều trận động đất nhỏ hơn đi trước hay sau lần động đất chính; những trận này được gọi là dư chấn. Năng lực của động đất được trải dài trong một diện tích lớn, và trong các trận động đất lớn có thể trải hết toàn cầu. Các nhà khoa học thường có thể định được điểm mà các sóng địa chấn được bắt đầu. Điểm này được gọi là tiêu điểm. Phóng điểm trên mặt đất từ điểm này được gọi là chấn tâm.Nhiều động đất, đặc biệt là những trận xảy ra dưới đáy biển, có thể gây ra sóng thần, có thể vì đáy biển bị biến thể hay vì đất lở dưới đáy biển gây ra.Có bốn loại sóng địa chấn được tạo ra cùng lúc. Tuy nhiên, chúng có vận tốc khác nhau và có thể cảm nhận được theo thứ tự sau: sóng P, sóng S, sóng Love, và cuối cùng là sóngRayleigh.ĐộRichter:1–2 trên thang Richter: Không nhận biết được 2–4 trên thang Richter: Có thể nhận biết nhưng không gây thiệt hại 4–5 trên thang Richter: Mặt đất rung chuyển, nghe tiếng nổ, thiệt hại không đáng kể 5–6 trên thang Richter: Nhà cửa rung chuyển, một số công trình có hiện tượng bị nứt 6–7 trên thang Richter: Nhà cửa bị hư hại nhẹ.7–8 trên thang Richter: Mạnh, phá hủy hầu hết các công trình xây dựng thông thường, có vết nứt lớn hoặc hiện tượng sụt lún trên mặt đất. 8–9 trên thang Richter: Nhà cửa đổ nát, nền đất bị nứt đến 1m, sụp đổ lớn ở núi kèm theo thay đổi địa hình trên diện tích rộng.>9 trên thang Richter: Rất hiếm khi xảy ra Các thang đo khác:• Thang độ lớn mô men (Mw) • Thang Rossi-Forel (viết tắt là RF) • Thang Medvedev-Sponheuer-Karnik (viết tắt là MSK) • Thang Mercalli (viết tắt là MM) • Thang Shindo của cơ quan khí tượng học Nhật Bản • Thang EMS98 tại châu Âu Nguyên nhân:• Nội sinh: liên quan đến vận động phun trào núi lửa, vận động kiến tạo ở các đới hút chìm, các hoạt động đứt gãy. • Ngoại sinh: Thiên thạch va chạm vào Trái Đất, các vụ trượt lở đất đá với khối lượng lớn. • Nhân sinh: Hoạt động làm thay đổi ứng suất đá gần bề mặt hoặc áp suất chất lỏng, đặc biệt là các vụ thử hạt nhân dưới lòng đất. Ngoài ra còn phải kể đến hoạt động âm học, đặc biệt là kỹ thuật âm thanh địa chấn.Nên làm gì khi có động đất:Động đất là một thiên tai không thể dự báo trước được, cho nên những người sống ở một nơi gần những nơi thường có động đất không thể tránh nó được. Tuy nhiên, có một số điều ta có thể làm để trước, trong lúc, và sau động đất để tránh thương tích và thiệt hại do động đất gây ra.Trước động đất:• Những vật dụng trong nhà nên được đứng vững chắc. Những thứ như tivi, gương, máy tính, v.v. nên được dán chặt vào tường để khi lung lay cũng không rớt xuống đất gây ra thương tích. Tranh, gương, v.v. nên được đặt xa giường ngủ. • Đặt các đồ đạc nặng trong nhà như kệ sách, tủ chén, v.v. xa khỏi các cửa và những nơi thường lui tới để khi chúng ngả vẫn không làm chướng ngại lối ra. Chúng cũng nên được dính chặt vào tường. • Vật dụng nhà bếp nên được dính chặt vào mặt đất, tường, hay mặt bàn. • Những vật nặng hay dễ bể nên để gần mặt đất. • Tại một nơi dễ đến, dự trữ nước uống, đồ ăn đóng hộp, đèn pin, pin, rađiô, băng, thuốc men. Thay đổi chúng thường xuyên khi hết hạn. • Chọn một nơi tụ họp gia đình nếu mọi người không ở cùng nơi khi động đất xảy ra. Trong lúc động đất:• Nếu động đất xảy ra trong lúc trong nhà, chui xuống một gầm bàn lớn hay giường nếu nó có thể chịu được nhiều vật rớt. Như thế khi nhà sập vẫn có khí thở. Nếu bàn chuyển động, đi theo bàn. • Nếu không có gầm bàn thì tìm góc phòng hay cửa mà đứng. Tránh cửa kính. • Tránh xa những vật có thể rơi xuống. • Che mặt và đầu để khỏi bị các mảnh vụn trúng. • Nếu điện cúp, dùng đèn pin. Đừng dùng nến hay diêm vì chúng có thể gây hỏa hoạn. • Nếu động đất xảy ra trong lúc ở ngoài đường, tránh xa các tòa nhà và dây điện. Tìm chỗ trống mà đứng. • Nếu động đất xảy ra trong lúc lái xe, ngừng xe ở lề đường. Tránh các cột điện, dây điện, và đường cầu.Sau động đất:• Kiểm tra thử có ai bị thương không. Đừng di chuyển người bị thương trừ khi họ ở gần dây điện hay những nguy hiểm khác. Gọi cấp cứu nếu có người tắt thở. Nếu bị nhà sập, gây tiếng động để kêu cứu. • Chuẩn bị cho các trận dư chấn, những trận động đất gây ra bởi trận động đất vừa xảy ra. Tuy chúng nhỏ hơn, chúng vẫn có thể gây ra thương tích. • Mở rađiô để xem có tin tức khẩn cấp không. • Động đất có thể làm đứt dây điện, gas, hay nước. Nếu ngửi thấy có mùi hôi, mở cửa sổ và tắt đường gas, đừng tắt mở máy nào hết, và ra ngoài. Thông báo các nhà chức trách. • Đến nơi đã chọn để tụ họp và tính đầy đủ.
 
 
 
2.Sóng thần
Các trận sóng thần có thể hình thành khi đáy biển, đột ngột bị biến dạng theo chiều dọc, chiếm chỗ của lượng nước nằm trên nó. Những sự di chuyển lớn theo chiều dọc như vậy của vỏ Trái Đất có thể xảy ra tại các rìa mảng lục địa. Những trận động đất do nguyên nhân va chạm mảng đặc biệt hay tạo ra các cơn sóng thần. Khi một mảng đại dương va chạm với một mảng lục địa, đôi khi nó làm rìa mảng lục địa chuyển động xuống dưới. Cuối cùng, áp suất quá lớn tác dụng lên rìa mảng khiến nó nhẩy giật lùi lại (snaps back) tạo ra các đợt sóng chấn động vào vỏ Trái Đất, khiến xảy ra cơn địa chấn dưới lòng biển, được gọi là động đất tại đáy biển.
Những vụ lở đất dưới đáy biển (thỉnh thoảng xảy ra vì nguyên nhân động đất) cũng như những vụ sụp đổ của núi lửa cũng có thể làm chấn động cột nước khiến trầm tích và đá trượt xuống theo sườn núi rơi xuống đáy biển. Tương tự như vậy, một vụ phun trào núi lửa mạnh dưới biển cũng có thể tung lên một cột nước để hình thành sóng thần. Các con sóng được hình thành khi khối lượng nước bị dịch chuyển vị trí chuyển động dưới ảnh hưởng của trọng lực để lấy lại thăng bằng và tỏa ra trên khắp đại dương như các gợn sóng trên mặt ao.
Trong thập kỷ 1950 người ta đã khám phá ra rằng những cơn sóng thần lớn có thể xuất hiện từ các vụ lở đất, hoạt động phun trào núi lửa và các vụ va chạm thiên thạch. Những hiện tượng đó khiến một lượng nước lớn nhanh chóng bị chuyển chỗ, khi năng lượng từ một thiên thạch hay một vụ nổ chuyển vào trong nước nơi xảy ra va chạm. Các cơn sóng thần với xuất hiện từ những nguyên nhân đó, khác với những trận sóng thần do động đất gây ra, thường nhanh chóng tan rã và hiếm khi lan tới những bờ biển quá xa vì diện tích xảy ra sự kiện nhỏ. Các hiện tượng đó có thể gây ra các cơn sóng địa chấn lớn chỉ trong một khu vực, như vụ lở đất ở Vịnh Lituya tạo ra một sóng nước ước tính tới 50-150 m và tràn tới độ cao 524 m trên các ngọn núi ở đó. Tuy nhiên, một vụ lở đất cực lớn có thể gây ra một trận sóng thần cực lớn gây ảnh hưởng trên toàn bộ đại dương.
   
Đặc điểm:
Sóng thần diễn biến rất khác biệt tùy theo kiểu sóng: chúng chứa năng lượng cực lớn, lan truyền với tốc độ cao và có thể vượt khoảng cách lớn qua đại dương mà chỉ mất rất ít năng lượng. Một trận sóng thần có thể gây ra thiệt hại trên bờ biển cách hàng nghìn cây số nơi nó phát sinh, vì thế chúng ta có thể có nhiều tiếng đồng hồ chuẩn bị từ khi nó hình thành tới lúc ập vào một bờ biển, nó xuất hiện một thời gian khá dài sau khi sóng địa chấn hình thành từ nơi xảy ra sự kiện lan tới. Năng lượng trên mỗi mét dài trong sóng tỷ lệ với nghịch đảo của khoảng cách từ nguồn phát.
Thậm chí một trận sóng thần riêng biệt có thể liên quan tới một loạt các đợt sóng với những độ cao khác nhau. Ở vùng nước rộng, các cơn sóng thần có chu kỳ rất dài (thời gian để đợt sóng sau tới vị trí một điểm sau đợt sóng trước), từ nhiều phút tới nhiều giờ, và chiều dài sóng dài lên tới hàng trăm kilômét. Điều này rất khác biệt so với các con sóng hình thành từ gió bình thường trên mặt đại dương, chúng thường có chu kỳ khoảng 10 giây và chiều dài sóng 150 mét.
Chiều cao thực của một đợt sóng thần trên đại dương thường không tới một mét. Điều này khiến những người ở trên tàu giữa đại dương khó nhận ra chúng. Bởi vì chúng có chiều dài sóng lớn, năng lượng của một cơn sóng thần điều khiển toàn bộ cột nước, hướng nó xuống phía đáy biển. Các cơn sóng đại dương ở vùng nước sâu thường xuất hiện do chuyển động của nước tính từ bề mặt đến một độ sâu bằng một nửa chiều dài sóng. Điều này có nghĩa rằng sự di chuyển của sóng bề mặt đại dương chỉ đạt tới độ sâu khoảng 100 m hay ít hơn. Trái lại, những cơn sóng thần hoạt động như những con sóng vùng nước nông giữa biển khơi (bởi chiều dài của chúng ít nhất lớn gấp 20 lần chiều sâu nơi chúng hoạt động), bởi sự phân tán chuyển động của nước ít xảy ra nơi nước sâu.
Con sóng đi qua đại dương với tốc độ trung bình 500 dặm một giờ[1]. Khi tiến tới đất liền, đáy biển trở nên nông và con sóng không còn di chuyển nhanh được nữa, vì thế nó bắt đầu "dựng đứng lên"; phần phía trước con sóng bắt đầu dựng đứng và cao lên, và khoảng cách giữa các đợt sóng ngắn lại. Tuy một người ở ngoài đại dương có thể không nhận thấy dấu hiệu sóng thần, nhưng khi vào bờ nó có thể đạt chiều cao một tòa nhà sáu tầng hay hơn nữa. Quá trình dựng đứng lên này tương tự như khi ta vẩy một chiếc roi da. Khi sóng tiến từ phía cuối ra đầu roi, cùng một lượng năng lượng phân bố trong khối lượng vật liệu ngày càng nhỏ, khiến chuyển động trở nên mãnh liệt hơn.
Một con sóng trở thành một con "sóng nước nông" khi tỷ lệ giữa độ sâu mặt nước và chiều dài sóng của nó rất nhỏ, và bởi vì sóng thần có chiều dài sóng rất lớn (hàng trăm kilômét), các cơn sóng thần hoạt động như những cơn sóng nước nông ngay bên ngoài đại dương. Những con sóng nước nông di chuyển với tốc độ bằng căn bậc hai của tích giữa gia tốc trọng trường (9.8 m/s2) và chiều sâu nước. Ví dụ, tại Thái Bình Dương, với độ sâu trung bình 4000 m, một cơn sóng thần di chuyển với tốc độ khoảng 200 m/s (720 km/h hay 450 dặm/giờ) và mất ít năng lượng, thậm chí đối với những khoảng cách lớn. Ở độ sâu 40 m, tốc độ sẽ là 20 m/s (khoảng 72 km/h hay 45 dặm/giờ), nhỏ hơn tốc độ trên đại dương nhưng rõ ràng con người không thể chạy nhanh hơn tốc độ này.
Sóng thần lan truyền từ nguồn phát (tâm chấn), vì thế những bờ biển trong vùng bị ảnh hưởng bởi chấn động thường lại khá an toàn. Tuy nhiên, các cơn sóng thần có thể gây nhiễu xạ xung quanh các mảng lục địa (như thể hiện trong hoạt hình này).
Đặc trưng riêng của điều kiện địa lý địa phương có thể dẫn tới hiện tượng triều giả hay sự hình thành các đợt sóng dừng, có thể gây thiệt hại lớn hơn trên bờ biển. Ví dụ, cơn sóng thần lan tới Hawaii ngày 1 tháng 4, 1946 có thời gian ngắt quãng mười lăm phút giữa các đợt sóng. Chu kỳ cộng hưởng tự nhiên của Vịnh Hilo là khoảng mười ba phút. Điều đó có nghĩa mỗi đợt sóng tiếp theo trùng pha với chuyển động của Vịnh Hilo, tạo ra một đợt triều giả trong vịnh. Vì thế, Hilo bị thiệt hại nặng nền nhất so với tất cả các địa điểm khác tại Hawaii, đợt sóng thần/triều giả có độ cao lên tới 14 m giết hại 159 người.
Sóng biển được chia làm 3 loại, căn cứ vào độ sâu :
Tầng nước sâu
Tầng nước trung bình
Tầng nước nông
Dù được tạo ra ở tầng nước sâu (khoảng 4000 m dưới mực nước biển), sóng thần được xem là sóng ở tầng nước nông. Khi sóng thần tiến vào tầng nước nông gần bờ, khoảng thời gian của nó không đổi, nhưng chiều dài sóng thì giảm liên tục, điều này làm cho nước tích tụ thành một mái vòm khỏng lồ, gọi là hiệu ứng "bị cạn".
Những dấu hiệu sau đây thường báo trước một cơn sóng thần :
Cảm thấy động đất.
Các bong bóng chứa khí gas nổi lên mặt nước làm ta có cảm giác như nước đang bị sôi.
Nước trong sóng nóng bất thường.
Nước có mùi trứng thối (khí hyđro sulfua) hay mùi xăng, dầu.
Nước làm da bị mẩn ngứa.
Nghe thấy một tiếng nổ như là:
- tiếng máy nổ của máy bay phản lực
- hay tiếng ồn của cánh quạt máy bay trực thăng, hay là
- tiếng huýt sáo.
Biển lùi về sau một cách đáng chú ý.
Vệt sáng đỏ ở đường chân trời.
Sóng thần không thể được dự đoán một cách hoàn toàn chính xác, nhưng có những dấu hiệu có thể báo trước một đợt sóng thần sắp xảy ra, và nhiều hệ thống đang được phát triển và được sử dụng để giảm thiểu những thiệt hại do sóng thần gây ra.
Ở những khoảnh khắc khi lưỡi đợt sóng thần là vùng lõm của nó, nước biển sẽ rút khỏi bờ với khoảng cách bằng nửa chu kỳ sóng trước khi đợt sóng tràn tới. Nếu đáy biển có độ nghiêng thấp, sự rút lui này có thể lên tới hàng trăm mét. Những người không nhận thức được về sự nguy hiểm có thể vẫn ở lại trên bãi biển vì tò mò, hay để nhặt những con cá trên đáy biển lúc ấy đã trơ ra.
 

Dấu hiệu cảnh báo sóng thần tại đập ngăn nước ở Kamakura, Nhật Bản, 2004. Ở thời Muromachi, một cơn sóng thần đã tràn vào Kamakura, phá hủy những ngôi nhà gỗ nơi đặt pho tượng Phật A di đà tại Kotokuin. Từ ấy, bức tượng được đặt ngoài trời.
Ở những khoảnh khắc khi lưỡi sóng của cơn sóng thần đạt mức đỉnh lần thứ nhất, những đợt sóng tiếp theo có thể khiến nước dâng cao hơn. Một lần nữa, việc hiểu biết về hoạt động của sóng thần rất quan trọng, để có thể nhận thức rằng khi mực nước rút xuống lần đầu tiên, nguy hiểm chưa hề qua. Ở những vùng bờ biển có độ cao thấp, một trận động đất mạnh là dấu hiệu cảnh báo chính rằng một cơn sóng thần có thể đã được tạo ra.
Những vùng có nguy cơ sóng thần cao có thể sử dụng những hệ thống cảnh báo sóng thần để xác định và cảnh báo người dân trước khi sóng đi tới đất liền. Tại một số cộng đồng ở bờ biển phía tây nước Mỹ, vốn có nguy cơ đối mặt với các cơn sóng thần Thái Bình Dương, những dấu hiệu cảnh báo hướng dẫn người dân đường thoát hiểm khi một cơn sóng thần tràn tới. Các mô hình máy tính có thể dự đoán phỏng chừng khoảng thời gian tràn tới và sức mạnh của sóng thần dựa trên thông tin về sự kiện gây ra nó và hình dạng của đáy biển (bathymetry) và vùng đất bờ biển (địa hình học).
Một trong những dấu hiệu cảnh báo sớm nhất là từ những loài động vật ở gần. Nhiều loài vật cảm giác được sự nguy hiểm và bỏ chạy lên vùng đất cao trước khi những con sóng tràn tới. Vụ động đất Lisbon là trường hợp đầu tiên được ghi lại về hiện tượng đó tại Châu Âu. Hiện tượng này cũng đã được nhận thấy tại Sri Lanka trong trận Động đất Ấn Độ Dương 2004 .Một số nhà khoa học có thể suy luận rằng các loài vật có thể có một khả năng cảm nhận được sóng hạ âm Rayleigh waves từ một trận động đất nhiều phút hay nhiều giờ trước khi một cơn sóng thần tấn công vào bờ (Kenneally)
Trong khi vẫn chưa có khả năng ngăn chặn sóng thầm, tại một số quốc gia thường phải hứng chịu thảm họa thiên nhiên này, một số biện pháp đã được tiến hành nhằm giảm thiệt hại do sóng thần gây ra. Nhật Bản đã áp dụng một chương trình lớn xây dựng các bức tường chắn sóng thần với chiều cao lên tới 4.5 m (13.5 ft) trước những vùng bờ biển nhiều dân cư sinh sống. Những nơi khác đã xây dựng các cửa cống và kênh để dẫn dòng nước từ những cơn sóng thần đi hướng khác. Tuy nhiên, hiệu quả của chúng vẫn còn là một vấn đề tranh cãi, bởi vì các cơn sóng thần thường cao hơn tường chắn. Ví dụ, đợt sóng thần tràn vào đảo Hokkaido ngày 12 tháng 7, 1993 tạo ra những đợt sóng cao tới 30 m (100 ft) - tương đương một tòa nhà 10 tầng. Thị trấn cảng Aonae đã được trang bị một bức tường chắn sóng thần bao kín xung quanh, nhưng các cơn sóng đã tràn qua tường và phá hủy toàn bộ cấu trúc xây dựng bằng gỗ trong vùng. Bức tường có thể có tác dụng trong việc làm chậm và giảm độ cao sóng thần nhưng nó không ngăn cản được tính phá hủy và gây thiệt hại nhân mạng của sóng thần.
Những hiệu ứng của một cơn sóng thần có thể giảm bớt nhờ những yếu tố thiên nhiên như cây trồng dọc bờ biển. Một số vị trí trên đường đi của cơn sóng thần Ấn Độ Dương 2004 hầu như không bị thiệt hại gì nhờ năng lượng sóng thần đã bị một dải cây như dừa và đước hấp thụ. Một ví dụ khác, làng Naluvedapathy tại vùng Tamil Nadu Ấn Độ bị thiệt hại rất ít khi những con sóng thần tan vỡ trong khu rừng 80.244 cây được trồng dọc bờ biển năm 2002 để được ghi tên vào Sách kỷ lục Guinness. Những nhà môi trường đã đề xuất việc trồng cây dọc theo những vùng bờ biển có nguy cơ sóng thần cao. Tuy có thể mất vài năm để cây lớn đạt tới kích cỡ cần thiết, những công cuộc trồng rừng như vậy có thể mang lại những công cụ hữu hiệu, rẻ tiền cũng như có tác dụng lâu dài trong việc ngăn chặn sóng thần hơn những biện pháp đắt tiền, gây hại đến môi trường như các bức tường chắn sóng.
 
 
 
 
 
3.Bão từ
Bão từ hay còn gọi là bão địa từ trên Trái Đất là những thời kỳ mà kim la bàn dao động mạnh. Nguyên nhân gây ra bão từ là do dòng hạt mang điện phóng ra từ các vụ bùng nổ trên Mặt Trời (gió Mặt Trời) tác dụng lên các đường cảm ứng từ của Trái Đất. Trên một số hành tinh khác trong hệ Mặt Trời, nhất là các hành tinh có từ quyển (như Sao Thổ]) cũng có hiện tượng tương tự.
Các quá trình được miêu tả như sau:
Các dòng hạt mang điện phóng ra từ Mặt Trời sinh ra một từ trường, có độ lớn vào khoảng 6.10-9 tesla.
Từ trường này ép lên từ trường Trái Đất làm cho từ trường nơi bị ép tăng lên.
Khi từ trường Trái Đất tăng lên, từ thông sẽ biến thiên và sinh ra một dòng điện cảm ứng chống lại sự tăng từ trường của Trái Đất (theo định luật Lenz).
Dòng điện cảm ứng này có thể đạt cường độ hàng triệu ampe chuyển động vòng quanh Trái Đất và gây ra một từ trường rất lớn tác dụng lên từ trường Trái Đất.
Hiện tượng này tiếp diễn làm cho từ trường Trái Đất liên tục biến thiên và kim la bàn dao động mạnh.
Nếu hướng của từ trường trong tầng điện ly hướng về phía Bắc, giống như hướng của từ trường Trái Đất, bão địa từ sẽ lướt qua hành tinh của chúng ta. Ngược lại, nếu từ trường hướng về phía Nam, ngược với hướng từ trường bảo vệ của Trái Đất, các cơn bão địa từ mạnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới Trái Đất. Mặc dù khí quyển Trái Đất chặn được các dòng hạt năng lượng cao đến từ Mặt Trời này (gồm electron và proton), song các hạt đó làm xáo trộn từ trường của hành tinh, cụ thể là quyển từ, có thể gây ra rối loạn trong liên lạc vô tuyến hay thậm chí gây mất điện.
Các vụ phun trào khí và nhiễm điện từ Mặt Trời được xếp theo 3 cấp: C là yếu, M là trung bình, X là mạnh. Tùy theo cấp cao hay thấp mà ảnh hưởng của nó lên từ trường Trái Đất gây ra bão từ nhiều hay ít. Bão từ được xếp theo cấp từ G1 đến G5, G5 là cấp mạnh nhất. Theo nhiều nghiên cứu thì hiện nay các cơn bão từ xuất hiện nhiều hơn và mạnh hơn, điều này cho thấy rằng Mặt Trời đang ở vào thời kỳ hoạt động rất mạnh.
Thời kỳ có bão từ là thời kỳ rất nguy hiểm cho người có bệnh tim mạch bởi vì từ trường ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động của các cơ quan trong hệ tuần hoàn của con người. Ngoài ra từ trường của Trái Đất cũng giúp cho một số loài động vật thực hiện một số chức năng sống của chúng như là chức năng định hướng do đó bão từ cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến sự sống của các loài này.
 
 
4.El Nino
El Nino (phát âm như "eo ni-nhô") là hiện tượng trái ngược với La Nina (tiếng Tây Ban Nha: El Niño và La Niña), là một trong những hiện tượng thời tiết bất thường gây thảm họa cho con người từ hơn 5000 năm nay. Ngày nay, hiện tượng El Nino xuất hiện thường xuyên hơn và sức tàn phá của nó cũng mãnh liệt hơn.
El Niño trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là "đứa trẻ", chỉ đến Chúa hài đồng. Cứ trung bình 3-10 năm, ngư dân vùng biển tại Peru phát hiện ra nước biển ấm dần lên vào mùa đông, khoảng vài tuần trước Lễ Giáng Sinh. Đây chính là một nghịch lý, nhưng nó vẫn tồn tại có chu kì và kéo theo hiện tượng hơi nước ở biển bốc lên nhiều hơn, tạo ra những cơn mưa như thác đổ. Và ngư dân đã gọi hiện tượng này là El Niño để đánh dấu thời điểm xuất phát của nó là gần Giáng Sinh.
Trong khí tượng học người ta còn gọi hiện tượng El Nino là Dao động phương Nam (Southern oscillation). Ngày nay, khoa học đã chứng minh được rằng hiện tượng El Nino có ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu và thuật ngữ El Nino dùng để chỉ hiện tượng nước biển nóng lê.
Mưa bão, lụt lội, đó là các hiện tượng dễ thấy nhất của El Nino. Lý do là dòng nước ấm ở phía đông Thái Bình Dương chạy dọc theo các nước Chile, Peru... đã đẩy vào không khí một lượng hơi nước rất lớn. Hậu quả là các quốc gia ở Nam Mỹ phải hứng chịu một lượng mưa bất thường, có khi lượng mưa lên đến 15 cm mỗi ngày. Điều bất ngờ là những cơn gió ở Thái Bình Dương tự dưng đổi hướng vào thời điểm có El Nino. Chúng thổi ngược về phía đông thay vì phía tây như thời tiết mỗi năm. Những cơn gió này có khả năng đưa mây vượt qua Nam Mỹ, đến tận Romania, Bulgaria, hoặc bờ biển Đen của Nga. Như vậy, một vùng rộng lớn của tây bán cầu bị El Nino khống chế. Năm 1997, toàn vùng này bị thiệt hại ước tính 96 tỷ USD do mưa bão, lũ lụt từ El Nino gây ra. Ngược lai, hiện tượng khô hạn lại xảy ra trên các quốc gia thuộc đông bán cầu. Do mây tập trung vào một khu vực có mật độ quá cao, do đó, phần còn lại của thế giới phải hứng chịu đợt hạn hán nghiêm trọng. Các nước thường xuyên chịu ảnh hưởng khô hạn do El Nino gây ra có thể kể: Úc, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam... Đợt hạn hán gần đây nhất ở Úc đã làm hàng triệu con kangaroo, cừu, bò... chết vì khát. Bang New South Wales suốt chín tháng không có mưa, hồ nước ngọt Hinze (bang Queensland) cạn kiệt. Tại Thái Lan, hơn một triệu gia đình bị thiếu nước trầm trọng.
El Nino không phải là hiện tượng do con người tạo ra, mà chính là thiên nhiên. Vì sao lại xuất hiện dòng nước ấm đột ngột ở phía đông Thái Bình Dương để khởi đầu hiện tượng El Nino? Một trong những nguyên nhân lớn gây ra hiện tượng El Nino là sự thay đổi hướng gió, tuy nhiên đến nay các nhà khoa học vẫn chưa có lời giải đáp hoàn toàn thống nhất. Những nguyên nhân khác bao gồm sự thay đổi áp suất không khí, Trái Đất nóng dần lên, hay cả các cơn động đất dưới đáy biển.
Các nhà khoa học đã đề ra ba giải pháp đối phó với hiện tượng này:
Khai thác tất cả tiềm lực văn minh nhân loại để dự báo thời điểm chính xác xuất hiện, dự báo đường đi và sức công phá.
Không làm các công việc tiếp tay cho El Nino như phá rừng, thải khí cácbonic vào không khí, vì El Nino càng mạnh mẽ hơn nếu mặt đất thiếu cây xanh hay để xảy ra hiện tượng nhà kính.
Chuẩn bị những điều kiện tối thiểu để sống chung với El Nino, ví dụ như xây nhà phao tránh lũ (đối với vùng lũ lụt) hay dự trữ nước (đối với vùng khô hạn)...
Không phải El Nino lúc nào cũng gây tai họa cho con người. Cách đây hơn 5000 năm, khi mà hiện tượng này mới được ngư dân Peru phát hiện thì El Nino đồng nghĩa với "tin mừng". Vì nước biển lúc ấy tăng lên đủ ấm để vi sinh vật phát triển. Chúng là thức ăn cho cá biển. Nhờ thế nền đánh bắt cá của các nước ven biển Nam Mỹ phát triển mạnh. Nếu năm nào mà hiện tượng El Nino không làm cho nhiệt độ nước biển tăng lên quá cao thì năm đó sẽ có mùa cá bội thu.
 
 
 
5.La Nina
La Nina là một hiện tượng trái ngược lại với hiện tượng El Nino. Hiện tượng La Nina thường bắt đầu hình thành từ tháng ba đến tháng sáu hằng năm, và gây ảnh hưởng mạnh nhất vào cuối năm cho tới tháng hai năm sau. La Nina sẽ xảy ra ngay sau khi hiện tượng El Nino kết thúc.Hiện tượng La Nina thuộc dòng biển lạnh làm lạnh nhiệt độ của những vùng mà nó đi qua.
Trong tiếng Tây Ban Nha, La Nina còn có nghĩa là "bé gái" để biểu thị sự trái ngược lại với hiện tượng El Nino. La Nina còn được gọi với cái tên El Viejo hay Anti-El Nino.
 
 
6.Núi lửa
Núi lửa là núi có miệng ở đỉnh, qua đó, từng thời kỳ, các chất khoáng nóng chảy với nhiệt độ và áp suất cao bị phun ra ngoài. Núi lửa phun là một hiện tượng tự nhiên trên Trái Đất hoặc các hành tinh vẫn còn hoạt động địa chấn khác, với các vỏ thạch quyển di chuyển trên lõi khoáng chất nóng chảy. Khi núi lửa phun, một phần năng lượng ẩn sâu trong lòng hành tinh sẽ được giải phóng.
Trên thế giới, Indonesia, Nhật Bản và Mỹ được xem là ba nước có nhiều núi lửa đang hoạt động nhất, theo thứ tự giảm dần về mức độ hoạt động.
Phân loại núi lửa:
Theo hình thức hoạt động, núi lửa được chia thành 3 loại:
Núi lửa hoạt động
Núi lửa đang ngủ
Núi lửa đã tắt
 
Hai núi lửa Bromo và Semeru đang bốc khói tại đảo Java, Indonesia.
Hầu hết núi lửa và động đất xảy ra dọc theo ranh giới của hàng chục mảng thạch quyển khổng lồ trôi nổi trên bề mặt Trái Đất. Một trong những vành đĩa nơi động đất và phun trào núi lửa xảy ra nhiều nhất là quanh Thái Bình Dương, thường được gọi là Vành đai núi lửa Thái Bình Dương. Nó gây ra các vụ chấn động và nung nóng trải dài từ Nhật Bản tới Alaska và Nam Mỹ.
Vào năm 2000, các nhà khoa học đã ước tính ít nhất 500 triệu người sống gần khu vực núi lửa hoạt động, tương đương với dân số toàn thế giới vào đầu thế kỷ 17.
Trong 500 năm qua, có ít nhất là 300.000 người đã chết vì núi lửa. Từ năm 1980 đến 1990, núi lửa đã làm thiệt mạng ít nhất 26.000 người.
 
Núi lửa đang hoạt động lớn nhất thế giới hiện nay đang nằm ở châu Mỹ. Đó là núi lửa Mauna Loa, cao 4.171 mét so với mực nước biển. Núi lửa Mauna Loa ở quần đảo Hawaii, giữa Thái Bình Dương. Mauna Loa có đường kính vĩ đại 100 km. Ngoài 4.171 mét trên mực nước biển, chân núi nằm ở sâu hơn 5.000 mét dưới lòng Thái Bình Dương. Vì vậy, chiều cao thực sự của núi lửa đang hoạt động lớn nhất thế giới là trên 9.000 mét. Với chiều cao đó nó thậm chí còn cao hơn đỉnh núi Everest.
Hiện tại (2010) Việt Nam không có núi lửa nào đang phun. Tuy nhiên trong lịch sử, cùng với vận động vỏ Trái Đất trong khu vực (Đông Dương, Đông Nam Á) đã có nhiều đợt núi lửa phun trào còn để lại vết tích trong kiến trúc địa lý.Ngày 15 tháng 2 năm 1923, cù lao Hòn thuộc Phan Thiết đã xảy ra động đất làm rung chuyển nhà cửa, kéo dài 1 tuần; thủy thủ trên tàu Vacasamaru của Nhật phát hiện một đám khói đen dựng đứng, kèm theo một cột hơi dày đặc bốc cao hơn 2.000 m cùng với những tiếng nổ mạnh phát ra từng đợt. Đến ngày 20 tháng 3 cùng năm, động đất và núi lửa phun lại xảy ra lần nữa.
Mặt Trăng của Trái Đất hiện không quan sát thấy núi lửa nào lớn đang hoạt động.[4] Núi lửa Tvashtar trên vệ tinh Io của sao Mộc là một trong những núi lửa còn hoạt động lớn nhất hệ Mặt Trời và do đó, lớn nhất vũ trụ hiện quan sát được.
Núi lửa và động đất:
Những trận động đất thường để lại các dư chấn, có thể gây ra sóng thần.Động đất có thể làm dịch chuyển các mảng địa chất gây nên các vụ phun trào núi lửa .
Quan sát từ thực địa nhiều vùng và suy luận rằng: Núi lửa, động đất, đứt gẫy đều do sự hoạt động của các khối xâm nhập nông á núi lửa trẻ.Quan sát thấy núi lửa luôn nằm tại giao điểm của 4 đứt gẫy. Do đó có thể nói: Núi lửa sinh ra động đất và đứt gẫy. Đến lượt mình, các đứt gẫy lại tạo điều kiện cho núi lửa chui ra mặt đất tại điểm yếu nhất của vỏ quả đất: nơi giao điểm của 4 đứt gẫy. Động đất sẽ có cường độ mạnh nhất tại giao điểm của 4 đứt gẫy và trên nóc của các khối xâm nhập nông á núi lửa trẻ giàu quặng kim loại. Nhờ đó có thể dùng các phương pháp địa vật lý hàng không ( từ và trọng lực hàng không bằng máy bay và vệ tinh) để xác định tâm của các khối xâm nhập nông á núi lửa - cũng đồng thời là tâm chấn động đất đã xảy ra hoặc có thể tái hoạt động.
 
 
7.Nhật thực
Nhật thực xảy ra khi Mặt Trăng đi qua giữa Trái Đất và Mặt Trời và che khuất hoàn toàn hay một phần Mặt Trời khi quan sát từ Trái Đất. Điều này chỉ có thể xảy ra tại thời điểm sóc trăng non được quan sát thấy từ Trái Đất, khi Mặt Trời và Mặt Trăng giao hội. Nhật thực toàn phần được nhiều người coi là một hiện tượng thiên nhiên đặc biệt nhất mà người đó có thể quan sát được. Dĩ nhiên, nhật thực chỉ có thể quan sát thấy tại các vùng trên Trái Đất đang là ban ngày.
Có bốn kiểu nhật thực:
Nhật thực toàn phần xảy ra khi Mặt Trời bị Mặt Trăng che lấp hoàn toàn. Đĩa Mặt Trời phát sáng bị che khuất bởi vành tối của Mặt Trăng, và có thể quan sát thấy vầng hào quang nhạt bên ngoài là ánh sáng đến từ vành đai nhật hoa của Mặt Trời (xem hình trên). Trong thời gian xảy ra bất kỳ một lần nhật thực nào, nhật thực toàn phần chỉ có thể được quan sát thấy từ một dải hẹp trên bề mặt Trái Đất. Tại một điểm cố định, nhật thực toàn phần chỉ kéo dài vài phút (tối đa 7 phút). Ví dụ nhật thực toàn phần ở Việt Nam vào năm 1995 chỉ kéo dài gần 2 phút.
Nhật thực hình khuyên xảy ra khi Mặt Trời và Mặt Trăng nằm chính xác trên một đường thẳng, nhưng kích cỡ biểu kiến của Mặt Trăng nhỏ hơn kích cỡ biểu kiến của Mặt Trời. Vì thế Mặt Trời vẫn hiện ra như một vòng đai rực rỡ bao quanh Mặt Trăng.
Nhật thực lai là một kiểu trung gian giữa nhật thực toàn phần và nhật thực hình khuyên. Ở một số điểm trên Trái Đất, nó được quan sát thấy là nhật thực toàn phần; ở những nơi khác nó lại là nhật thực hình khuyên. Thuật ngữ chung cho nhật thực toàn phần, hình khuyên hay nhật thực lai là nhật thực trung tâm.
Nhật thực một phần xảy ra khi Mặt Trời và Mặt Trăng không nằm chính xác trên cùng một đường thẳng, và Mặt Trăng chỉ che khuất một phần của Mặt Trời. Hiện tượng này thường được quan sát thấy ở nhiều nơi trên Trái Đất bên ngoài đường đi của nhật thực trung tâm. Tuy nhiên, một số kiểu nhật thực chỉ có thể được quan sát thấy như là nhật thực một phần, bởi vì đường trung tâm không bao giờ giao nhau với bề mặt của Trái Đất.
Ngày 1 tháng 8 năm 2008, vào lúc 16 giờ đến 18 giờ 30 tại Việt Nam có thể quan sát thấy nhật thực một phần
Lý do để một số lần nhật thực là nhật thực toàn phần hay kiểu hình khuyên phụ thuộc vào quỹ đạo hình elíp của Mặt Trăng quanh Trái Đất. Một trong những sự trùng hợp đáng lưu tâm nhất trong tự nhiên là (i) Mặt Trời nằm cách xa khoảng 400 lần so với khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trăng, và (ii) Mặt Trời cũng có đường kính lớp gấp khoảng 400 lần so với Mặt Trăng. Vì thế, khi quan sát từ Trái Đất, Mặt Trời và Mặt Trăng có vẻ có cùng kích thước trên bầu trời - khoảng 1/2 độ nếu đo góc. Bởi vì quỹ đạo của Mặt Trăng quanh Trái Đất là hình elíp chứ không phải là hình tròn, vì vậy, ở một số khoảng thời gian Mặt Trăng ở xa hơn và lúc khác nó lại ở gần Trái Đất hơn so với khoảng cách trung bình.
Nhật thực xảy ra khi Mặt Trăng ở gần Trái Đất nhất (gần điểm cận địa), thì nó đủ lớn để che khuất hoàn toàn cả đĩa sáng của Mặt Trời, và là nhật thực toàn phần. Khi nó ở xa Trái Đất nhất, (gần điểm viễn địa), nó xuất hiện nhỏ hơn và không thể che khuất hoàn toàn Mặt Trời. Trong trường hợp đó vẫn còn lại một annulus (hay vòng nhẫn) nhỏ của đĩa sáng Mặt Trời vẫn không bị che khuất. Vì vậy sinh ra thuật ngữ "nhật thực hình khuyên". Nhật thực hình khuyên thường xảy ra hơn so với nhật thực toàn phần bởi vì nói chung Mặt Trăng nằm xa Trái Đất ở khoảng cách ít khi che khuất hoàn toàn được Mặt Trời. Tỷ lệ giữa kích thước biểu kiến của Mặt Trăng và của Mặt Trời được gọi là độ lớn của nhật thực.
Thuật ngữ
Vì hiện tượng này xảy ra đối với Mặt Trời (nhật) và người xưa khi thấy hiện tượng Mặt Trăng che khuất Mặt Trời nên cho rằng Mặt Trăng đã "ăn" (thực) Mặt Trời. Do đó, hiện tượng này được gọi là "nhật thực", một từ Hán-Việt có nghĩa là "ăn Mặt Trời".
Quan sát nhật thực:
Nhìn trực tiếp vào quyển sáng của Mặt Trời (đĩa sáng của chính Mặt Trời), thậm chí chỉ trong vòng vài giây, có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho võng mạc mắt, bởi vì số lượng lớn những tia bức xạ nhìn thấy và không nhìn thấy được ra quyển sáng này phát ra. Tổn thương có thể dẫn tới giảm thị lực vĩnh viễn, thậm chí gây mù loà. Võng mạc không nhạy cảm với cảm giác đau, và những hậu quả khi võng mạc bị tổn thương có thể chưa xuất hiện trong nhiều giờ đồng hồ, vì thế chúng ta không nhận biết được sự thương tổn đang diễn ra.
Ở các điều kiện thông thường, Mặt Trời quá sáng tới mức rất khó nhìn trực tiếp vào đó, vì thế thông thường con người không có xu hướng nhìn vào Mặt Trời ở mức có thể gây hại cho mắt. Tuy nhiên, trong khi xảy ra nhật thực, khi đa phần Mặt Trời bị che khuất, mọi người cảm thấy dễ dàng hơn và cũng thường cố sức quan sát hiện tượng. Không may thay, nhìn vào Mặt Trời khi nhật thực đang diễn ra cũng nguy hiểm như khi nhìn trực tiếp vào nó, ngoại trừ chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn khi Mặt Trời bị che khuất "toàn bộ", (toàn bộ chỉ xuất hiện khi đĩa Mặt Trời bị che khuất hoàn toàn— nó không xảy ra trong nhật thực hình khuyên). Quan sát đĩa Mặt Trời thông qua bất kỳ một hình thức trợ giúp quang học nào (ống nhòm, kính thiên văn, hay thậm chí là một kính ngắm quang học máy ảnh) thậm chí còn nguy hiểm hơn, dù chỉ cần nhìn bằng mắt thường cũng đã dễ dàng gây thương tổn.
Quan sát nhật thực toàn phần và nhật thực hình khuyên:
Theo dõi Mặt trời trong khi nhật thực một phần hay hình khuyên(và khi nhật thực toàn phần xảy ra mà chúng ta đang đứng ở ngoài bóng đen) yêu cầu chúng ta phải có thiết bị bảo vệ mắt đặc biệt, hoặc các cách theo dõi gián tiếp.
Đĩa mặt trời có thể xem bằng cách sử dụng những thiết bị lọc để ngăn chặn ảnh hưởng có hại của bức xạ Mặt trời. Kính râm là không đủ an toàn, vì chúng không ngăn chặn được các bức xạ của tia hồng ngoại nguy hiểm và không nhìn thấy, đủ để gây ra hỏng mắt. Bạn chỉ được dùng những bộ lọc ánh sáng mặt trời được thiết kế và được chứng nhận để xem trực tiếp đĩa Mặt trời.
Cách an toàn nhất để xem đĩa Mặt trời là cách quan sát gián tiếp. Điều này có thể thực hiện được bằng cách đưa hình ảnh của đĩa Mặt trời lên trên một tờ giấy trắng hoặc tấm bìa trắng bằng cách dùng một cặp kính hiển vi (che thấu kính của một chiếc), một kính viễn vọng, hoặc một tấm bìa cứng khác có khoan một lỗ nhỏ (đường kính khoảng 1mm), thường được gọi là lỗ châm kim. Hình ảnh nhận được này của Mặt trời có thể xem được một cách an toàn. Kỹ thuật này có thể được sử dụng để quan sát các vết mặt trời, cũng như là các nhật thực. Tuy vậy, cần phải cẩn thận phòng ngừa không cho ai được nhìn trực tiếp qua thấu kính. (kính thiên văn, lỗ kim, v.v...)
Quan sát đĩa Mặt trời trên một màn hình video (của một máy quay phim hoặc một máy quay phim kỹ thuật số) là an toàn, mặc dù chính thiết bị lại có thể bị hư hại do ánh sáng trực tiếp của Mặt trời. Nhìn qua ô nhìn thấu kính của các máy trên lại không an toàn.
Các phòng bị an toàn như trên áp dụng cho việc quan sát mặt trời bất kỳ lúc nào trừ quá trình nhật thực toàn phần (xem dưới đây).
Một cách khác để quan sát các hiện tượng trên một cách an toàn là bạn hãy sử dụng một thau nước sạch , đổ đầy nước vào bên trong và nhìn qua nó , bạn có thể thấy được . Thứ 2 là hãy dùng tấm chắn mà thợ hàn thường dùng để nhin thì cũng rất hiệu quả , mà không phải lo ngại về việc mắt bị tổn thương do các tia hồng ngoại gây ra .
 
 
 
Quan sát trong thời gian nhật thực toàn phần:
Trái ngược với những nhận định thông thường, quan sát giai đoạn toàn phần của một nhật thực toàn phần bằng mắt thường, kính hiển vi hay kính thiên văn là an toàn cho mắt, khi hình Mặt Trời hoàn toàn bị Mặt Trăng che lấp; thực tế đây là một hình ảnh rất tuyệt mỹ và đặc sắc, đồng thời nếu xem nó qua bộ lọc thì rất tối. Nhật hoa sẽ được thấy rõ, và thậm chí cả...
Dự đoán nhật thực:
Trong khi xảy ra nhật thực, bằng mắt thường ta có thể quan sát thấy một số hiện tượng đặc biệt. Thông thường, các đốm ánh sáng đi xuyên qua các khe nhỏ giữa tán lá, có hình tròn. Đó là những hình ảnh của Mặt Trời. Trong nhật thực một phần, các đốm sáng có hình một phần của Mặt Trời, như trong hình ảnh.
30 tháng 5 năm 1965: Phóng các tên lửa Charlestown, Hoa Kỳ
20 tháng 5 năm 1966: Phóng các tên lửa tại Karystos, Hy Lạp để quan sát nhật thực
12 tháng 11 năm 1966: Phóng hai tên lửa Titus từ Las Palmas, Argentina
26 tháng 2 năm 1979: Phóng các tên lửa từ Red Lake, Canada
16 tháng 2 năm 1980: Phóng các tên lửa từ bệ phóng San Marco
Nhật thực trước bình minh hay sau hoàng hôn:
Có thể quan sát thấy một vụ nhật thực đạt tới mức toàn bộ (hay nếu là nhật thực một phần, gần toàn bộ) trước bình minh hay sau hoàng hôn từ một vị trí đặc biệt. Khi hiện tượng này xảy ra một thời gian ngắn ngay trước bình minh hay hoàng hôn, bầu trời sẽ trở nên tối hơn bình thường. Lúc ấy, một vật thể — đặc biệt một hành tinh (thường là Sao Thuỷ) — có thể được quan sát thấy gần điểm mọc hay lặn của mặt trời trên đường chân trời nơi không thể nhìn thấy được nếu không xảy ra nhật thực.
Sự xảy ra đồng thời của nhật thực và sự vượt ngang qua của một hành tinh Trên nguyên tắc, việc xảy ra đồng thời của nhật thực và sự lướt qua của một hành tinh là có thể. Nhưng các hiện tượng đó cực kỳ hiếm bởi thời gian diễn ra của chúng rất ngắn. Lần xảy ra đồng thời hai hiện tượng nhật thực và sự lướt qua của Sao Thuỷ sẽ diễn ra ngày 5 tháng 7 năm 6757, và nhật thực với sự lướt qua của Sao Kim sẽ diễn ra ngày 5 tháng 4 năm 15232.
Chỉ 5 giờ sau khi Sao Kim lướt qua bề mặt Mặt Trời ngày 4 tháng 6 năm 1769 đã xảy ra một vụ nhật thực toàn phần, có thể quan sát thấy từ Bắc Mỹ, Châu Âu và ở Bắc Á là nhật thực một phần. Đây là khoảng thời gian chênh lệch nhỏ nhất giữa hai hiện tượng trong quá khứ lịch sử.
Hiện tượng thường xảy ra hơn —nhưng vẫn khá hiếm— là sự giao hội của bất cứ hành tinh nào (đặc biệt không chỉ riêng Sao Thủy và Sao Kim) tại thời điểm diễn ra nhật thực toàn phần, khi xảy ra hiện tượng đó hành tinh sẽ được quan sát thấy ở rất gần Mặt Trời đang bị che khuất, mà nếu không xảy ra nhật thực nó sẽ chìm khuất trong ánh sáng chói của Mặt Trời. Thời trước, một số nhà khoa học — gồm cả Albert Einstein — đã ủng hộ giả thuyết rằng có thể có một hành tinh thậm chí còn ở gần Mặt Trời hơn Sao Thuỷ; cách duy nhất để xác định sự tồn tại của nó là tiến hành quan sát trong thời gian diễn ra nhật thực toàn phần. Khi không thể tìm thấy hành tinh này qua các lần quan sát nhật thực, khả năng về sự tồn tại của nó đã bị loại bỏ.
 Nhật thực do các vệ tinh nhân tạo Các vệ tinh nhân tạo cũng có thể đi vào vị trí giữa Trái Đất và Mặt Trời. Nhưng không một vệ tinh nào đủ lớn để có thể gây ra sự che khuất (thực). Ví dụ, ở độ cao của Trạm vũ trụ quốc tế, một vật thể cần có chiều rộng 3,35 km để có thể che khuất toàn bộ Mặt Trời. Điều này có nghĩa là cùng lắm bạn chỉ có thể thấy hiện tượng [lướt] ngang qua, nhưng rất khó quan sát thấy các sự kiện đó, bởi vì vùng quan sát được rất nhỏ. Thông thường, vệ tinh đi ngang qua bề mặt Mặt Trời chỉ mất khoảng một giây. Giống như hiện tượng lướt qua của hành tinh nó không thể gây hiện tượng che tối
Nhật thực và nguyệt thực Nhật thực ít có khả năng quan sát thấy hơn nguyệt thực, mặc dù trên thực tế tần suất nhật thực nhiều hơn. Lý do: nhật thực chỉ có thể quan sát thấy từ một bộ phận nhỏ dân cư sống tại các khu vực bóng Mặt Trăng quét qua, còn nguyệt thực có thể được quan sát thấy bởi toàn bộ dân cư sống tại bán cầu đêm.
Các nhật thực trong quá khứ và tương lai Dù hầu như mỗi năm đều có một lần nhật thực toàn phần có thể quan sát thấy từ một địa điểm nào đó trên Trái Đất, một số vụ nhật thực có điều kiện quan sát thuận lợi hơn so với số khác. Các lần nhật thực có đường che khuất toàn bộ lướt qua các vùng đông dân cư thường được dân chúng chú ý quan sát.
Xem Danh sách các lần nhật thực để biết những lần nhật thực đã xảy ra trong quá khứ và sẽ xuất hiện trong tương lai.
Mở rộng Khái niệm "nhật thực" có thể được mở rộng ra ra không chỉ cho việc ánh sáng Mặt Trời chiếu xuống Trái Đất bị che khuất, mà có thể là hiện tượng ánh sáng từ một ngôi sao tỏa sáng nào đó (định tinh) chiếu xuống một hành tinh đang quay trong quỹ đạo bị chi phối của nó, bị che khuất bởi một thiên thể nào đó. Kính thiên văn Hu
le đã ghi được hình ảnh nhật thực khi vệ tinh Ariel bay qua phía trước sao Thiên Vương và phủ bóng xuống bề mặt hành
 
 
8.Nguyệt thực
Nguyệt thực là hiện tượng thiên văn khi Mặt Trăng đi vào hình chóp bóng của Trái Đất, đối diện với Mặt Trời.
Trên tất cả các điểm nằm ở bán cầu quay về Mặt Trăng đều có thể nhìn thấy nguyệt thực.
Nguyệt thực bán phần khó nhìn thấy bằng mắt thường do ánh chói của Mặt Trời giảm thiểu.
Khi nguyệt thực toàn phần diễn ra, tia Mặt Trời trước khi đến được Mặt Trăng đã chiếu vào chóp bóng của Trái Đất và bị khí quyển Trái Đất khúc xạ. Các tia sáng bước sóng ngắn đã bị cản lại hết, chỉ còn các tia có bước sóng dài (đỏ, cam) xuyên qua, do đó, Mặt Trăng thường hiện ra dưới màu đỏ nhạt.
Thời gian tối đa của nguyệt thực toàn phần: 104 phút (trường hợp thường hay tái diễn); nguyệt thực từng phần: 6 giờ.


Màu vàng bên trái là mặt trời, ở giữa là trái đất, bên phải là mặt trăng đang di chuyển vào bóng của trái đất
 
 

 
 
 
 
 
9.Mưa sao băng
Nguyên lý xuất hiện mưa sao băng cũng giống như nguyên lý xuất hiện Sao băng. Điểm khác nhau là mưa sao băng là hiện tượng Trái Đất trong quá trình chuyển động trên quỹ đạo gặp phải một đám đông bụi vũ trụ.
Mưa sao băng hầu như xuất hiện vào những thời điểm giống nhau trong một năm. Nguyên nhân do các hạt bụi vũ trụ phân bố theo quỹ đạo hình elip và quay quanh Mặt Trời theo chu kì nhất định. Nếu quỹ đạo của Trái Đất cắt ngang quỹ đạo của một đám bụi vũ trụ nào đó thì it nhất mỗi năm vào đúng thời điểm nhất định, Trái Đất sẽ một lần xuyên qua lớp bụi vũ trụ đó và xảy ra hiện tượng mưa sao băng trong thời gian đó.
Khi trái đất bay vào vùng có nhiều thiên thạch thì sẽ thường xuyên xảy ra hiện tượng mưa sao băng hơn.
Các trận mưa sao băng điển hình trong năm
Tên chính thức của chúng được International Astronomical Union đặt ra.[1]
Mưa sao băng
Thời gian
Vật thể gốc
Quadrantids
Đầu tháng 1
The same as the parent object of minor planet 2003 EH1, and perhaps comets C/1490 Y1 and C/1385 U1
Lyrids
Cuối tháng 4
Sao chổi Thatcher
Pi Puppids (periodic)
Cuối tháng 4
Sao chổi 26P/Grigg-Skjellerup
Eta Aquariids
Đầu tháng 5
Sao chổi 1P/Halley
Arietids
Giữa tháng 6
Sao chổi 96P/Machholz, Marsden và nhóm sao chổi Kracht comet groups complex 
June Bootids (periodic)
Cuối tháng 6
Sao chổi 7P/Pons-Winnecke
Southern Delta Aquariids
Cuối tháng 7
Sao chổi 96P/Machholz, Marsden and Kracht comet groups complex 
Alpha Capricornids
Cuối tháng 7
Sao chổi 169P/NEAT
Perseids
Giữa tháng 8
Sao chổi 109P/Swift-Tuttle
Kappa Cygnids
Giữa tháng 8
Minor planet 2008 ED69
Aurigids (periodic)
Đầu tháng 9
Sao chổi C/1911 N1 (Kiess)
Giacobinids (periodic)
Đầu tháng 10
Sao chổi 21P/Giacobini-Zinner
Orionids
Cuối tháng 10
Sao chổi 1P/Halley
Southern Taurids
Đầu tháng 11
Sao chổi 2P/Encke
Northern Taurids
Giữa tháng 11
Minor planet 2004 TG10 and others
Andromedids (periodic)
Giữa tháng 11
Sao chổi 3D/Biela
Alpha Monocerotids (periodic)
Giữa tháng 11
unknown
Leonids
Giữa tháng 11
Sao chổi 55P/Tempel-Tuttle
Phoenicids (periodic)
Đầu tháng 12
Sao chổi D/1819 W1 (Blanpain)
Geminids
Giữa tháng 12
Minor planet 3200 Phaethon
Ursids
Cuối tháng 12
Sao chổi 8P/Tuttle
 
 
 
CÁC ĐIỀU KIỆN VÀ HÌNH THẾ THỜI TIẾT
 
 
 
 
1.Mây
Mây là khối các giọt nước ngưng tụ hay nước đá tinh thể treo lơ lửng trong khí quyểnở phía trên Trái Đất (hay trên bề mặt cáchành tinh khác) mà có thể nhìn thấy.
Hơi nước ngưng tụ tạo thành các giọt nước nhỏ (thông thường 0,01 mm )hay tinh thể nước đá, cùng với hàng tỷ giọt nước hay tinh thể nước đá nhỏ khác tạo thành mây mà con người có thể nhìn thấy. Mây phản xạtương đương nhau toàn bộ các bước sóng ánh sáng nhìn thấy, do vậy có màu trắng, nhưng chúng cũng có thể có màu xám hay đen nếu chúng quá dày hoặc quá đặc do ánh sáng không thể đi qua.
Mây trên các hành tinh khác thông thường chứa các loại chất khác chứ không phải nước, phụ thuộc vào các điều kiện của khí quyển của chúng (thành phần khí và nhiệt độ).
Mây được tạo thành trong những khu vựckhông khí ẩm bị làm lạnh, nói chung là do bay lên. Nó có thể xảy ra
                  Cùng với frông nóng và frông lạnh,
                  Khi không khí chuyển động lên trên các dãynúi và bị làm lạnh khi nó lên cao hơn trong khí quyển (sự nâng sơn căn),
                  Khi không khí ấm thổi qua bề mặt lạnh hơn, chẳng hạn mặt nước.
Mây tương đối nặng. Nước trong các đám mây điển hình có thể có khối lượng hàng triệu tấn, mặc dù mỗi mét khối mây chứa chỉ khoảng 5 gam nước. Các giọt nước trong mây nặng hơn hơi nước khoảng 1.000 lần, vì thế chúng nặng hơn không khí. Lý do tại sao chúng không rơi, mà lại được giữ trong khí quyển là các giọt nước lỏng được bao quanh bởi không khí ấm. Không khí bị ấm lên do năng lượng nhiệt giải phóng khi nước ngưng tụ từ hơi nước. Do các giọt nước là rất nhỏ, chúng "dính" với không khí ấm. Khi mây được tạo thành, không khí ấm mở rộng hơn là giảm thể tích sau khi hơi nước ngưng tụ, làm cho các đám mây bị đẩy lên cao, và sau đó mật độ riêng của mây giảm tới mức mật độ trung bình của không khí và mây trôi đi trong không khí.
Hình thái thực thụ của mây được tạo ra phụ thuộc vào cường độ lực nâng và phụ thuộc vào sự ổn định của không khí. Trong các điều kiện khi sự không ổn định của sự đối lưu thống lĩnh thì sự tạo thành các đám mây theo chiều thẳng đứng được hình thành. Không khí ổn định tạo ra chủ yếu là các đám mây thuần nhất theo chiều ngang. Sự nâng lên theo các phrông tạo ra các hình thái khác nhau của mây, phụ thuộc vào thành phần của các phrông này (dạng ana hay dạng kata của phrông ấm hay phrông lạnh). Sự nâng sơn căn cũng tạo ra các hình thái khác nhau của mây, phụ thuộc vào sự ổn định của không khí, mặc dù mây chóp và các mây sóng là đặc thù của các loại mây sơn căn.
Các thuộc tính của mây (chủ yếu là suất phản chiếu của chúng và tỷ lệ tạo mưa) là phụ thuộc rất lớn vào kích thước của các giọt nước và cách mà các hạt này kết dính với nhau. Điều này lại chịu ảnh hưởng của số hạt nhân ngưng tụ mây hiện diện trong không khí. Vì sự phụ thuộc này, cũng như sự thiếu vắng các quan sát khí hậu toàn cầu, các đám mây là rất khó để tham số hóa trong các mô hình khí hậu và là nguyên nhân bất hòa trong các tranh luận về sự ấm toàn cầu.
Sự ngưng tụ của hơi nước thành nước lỏng hay nước đá diễn ra ban đầu xung quanh một số loại hạt siêu nhỏ các chất rắn gọi là trung tâm ngưng tụ hay trung tâm đóng băng. Trong giai đoạn này các hạt rất nhỏ và các va chạm hay tổ hợp không thể là các yếu tố cơ bản của sự lớn lên. Điều diễn ra được gọi là “nguyên lý Bergeron”. Cơ chế này dựa trên nguyên lý áp suất cục bộ của nước đá bão hòa là thấp hơn của nước lỏng, điều này có nghĩa là nó ở trạng thái giữa của sự tồn tại đồng thời cả tinh thể nước đá và các giọt nước lỏng siêu lạnh.
Các đám mây được chia thành hai loại hình chính: mây lớp hay mây đối lưu. Chúng được gọi là mây tầng (Stratus, từ tiếng Latinh có nghĩa là tầng, lớp) và mây tích (Cumulus, từ tiếng Latinh có nghĩa là tích lũy, chồng đống). Hai dạng chính này được chia thành bốn nhóm nhỏ phân biệt theo cao độ của mây. Các đám mây được phân loại theo cao độ gốc của mây, không phải là đỉnh của nó. Hệ thống này được Luke Howard giới thiệu năm 1802 trong thuyết trình của hội Askesian.
 
Các hình thái này ở trên 5.000 m (16.500 ft), trong đới lạnh củatầng đối lưu. Chúng được biểu thị bởi tiền tố ci
o- hay ci
us, nghĩa là mây ti. Ở cao độ này nước gần như đóng băng hoàn toàn vì thế mây là các tinh thể nước đá. Các đám mây có xu hướng là mỏng và yếu và thông thường là trong suốt.
Các mây trong họ A bao gồm:
                  Mây ti (Ci
us)
                  Ci
us uncinus
                  Ci
us Kelvin-Helmholtz
                  Mây ti tầng (Ci
ostratus)
                  Mây ti tích (Ci
ocumulus)
                  Cumulonimbus với pileus
                  Vệt ngưng tụ (Contrail)
Vệt ngưng tụ là kiểu mây dài và mỏng được tạo ra như là kết quả của sự bay qua của máy bay phản lực ở cao độ lớn.
Các loại mây này chủ yếu ở cao độ khoảng 2.000 đến 5.000 m (6.500 đến 16.500 ft) và được biểu thị với tiền tố alto- (gốc Latinh, nghĩa là "cao"). Chúng thông thường là các giọt nước siêu lạnh.
Các mây trong họ B bao gồm:
                  Mây trung tầng (Altostratus)
                  Altostratus undulatus
                  Mây trung tích (Altocumulus)
                  Altocumulus undulatus
                  Altocumulus mackerel sky
                  Altocumulus castellanus
                  Altocumulus lenticularis
Chúng được tạo ra dưới 2.000 m (6.500 ft) và bao gồm mây tầng (đặc và xám). Khi các mây tầng tiếp xúc với mặt đất, chúng được gọi là sương mù.
Các mây trong họ C bao gồm:
                  Mây tầng (Stratus)
                  Mây vũ tầng (Nimbostratus)
                  Cumulus humilis
                  Cumulus mediocris
                  Mây tích tầng (Stratocumulus)
 
Các mây này có thể có hướng thẳng đứng lên trên, rất cao so với gốc của chúng và có thể hình thành ở bất kỳ độ cao nào.
Các mây trong họ D bao gồm:
                  Mây vũ tích (Cumulonimbus, liên kết với sự ngưng tụ nặng và mưa dông)
                  Cumulus congestus
                  Pyrocumulus
                  Cumulonimbus incus
                  Cumulonimbus calvus
                  Cumulonimbus với mammatus
Có một số mây có thể tìm thấy ở phía trên tầng đối lưu; chúng bao gồm mây xà cừ và mây dạ quang, chúng hình thành ở tầng bình lưu và tầng trung lưu.
 
 
Màu sắc của mây cho ta biết nhiều về những gì đang diễn ra trong mây.
Mây tạo thành khi hơi nước bốc lên, gặp lạnh và ngưng tụ trong không khí như những giọt nhỏ. Các hạt nhỏ này là tương đối đặc và ánh sáng không thể đi sâu vào trong mây trước khi nó bị phản xạ ra ngoài, tạo cho mây có màu đặc trưng là màu trắng. Khi mây dày hơn, các giọt có thể liên kết lại để tạo ra các giọt to hơn, sau đó khi đủ lớn, chúng rơi xuống đất như là mưa. Trong quá trình tích lũy, không gian giữa các giọt trở nên lớn dần lên, cho phép ánh sáng đi sâu hơn nữa vào trong mây. Nếu như mây đủ lớn, và các giọt nước đủ xa nhau, thì sẽ có rất ít ánh sáng mà đã đi vào trong mây là có khả năng phản xạ ngược trở lại ra ngoài trước khi chúng bị hấp thụ. Quá trình phản xạ/hấp thụ này là cái dẫn đến một loạt các loại màu khác nhau của mây, từ trắng tới xám và đen.
Các màu khác xuất hiện tự nhiên trong mây. Màu xám ánh lam là kết quả của tán xạ ánh sáng trong mây. Trong quang phổ, màu lam và lục là có bước sóng tương đối ngắn, trong khi đỏ và vàng là có bước sóng dài. Các tia sóng ngắn dễ dàng bị tán xạ bởi các giọt nước, và các tia sóng dài dễ bị hấp thụ. Màu xám ánh lam là chứng cứ cho thấy sự tán xạ được tạo ra bởi các giọt nước có kích thước đạt tới mức độ tạo mưa có trong mây.
Những màu xấu được quan sát trước khi có những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt. Màu ánh lục của mây được tạo ra khi ánh sáng bị tán xạ bởi nước đá. Các đám mây cumulonimbus có màu ánh lục là dấu hiệu của mưa to, mưa đá, gió mạnh và có thể là vòi rồng.
Màu mây ánh vàng hiếm hơn, nhưng có thể diễn ra trong các tháng từ cuối mùa xuân đến đầu mùa thu do cháy rừng. Màu vàng có lẽ tạo ra do sự hiện diện của khói.
Mây đỏ, da cam, hồng xảy ra chủ yếu vào lúc bình minh hay hoàng hôn, và chúng là kết quả của sự tán xạ ánh sáng của khí quyển. Mây tự bản thân nó không có những màu này, chúng chỉ phản xạ các tia sóng dài (không tán xạ) của ánh sáng là những bước sóng chính trong khoảng thời gian đó. Buổi chiều trước khi có vòi rồng ở Edmonton, Alberta năm 1987, người dân Edmonton đã quan sát thấy màu đỏ về phía mặt trời của các đám mây và màu đen thẫm về phía tối của chúng. Trong trường hợp này, ngạn ngữ "bầu trời đỏ buổi đêm, thủy thủ vui sướng" (red sky at night, sailor's delight) là hoàn toàn sai.
Gần đây, người ta nhận ra hiện tượng sự mờ toàn cầu được cho là sinh ra bởi sự thay đổi hệ số phản xạ ánh sáng của các đám mây do sự có mặt ngày càng tăng của các hạt treo lơ lửng và các loại hạt khác trong khí quyển.
 
 
 
2.Gió
Gió là một hiện tượng trong tự nhiên hình thành do sự chuyển động cửa không khí. Không khí luôn luôn chuyển động từ nơi khí áp cao về nơi khí áp thấp. Sự chuyển động của không khí sinh ra gió. Trên Địa Cầu có ba loại gió chính là: gió Tín Phong, gió Tây Ôn Đới, gió Đông Cực.Gió Tín Phong thổi từ đai cao áp 30 độ B-N đến đai áp thấp 0 độ(xích đạo), gió Tây ôn Đới thổi từ đai cao áp 60 độ B-N về 90 độ B-N, còn gió Đông Cực thổi từ đai cao áp 90 độ B-N đến Vòng Cực B-N. Do sự vận động tự quay của Trái Đất Tín Phong và gió Tây Ôn Đới không thổi thẳng theo hướng kinh tuyến mà hơi lệch về phía tay phải ở nửa cầu Bắc và về phía tay trái ở nửa cầu Nam (nếu nhìn xuôi theo chiều gió thổi) theo Lực Coriolis. Tín Phong và gió Tây Ôn Đới tạo thành hai hoàn lưu khí quyển quan trọng nhất trên bề mặt Trái Đất. Gió có nhiều cường độ khác nhau, từ mạnh đến yếu. Nó có thể có vận tốc từ trên 1km/h cho đến gió trong tâm các cơn bão có vận tốc khoảng 300 km/h(gió có 13 cấp)
gió tác động đến sự vận động của biển.VD:tạo sóng(sóng là một trong sự vận động của biển).
Một số loài chim cũng lợi dụng gió để lượn.(VD:hải âu,...
Một số loài cây cũng phát tán quả và hạt nhờ gió(VD:bồ công anh, hạt trâm bầu,...)
Gió tác động đến môi trường sống của một số loài vật ảnh hưởng sự phát triển của các loài vật đó (VD: lông mi lạc đà che phủ gần như toàn bộ đôi mắt để chống chọi với các trận bão cát mà gío gây nên,...
Gió thường có lợi cho con người. Nó có thể quay các cánh quạt của các cối xay gió giúp chúng ta xay gạo, đẩy thuyền buồm, thả diều. Nó là một trong những nguồn năng lượng sạch.... Nhưng đôi khi gió lại có hại cho đời sống của con người. Đó là trong các cơn bão, gió có vận tốc cao dễ làm ngã đổ cây cối, cột đèn, làm tốc mái nhà ; gây thiệt hại nghiêm trọng đối với cơ ở vật chất;sức khỏe và tính mạng của con người ....
 
 
 
 
3.Front lạnh
Frông lạnh được định nghĩa như là rìa phía trước của khối khí lạnh và khô hơn, đang chuyển động và thay thế dần (ở mức mặt đất) cho khối khí nóng hơn phía trước nó. Trên bản đồ thời tiết frông lạnh được thể hiện bằng đường màu xanh lam với các tam giác có đỉnh hướng về phía di chuyển của frông. Khi di chuyển qua đường của frông lạnh thì gió, như ở trường hợp của frông nóng, bị xoay sang phía phải, nhưng sự xoay này là đáng kể và mãnh liệt hơn -từ tây nam, nam (trước frông) sang tây, tây bắc (sau frông). Tốc độ gió cũng tăng lên. Áp suất khí quyển trước frông thay đổi chậm. Nó có thể giảm xuống, nhưng cũng có thể tăng lên. Với sự đi ngang qua của frông lạnh thì áp suất bắt đầu tăng nhanh. Phía sau frông lạnh tốc độ tăng áp suất có thể đạt tới 3-5 gPa/3 giờ, đôi khi 6-8 gPa/3 giờ và thậm chí cao hơn. Xu hướng biến đổi áp suất (từ giảm tới tăng, từ tăng chậm tới tăng nhanh) biểu hiện cho sự đi qua của đường frông ở gần sát mặt đất.
 
 

Biểu tượng của frông lạnh: đường màu lam với các tam giác chỉ về hướng chuyển động
 
 
Trước frông thường quan sát được giáng thủy, không hiếm khi có dông và gió giật (đặc biệt trong thời gian nóng của năm). Nhiệt độ không khí sau khi đi qua của frông tụt xuống (lạnh bình lưu), trong đó đôi khi nhanh và mạnh - ở mức 5-10 °С và hơn thế sau 1-2 giờ. Điểm sương giảm đồng thời với nhiệt độ không khí. Tầm nhìn, theo quy tắc, được cải thiện, do sau frông lạnh là không khí trong sạch hơn và ít hơi ẩm hơn từ các vĩ độ cao tràn tới.
Đặc trưng thời tiết trên frông lạnh khác biệt rõ nét phụ thuộc vào tốc độ di chuyển của frông, tính chất của không khí nóng phía trước frông, đặc trưng của chuyển động đi lên của không khí nóng phía trên mặt nghiêng của frông lạnh.
Trên các frông lạnh loại 1 (chuyển động chậm) chủ yếu là sự nâng lên có trật tự của không khí nóng trên mặt nghiêng của không khí lạnh. Frông lạnh loại 1 là bề mặt thụ động của sự trườn lên. Thuộc loại này là các frông chuyển động chậm hay các frông bị trễ chuyển động của mình trong các rãnh khí áp sâu hay gần trung tâm xoáy tụ.
Lượng mây của frông lạnh loại 1, hình thành do chuyển động trườn lên dọc theo bề mặt của nó của khối không khí nóng bị đẩy lui bởi mảng chèn lạnh, là phản chiếu qua gương lượng mây của frông nóng. Nó bắt đầu từ mây vũ tầng (Ns), và kết thúc là mây ti tầng-mây ti (Cs-Ci). Trong đó mây phân bố chủ yếu ngoài đường frông. Khác biệt với lượng mây của frông nóng tất nhiên vẫn tồn tại: do ma sát bề mặt của frông lạnh trong các lớp dưới thấp trở thành dựng đứng, vì thế trước ngay chính đường frông thay vì chuyển động trườn lên êm ả và thoải là sự dâng đối lưu của không khí nóng. Vì điều này, trong phần trước của hệ thống mây có thể xuất hiện mây tích (Cu) và mây vũ tích (Cb), trải rộng hàng trăm kilômét dọc theo frông, với mùa đông có tuyết rơi và mùa hè có mưa rào, không hiếm khi với dông và gió giật. Trên phần nằm trên của bề mặt frông với độ dốc thông thường do kết quả của chuyển động trườn lên của không khí nóng hệ thống mây là sự che phủ đồng đều của các loại mây dạng tầng thuộc nhóm As-Ns. Giáng thủy dạng mưa rào trước frông sau khi frông đi qua được thay đổi bằng giáng thủy dầm dề đồng đều hơn. Sau đó xuất hiện mây ti tầng và mây ti
Bề dày theo chiều thẳng đứng của hệ thống As-Ns và bề rộng của hệ thống mây và khu vực có giáng thủy sẽ nhỏ hơn đáng kể (khoảng 1,5-2 lần) so với trường hợp frông nóng. Ranh giới trên của hệ thống As-Ns nằm ở độ cao khoảng 4-4,5 km. Phía dưới hệ thống mây cơ bản có thể xuất hiện mây tầng tả tơi (St fr), đôi khi tạo thành mù frông. Khoảng thời gian đi qua của frông lạnh loại 1 qua điểm quan sát thường kéo dài từ 10 tiếng trở lên
Có các điểm đặc biệt theo mùa trong cấu trúc của frông lạnh loại 1. Trong nửa lạnh của năm bề rộng của hệ thống mây khoảng 400-500 km, của khu vực có giáng thủy dầm dề - tới 200 km. Trong khu vực giáng thủy hình thành mây mang mưa tả tơi với ranh giới dưới chỉ khoảng 100-150 m. Trong mây và mưa quá lạnh xuất hiện sự đóng băng. Tầm nhìn trong giáng thủy giảm xuống tới 1.000 m và nhỏ hơn.
Trong nửa nóng của năm, trên frông, ngoài hệ thống mây cơ bản, không hiếm khi phát triển mây vũ tích, dông, kèm theo giáng thủy kiểu mưa rào và gió giật. Bề rộng của hệ thống mây đạt khoảng gần 300 km, khu vực có giáng thủy mưa rào - khoảng 50 km, xa hơn nữa nó chuyển thành mưa dầm; bề rộng chung của khu vực có giáng thủy trung bình khoảng 150 km. Trong mây xuất hiện sự đóng băng, còn trong mây vũ tích, ngoài điều đó, còn có sự chao đảo mạnh..
Frông lạnh loại 2 là phần lớn các loại frông lạnh chuyển động nhanh trong các xoáy tụ, đặc biệt là tại vùng rìa của các xoáy tụ. Ở đây diễn ra sự chèn lấn không khí nóng từ các lớp phía dưới đang chuyển động về phía gờ lạnh. Bề mặt của frông lạnh trong các phía dưới phân bố rất dốc, thậm chí tạo ra chỗ lồi trong dạng gờ. Dịch chuyển nhanh của phần nêm của không khí lạnh gây ra đối lưu bắt buộc của không khí nóng bị chèn ép trong một không gian hẹp ở phần trước của bề mặt frông. Ở đây phát sinh luồng đối lưu mạnh với sự tạo thành của mây vũ tích, được gia tăng nhờ tác động của đối lưu nhiệt trong thời gian ban ngày
Triệu chứng của frông là mây trung tích dạng hình đậu, phân bố trước frông trên khoảng cách tới 200 km. Hệ thống mây xuất hiện có bề rộng không lớn (50-100 km) và không phải là mây đối lưu riêng lẻ mà là một chuỗi liên tục, hay một trục mây, có thể không dày dặc (đặc biệt khi không khí có độ ẩm không cao). Trên các bản đồ tỷ lệ xích thông thường, mây vũ tích (Cb) và giáng thủy mưa rào, mưa đá và dông không phải thường xuyên biểu lộ.
Trong nửa nóng của năm ranh giới trên của mây vũ tích đạt tới độ cao của khoảng lặng bình lưu. Trên các frông lạnh loại 2 quan sát thấy hoạt động dông tố mãnh liệt, mưa rào, đôi khi có mưa đá và gió giật. Trong mây có sự chao đảo mạnh và sự đóng băng. Bề rộng của khu vực có các biểu hiện nguy hiểm của thời tiết đạt tới vài chục kilômét.
Trong nửa lạnh của năm đỉnh của mây vũ tích đạt tới độ cao 3-4 km. Gắn liền với lượng mây này là những trận tuyết rơi/mưa rào mạnh nhưng ngắn (bề rộng của khu vực này đạt tới 50 km), bão tuyết với tầm nhìn nhỏ hơn 1.000 m, sự tăng cường mãnh liệt của tốc độ gió và chao đảo. Mây của frông loại 2 có biểu hiện rõ nét theo thời gian của ngày. Ban đêm, mây vũ tích có thể bị tản ra. Ban ngày các chuyển động đối lưu của không khí được tăng cường gắn với sự đốt nóng bề mặt bên dưới và sự phát triển các chuyển động nhiễu loạn. Vì thế sự phát triển mạnh nhất của mây và giáng thủy của frông lạnh loại 2 đạt được trong các giờ buổi chiều, là đặc trưng và dành cho mây tích và mây vũ tích (Cu và Cb) nội khối
Khi frông lạnh loại 2 đi qua điểm quan sát thì ban đầu (khoảng 3-4 giờ trước khi đường frông tới trên mặt đất) xuất hiện mây ti, nhanh chóng đổi thành mây trung tầng, đôi khi dạng đậu, và nó lại nhanh chóng đổi thành mây vũ tích với giáng thủy. Sự kéo dài dịch chuyển của hệ thống mây với giáng thủy mưa rào và dông thường không quá 1-2 giờ. Sau khi frông lạnh đi qua thì giáng thủy mưa rào cũng chấm dứt.
Điểm đặc biệt của frông lạnh cả 2 loại là gió giật phía trước frông. Do ở phần trước của phần chèn lạnh, vì ma sát, xuất hiện độ dốc dựng đứng của bề mặt frông, một phần không khí lạnh nằm trên không khí nóng. Tiếp theo diễn ra "sự phá sập" xuống dưới của khối khí lạnh tại phần phía trước của gờ lạnh đang chuyển động. Sự sụp xuống của không khí lạnh dẫn tới sự chèn lên phía trên của không khí nóng và dẫn tới sự xuất hiện gió xoáy dọc theo frông với trục nằm ngang. Đặc biệt mạnh là các trận gió giật trên đất liền về mùa hè, do chênh lệch lớn về nhiệt độ giữa không khí nóng và không khí lạnh theo cả hai bên của frông và do sự không ổn định của không khí nóng. Trong những điều kiện như thế sự đi qua của frông lạnh kèm theo gió có tốc độ mạnh ở mức phá hủy. Tốc độ gió không ít khi vượt quá 15-20 m/s (54-72 km/h), sự kéo dài của hiện tượng này thường chỉ vài phút
Frông lạnh thứ cấp thấy có trên bề mặt Trái Đất, trong các rãnh khí áp ở phía sau xoáy tụ của frông cơ sở (sơ cấp), nơi có chỗ hội tụ gió. Có thể có từ 1 tới 3 frông thứ cấp. Các frông thứ cấp có hệ thống mây, tương tự như hệ thống mây của frông lạnh loại 2, nhưng độ trải rộng của mây theo chiều thẳng đứng nhỏ hơn của frông sơ cấp. Vì điều này, sau khoảng trời quang ngắn ngủi, diễn ra sau sự đi qua của frông sơ cấp, xuất hiện mây đối lưu, gắn liền với các frông thứ cấp, với giáng thủy như mưa rào, dông, gió giật và bão tuyết
Nhưng giáng thủy ở phía sau xoáy tụ có thể không phải chỉ là mỗi do frông, mà có thể do cả nội khối, bởi ở phía sau xoáy tụ khối khí là không ổn định.Gió giật cũng có thể là nội khối, gắn liền với mây dày của đối lưu (Cb) trong thời tiết mùa hè nóng bức trên đất liền hay trong các khối lạnh không ổn định trên bề mặt phía dưới nóng hơn (trong phần sau của mây vũ tích có chỗ cho các chuyển động đi xuống, trong phần trước - chuyển động đi lên mạnh, gây ra gió xoáy với trục nằm ngang - tức gió giật).
Khối khí lạnh và nặng hơn nêm vào dưới khối khí nóng và nhẹ hơn, nâng nó lên, có thể gây ra sự hình thành của một dải hẹp các trận mưa rào và dông khi có đủ hơi ẩm. Chuyển động dâng lên này sinh ra một áp suất giảm xuống dọc theo frông lạnh. Trên các bản đồ thời tiết, vị trí bề mặt của frông lạnh được đánh dấu bằng biểu tượng một đường màu xanh lam với các tam giác chỉ mũi nhọn về hướng chuyển động của nó. Vị trí của frông lạnh là tại rìa phía trước của nơi nhiệt độ tụt xuống, mà trong phân tích đường đẳng nhiệt có thể biểu lộ ra như là rìa dẫn đầu của gradient đẳng nhiệt, và nó thông thường nằm trong máng bề mặt sắc nét. Các frông lạnh có thể tiến lên tới 2 lần nhanh hơn và sinh ra các thay đổi sắc nét hơn của thời tiết so với các frông nóng. Do không khí lạnh là nặng hơn không khí nóng, nó nhanh chóng thay thế không khí nóng đứng trước ranh giới. Các frông lạnh, thông thường gắn liền với các khu vực có áp suất thấp, và đôi khi, frông nóng.
Ở bắc bán cầu, frông lạnh thường gây ra sự dịch chuyển của gió từ đông nam sang tây bắc, và ở nam bán cầu là sự dịch chuyển từ đông bắc sang tây nam. Các đặc trưng phổ biến gắn liền với frông lạnh bao gồm:
 
 
 
 
Hiện tượng thời tiết
Trước khi có sự đi qua của frông
Khi frông đang đi qua
Sau khi frông đi qua
Nhiệt độ
Nóng
Lạnh đột ngột
Lạnh đều đều
Áp suất khí quyển
Giảm đều đều
Thấp nhất, sau đó tăng đột ngột
Tăng đều đều
Gió
(a) Tây nam tới đông nam (Bắc bán cầu)(b) Tây bắc tới đông bắc (Nam bán cầu)
Dông; thay đổi từng cơn
(a) Bắc tới tây (thường tây bắc) (Bắc bán cầu)(b) Nam tới tây (thường tây nam) (Nam bán cầu)
Giáng thủy/điều kiện*
Mưa rào ngắn
Dông, đôi khi mãnh liệt
Mưa rào, sau đó trời trong
Mây*
Tăng: Mây ti, mây ti tầngvà mây vũ tích
Mây vũ tích
Mây tích
Tầm nhìn*
Vừa phải tới kém trong mù
Kém, nhưng đang cải thiện
Tốt, ngoại trừ trong mưa rào
Điểm sương
Cao; đều đều
Đột ngột hạ xuống
Hạ thấp
* Thay đổi chỉ xảy ra khi có đủ hơi ẩm
Định nghĩa: Ranh giới giữa hai khối khí, một lạnh và một nóng
Frông lạnh nói chung mang theo một dải hẹp giáng thủy chạy dọc theo rìa dẫn đầu của frông lạnh. Các dải giáng thủy này thường là rất mạnh trong tự nhiên, đặc biệt là trong các tháng mùa xuân và mùa hè, có thể gây ra dông tố mạnh và/hoặc vòi rồng. Trong mùa xuân, các frông lạnh này có thể rất mạnh và có thể mang gió mạnh khi gradient áp suất là căng hơn thông thường. Trong mùa hè, các frông lạnh có thể gây ra dông tố mạnh và mưa đá, nhưng trong mùa đông, các frông lạnh đôi khi đi qua khu vực mà chỉ có ít hoặc không có giáng thủy, và có tác động ít hoặc không đáng kể tới nhiệt độ. Trong các tháng mùa thu, các frông lạnh hiếm khi đưa tới các trận dông tố mạnh, nhưng có thể mang tới những trận mưa lớn và rộng khắp. Những trận mưa này đôi khi gây ra lũ lụt, và có thể chuyển động rất chậm do các frông lạnh là nghiêng nhiều hơn về phía chuỷen động chậm trong mùa thu. Trong mùa đông, các frông lạnh có thể mang đến các đợt rét và các trận bão tuyết mạnh. Nếu hơi ẩm là không đủ, các frông lạnh có thể đi qua mà không sinh ra bất kỳ hiện tượng giáng thủy nào, và bầu trời có thể là không có mây. Các frông lạnh không sinh ra hơi ẩm, nó đơn thuần chỉ ngưng tụ dựa vào không khí lạnh thành các đám mây và các giọt nước nếu như có đủ hơi nước trong khối không khí của nó. Do không khí lạnh chèn vào dưới khối không khí nóng, nên nó buộc khối khí nóng phải dâng lên, tạo ra sự không ổn định. Nếu có đủ hơi ẩm, nó sẽ ngưng tụ, tạo ra các cơn dông, mây và/hoặc mưa.
 
Các frông lạnh là phần rìa phía trước của khối khí lạnh, vì thế mà có tên gọi "frông lạnh". Chúng có thể mang tới các đợt rét trong mùa thu và mùa đông. Rất hay xảy ra, các frông lạnh gắn liền với các đợt rét khủng khiếp. Đôi khi các frông lạnh không có ảnh hưởng đáng kể đối với thời tiết. Các frông lạnh vào cuối mùa thu về bản chất mang tính vùng cực nhiều hơn, và có xu hướng mang theo thời tiết rất lạnh lẽo, và chênh lệch nhiệt độ do giảm nhiệt độ có thể tới 5-10° C trong vòng 1-2 giờ, đôi khi chênh lệch có thể tới 17 °C (30 °F). Khi các frông lạnh vượt qua, tại khu vực đó thường có gió mạnh và đổi hướng, chỉ ra rằng frông lạnh đã tràn qua. Các tác động của frông lạnh có thể kéo dài từ chỉ vài giờ tới vài tuần, phụ thuộc vào việc khi nào frông thời tiết kế tiếp sẽ đến. Khối khí phía sau frông là lạnh hơn so với khối khí mà nó thay thế. Khối khí nóng buộc phải dâng lên và bị lạnh đi. Do không khí lạnh hơn không thể giữ được nhiều hơi ẩm như khối khí nóng nên các đám mây được hình thành và giáng thủy có thể xảy ra.
 
Các frông lạnh thường gắn liền với các frông nóng, tuyến gió mạnh hay các kiểu frông thời tiết khác. Rất phổ biến, các frông lạnh có frông nóng cận kề ở phía trước của frông lạnh này. Nó tạo ra khu vực nơi không khí nóng trộn lẫn và tương tác với frông lạnh. Khu vực này được biết đến như là khu vực nóng ấm. Trong khu vực nóng ấm thường xảy ra dông tố mạnh, vòi rồng và mưa đá, do khác biệt rõ nét giữa không khí nóng gắn liền với frông nóng và không khí lạnh gắn liền với frông lạnh. Một frông lạnh được coi làfrông nóng nếu nó bị đẩy lui, và được gọi là frông tĩnh nếu nó đứng yên.
 
Các frông lạnh hình thành khi các khối khí lạnh hơn di chuyển vào các khu vực có các khối khí nóng hơn. Không khí nóng tương tác với các khối khí lạnh dọc theo ranh giới, và thường sinh ra giáng thủy.
 
 
 
 
 
4.Front hấp lưu
Frông hấp lưu là một loại frông khí quyển, gắn liền với phần đỉnh ấm ở phần có cao độthấp và trung của tầng đối lưu, có thể gây ra các chuyển động lên trên ở quy mô lớn của không khí và sự hình thành của một dải mây và mưa kéo dài. Không hiếm khi, một frông hấp lưu xuất hiện do sự khép lại - quá trình đẩy không khí nóng lên phía trên vào trong xoáy tụ do frông lạnh đuổi kịp frông nóng ở phía trước nó và trộn lẫn với nó (quá trình hấp lưu của xoáy tụ)
Một frông hấp lưu được hình thành trong quá trình sinh xoáy thuận trong đó một frông lạnh vượt lên trên một frông nóng. Khi điều này xảy ra, khối khí nóng bị chia tách (hấp lưu) từ tâm xoáy tụ trên bề mặt Trái Đất. Điểm mà tại đó các frông nóng, lạnh và frông hấp lưu gặp nhau (và do đó, vị trí gần nhất của khối khí nóng tới tâm của xoáy tụ) được gọi là điểm hấp lưu hay điểm ba trạng thái.Theo mức độ hấp lưu của xoáy tụ mà điểm hấp lưu bị di chuyển tới phần ngoại biên của xoáy tụ.
 

Một xoáy tụ (xoáy thuận) trong các giai đoạn đầu của sự hấp lưu


Ký hiệu frông hấp lưu
 
Có hai kiểu hấp lưu là hấp lưu nóng và hấp lưu lạnh.
Trong kiểu hấp lưu lạnh, khối khí vượt lên trên frông nóng là lạnh hơn (phần màu hơi ánh lam-tím trong hình 1 ở bên phải) so với khối khí lạnh (phần màu hơi ánh lục-lơ trong hình bên) ở phía trước frông nóng (phần màu đỏ hồng) và cày xới ở phía dưới cả hai khối khí đó.
Trong kiểu hấp lưu nóng, khối khí lạnh (phần màu hơi ánh lục-lơ) vượt lên trên frông nóng (phần màu đỏ hồng) không lạnh bằng khối không khí lạnh (phần màu lam-tím) ở phía trước frông nóng và nó đè lên trên khối khí lạnh hơn này trong khi đẩy khối khí nóng lên trên. (xem hình 2 phía dưới)
Tại các vĩ độ thuộc vùng ôn đới, trong mùa hè chủ yếu là các frông hấp lưu lạnh, còn về mùa đông chủ yếu là các frông hấp lưu nóng.
Do chuyển động hạ xuống thấp của không khí lạnh vào sau lưng xoáy tụ, frông lạnh chuyển động nhanh hơn frông nóng và theo thời gian sẽ đuổi kịp nó. Trong giai đoạn làm đầy xoáy tụxuất hiện các frông phức tạp, gọi là frông hấp lưu, hình thành khi khép lại các frông khí quyển nóng và lạnh. Trong hệ thống của frông hấp lưu, ba khối khí tác động tương hỗ, trong đó khối khí nóng đã không còn tiếp giáp với bề mặt Trái Đất. Không khí nóng ở dạng phễu dần dần được đẩy lên trên, và vị trí của nó do không khí lạnh thay thế, tiến vào từ hai bên sườn. Mặt phẳng phân chia, xuất hiện trong quá trình khép lại các frông nóng và lạnh, gọi là mặt phẳng frông hấp lưu. Các khối khí khép lại trong quá trình hấp lưu thường có nhiệt độ khác nhau, một khối này có thể lạnh hơn một khối khác.
Trường khí áp của frông hấp lưu là một khe máng được thể hiện rõ với các đường đẳng áp hình chữ V. Phía trước frông hấp lưu trên bản đồ dự báo thời tiết có vùng với áp suất khí quyển giảm xuống, gắn liền với bề mặt frông nóng, ở phía sau frông hấp lưu là vùng với áp suất khí quyển tăng lên, gắn liền với bề mặt của frông lạnh.
 
Ở phần phía trước của frông hấp lưu người ta quan sát thấy các kiểu mây như mây ti (Ci), mây ti tầng (Cs), mây trung tầng (As), và trong trường hợp các frông hấp lưu hoạt tính thì cả mây vũ tầng (Ns). Trong kiểu hấp lưu nóng, ở phía trên frông nóng có thể còn lại một phần của hệ thống mây của frông lạnh. Nếu kiểu hấp lưu là lạnh thì ở phía sau phần trên của frông nóng là trời quang mây, nhưng ở phía dưới của frông lạnh có thể phát triển mây vũ tích (Cb) đã ở phần trước của khối khí lạnh, đẩy lui phần nêm lạnh hơn ở hậu phương. Như thế, giáng thủy từ mây trung tầng và mây vũ tầng (As-Ns), nếu như xảy ra, có thể được bắt đầu cho đến khi có sự rơi xuống của các giọt mưa rào, hay đồng thời với sự đi ngang qua của frông lạnh, hoặc là sau sự đi ngang qua của nó; các trận mưa này có thể rơi xuống từ cả hai phía của frông dưới, sự chuyển trạng thái từ mưa dầm sang mưa rào, nếu như có thể, diễn ra không ở đằng trước của frông dưới, mà ở gần trực tiếp với nó.
Các hệ thống tiến lại gần nhau của mây thuộc các frông nóng và lạnh về cơ bản là kiểu As-Ns. Kết quả của sự tiến lại gần là sự xuất hiện của hệ thống mây lớn Cs-As-Ns với bề dầy lớn hơn cả ở phần trên của frông lạnh. Trong trường hợp frông hấp lưu trẻ thì hệ thống mây bắt đầu từ Ci và Cs, chuyển thành As rồi sau đó là Ns. Đôi khi ở phía sau Ns có thể quan sát thấy Cb, và sau nó lại là Ns. Sự trượt lên trên và yếu của khối khí hậu phương dọc theo bề mặt hấp lưu có thể dẫn tới sự hình thành dọc theo bề mặt này các kiểu mây như mây tầng (St) và mây tầng tích (Sc), nhưng không lên tới mức của các nhân băng. Từ các dạng mây này, trước frông nóng phía dưới sẽ xuất hiện mưa dầm. Trong trường hợp frông hấp lưu là nóng và già thì hệ thống mây là mây ti tầng (Cs) và mây trung tích (Ac), đôi khi có cả mây trung tầng (As); và có thể không có mưa.
Nhiều kiểu thời tiết có thể thấy dọc theo frông hấp lưu, với các cơn dông hay mưa rào trong mùa hèlà có thể xảy ra, nhưng thông thường sự thổi qua của frông hấp lưu gắn liền với việc làm khô các khối khí. Các frông hấp lưu được chỉ ra trên các bản đồ thời tiết bằng đường màu tím tía với các hình bán nguyệt và các tam giác đặt xen kẽ, chỉ theo hướng chuyển động của chúng. Các frông hấp lưu thường được hình thành xung quanh các khu vực áp thấp đã hoàn thiện.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
5.Front nóng
Frông nóng là một frông thời tiết, di chuyển về phía không khí lạnh hơn (nhiệt bình lưu được nhận thấy). Đằng sau frông nóng là khối khí nóng.
Trên bản đồ thời tiết frông nóng được đánh dấu bằng màu đỏ hay các hình bán nguyệt màu đỏ, hướng về phía dịch chuyển của frông.Theo sự dịch chuyển lại gần của frông nóng thì áp suất bắt đầu hạ xuống, mây nêm đầy và giáng thủy dầm dề rơi xuống. Về mùa đông khi có sự đi qua của frông nóng thường xuất hiện mây tầng thấp. Khi frông lại gần thì nhiệt độ và độ ẩm của không khí nâng lên chậm chạp. Khi frông đi ngang qua thì nhiệt độ và độ ẩm thường tăng lên nhanh chóng, gió mạnh lên. Sau khi frông đi qua thì hướng gió thay đổi (gió xoay theo hướng chiều kim đồng hồ), sự tụt xuống của áp suất chấm dứt và bắt đầu sự tăng lên yếu của nó, mây tản đi và giáng thủy cũng chấm dứt. Biểu đồ xu hướng áp suất như sau: trước khi frông nóng tới sẽ xuất hiện một khu vực biệt lập có sự tụt xuống của áp suất, sau khi frông đi qua - hoặc là tăng áp suất, hoặc là tăng tương đối (vẫn là tụt, nhưng nhỏ hơn so với trước khi frông tới).
 

Biểu tượng frông nóng: Đường màu đỏ với các hình bán nguyệt chỉ về hướng di chuyển của frông
Trong trường hợp của frông nóng thì không khí nóng chứa nhiều hơi ẩm và nhẹ hơn, di chuyển về phía lạnh hơn, không thể thay thế và chèn xuống dưới khối khí lạnh mà chỉ có thể trườn lên trên bề mặt của khối khí lạnh và bị lạnh dần đi. Ở độ cao nhất định, phụ thuộc vào trạng thái ban đầu của khối khí được nâng lên, nó đạt tới trạng thái bão hòa và lượng hơi ẩm dư thừa bắt đầu ngưng tụ. Trên mức độ cao này thì trong khối khí dâng lên bắt đầu xuất hiện sự hình thành mây. Sự lạnh đoạn nhiệt của không khí nóng, trườn dọc theo nêm không khí lạnh, được tăng cường bằng sự phát triển các chuyển động hướng lên trên từ sự không ổn định trong sự tụt áp động lực và từ sự hội tụ của gió trong tầng thấp hơn phía dưới của khí quyển. Sự nguội đi của không khí nóng trong quá trình chuyển động trườn lên theo bề mặt frông dẫn tới sự hình thành hệ thống mây hình tầng đặc trưng (mây của chuyển động trườn lên): mây ti tầng - mây trung tầng -mây vũ tầng (Cs-As-Ns).
Khi frông nóng tới gần điểm với sự hình thành mây phát triển tốt thì bắt đầu xuất hiệnmây ti (Ci
us) trong dạng các dải song song với sự hình thành các dạng móc cong ở phần đi trước (dấu hiệu của frông nóng), kéo dài về hướng các luồng khí tại mức của nó (tức làmây móc cong: Ci
us uncinus). Những đám mây ti đầu tiên được quan sát ở khoảng cách vài trăm kilômét tính từ tuyến frông nóng trên bề mặt Trái Đất (khoảng 800-900 km). Mây ti sau đó chuyển thành mây ti tầng (Ci
ostratus). Đối với các dạng mây này thì tán là hiện tượng đặc trưng. Mây của tầng trên - gồm mây ti và mây ti tầng (Ci
us và Ci
ostratus) cấu thành từ các tinh thể nước đá, và giáng thủy từ chúng không rơi xuống. Thường xuyên hơn cả thì mây của hệCi - Cs tạo thành một lớp tách biệt, ranh giới trên của nó trùng với trục của luồng khí lưu cao tốc, nghĩa là gần với khoảng lặng đối lưu.
Sau đó mây trở nên dày dặc hơn: mây trung tầng (Altostratus) dần dà chuyển thành mây vũ tầng(Nimbostratus), những đợt giáng thủy dầm dề bắt đầu rơi xuống, bị suy yếu hay ngớt hẳn sau khi frông nóng đi qua. Theo sự lại gần của frông thì độ cao hình thành mây vũ tầng (Ns) giảm xuống. Giá trị tối thiểu của nó được xác định bằng độ cao của mức ngưng tụ trong không khí nóng dâng lên. Mây trung tầng (As) là dạng thể keo và cấu tạo từ hỗn hợp các giọt nước và viên tuyết nhỏ nhất. Bề dày theo chiều thẳng đứng của nó là rất đáng kể: bắt đầu từ độ cao 3-5 km, mây này tỏa rộng tới độ cao 4-6 km, nghĩa là có độ dày 1-3 km. Sự rơi xuống của giáng thủy từ mây này về mùa hè, xuyên qua phần nóng của khí quyển, bị bay hơi và không phải lúc nào cũng xuống tới mặt đất. Về mùa đông, giáng thủy từ mây trung tầng ở dạng tuyết gần như thường xuyên xuống tới mặt đất, đồng thời nó kích thích sự rơi xuống của giáng thủy từ các dạng mây tầng - mây tầng tích (St - Sc) hay hơn thế. Gần hơn cả với mặt đất (trên độ cao vài trăm mét, đôi khi chỉ 100-150 m hay thấp hơn) là ranh giới dưới của mây vũ tầng (Ns), từ đó rơi xuống giáng thủy dầm dề trong dạng mưa hay tuyết; dưới mây vũ tầng không hiếm khi cũng phát triển dạng mây tả tơi (St fr.).
Mây vũ tầng trải rộng tới độ cao 3-7 km, nghĩa là có bề dày theo chiều thẳng đứng rất đáng kể. Mây này cũng có cấu thành từ các thành phần nước đá và giọt nước, trong đó, các giọt nước và tinh thể nước đá trong phần dưới của mây là to hơn so với ở mây trung tầng (As). Phần đáy của hệ thống mây As-Ns trong phạm vi chung là trùng với bề mặt của frông. Do ranh giới trên của hệ thống mây As-Ns gần như là nằm ngang nên bề dày lớn nhất của nó được quan sát thấy là gần với đường frông. Ở trung tâm của xoáy tụ, nơi hệ thống mây của frông nóng có sự phát triển mạnh hơn cả, bề rộng của khu vực mây vũ tích (Ns) và khu vực giáng thủy dầm dề trung bình khoảng 300 km. Nói chung bề rộng của hệ thống mây As-Ns đạt khoảng 500-600 km, bề rộng khu vực hệ thống mây Ci-Cs - khoảng 200-300 km. Nếu thiết kế hệ thống đã cho trên bản đồ gần sát mặt đất, thì nó sẽ ở phía trước đường frông nóng một khoảng cách chừng 700-900 km. Trong các trường hợp riêng rẽ khu vực có mây và giáng thủy có thể rộng hơn hay hẹp hơn đáng kể, phụ thuộc vào góc nghiêng của bề mặt frông, độ cao mức ngưng tụ, các điều kiện nhiệt của tầng đối lưu phía dưới.
Trong thời gian ban đêm, sự làm nguội bức xạ đối với ranh giới trên của hệ thống mây As-Ns, sự hạ thấp nhiệt độ trong mây, cũng như sự tăng cường dịch chuyển theo chiều thẳng đứng trong sự tụt xuống của không khí bị nguội đi bên trong mây hỗ trợ cho sự tạo thành pha nước đá trong mây, phát triển các thành phần mây và tạo ra giáng thủy. Càng xa trung tâm xoáy tụ thì chuyển động đi lên của không khí càng yếu và giáng thủy cũng tắt dần. Mây frông không chỉ có thể được tạo thành trên bề mặt nghiêng của frông, mà trong một số trường hợp - ở cả hai phía của frông. Điều này đặc biệt đặc trưng cho giai đoạn đầu của xoáy tụ, khi chuyển động đi lên chiếm lĩnh cả các khu vực hai bên frông - khi mà giáng thủy có thể rơi xuống từ cả hai bên của frông. Nhưng ở bên ngoài đường frông thì mây frông thường bị tách lớp mạnh và giáng thủy ngoài frông thường ở dạng mưa bụi hay các viên tuyết nhỏ.
Trong trường hợp frông rất thoải, hệ thống mây có thể được di chuyển ở phía trước đường frông. Trong thời gian nóng của năm chuyển động đi lên gần với đường frông mang đặc trưng đối lưu và trên các frông nóng không hiếm khi phát triển mây vũ tích và giáng thủy dạng mưa rào hay dông có thể xảy ra[1] (cả ban ngày lẫn ban đêm).
Về mùa hè, trong thời gian ban ngày, trong lớp gần mặt đất ngoài đường frông nóng khi có lượng mây đáng kể thì nhiệt độ không khí trên bề mặt đất có thể thấp hơn, so với phía trước frông. Hiện tượng này được gọi là trá hình của frông nóng (frông nóng trá hình).
Lượng mây của các frông nóng già nua có thể bị phân lớp trên toàn bộ khoảng trải rộng của frông. Dần dần các lớp này tản ra và giáng thủy chấm dứt. Đôi khi frông nóng không kèm theo giáng thủy (đặc biệt trong mùa hè). Nó xảy ra khi không khí nóng chứa ít hơi ẩm nên mức ngưng tụ nằm ở độ cao lớn hơn đáng kể. Khi không khí khô và đặc biệt trong trường hợp sự phân tầng của nó là bền vững rõ nét thì chuyển động đi lên của không khí nóng không dẫn tới sự phát triển của lượng mây đủ dày - nghĩa là nói chung sẽ không có mây hoặc là chỉ có mây ở các tầng trung và thượng.
Nếu khối khí tương đối ổn định, giáng thủy sẽ tăng lên cho tới khi frông chạm tới khu vực, khi đó mây có thể tản ra mọi hướng, tới mặt đất dưới dạng sương mù. Khi frông vượt qua, khu vực sẽ chịu nóng rất nhanh và trời trong. Nếu khối khí không ổn định, dông có thể xảy ra trước và sau khi frông đi qua.
Ở Bắc bán cầu, frông nóng gây ra sự dịch chuyển hướng gió từ đông nam sang tây nam, còn ở Nam bán cầu thì dịch chuyển là từ đông bắc sang tây bắc. Các đặc trưng phổ biến gắn liền với các frông nóng bao gồm:
Hiện tượng thời tiết
Trước khi frông tới
Khi frông đi qua
Sau khi frông qua
Nhiệt độ
Mát
Nóng đột ngột
Nóng hơn, sau đó cân bằng
Áp suất khí quyển
Giảm đều
Cân bằng
Tăng nhẹ tiếp theo là giảm
Gió
                  Nam sang đông nam (Bắc bán cầu)
                  Bắc sang đông bắc (Nam bán cầu)
Biến thiên
                  Nam sang tây nam (Bắc bán cầu)
                  Bắc sang tây bắc (Nam bán cầu)
Giáng thủy
Mưa rào, tuyết, mưa và tuyết hỗn hợp hay mưa bụi
Mưa bụi nhỏ
Thường không có gì, đôi khi mưa nhẹ hay mưa rào
Mây
Mây ti, mây ti tầng, mây trung tầng, mây vũ tầng, sau đó mây tầng và sương mù; đôi khi cómây vũ tích trong mùa hè
Mây tầng, đôi khi mây vũ tích
Trời trong với mây tầngthưa thớt, đôi khi có mây vũ tích thưa thớt
Tầm nhìn
Kém
Kém, nhưng đang cải thiện
Khá tốt trong mù
Điểm sương
Tăng đều
Ổn định
Tăng, sau đó ổn định
 
 
 
 
6.Front vùng cực
Trong khí tượng học, frông vùng cực là ranh giới giữa quyển hoàn lưu vùng cực vớiquyển hoàn lưu Fe
el tại mỗi bán cầu. Từ ranh giới này có một gradient rõ nét về nhiệt độ diễn ra giữa hai khối khí này, mỗi khối có các nhiệt độ rất khác biệt.
Frông vùng cực phát sinh từ kết quả của không khí vùng cực lạnh gặp gỡ với không khí vùng nhiệt đới nóng. Nó là một frông tĩnh do các khối khí khong di chuyển ngược chiều nhau. Ngoài khơi vùng duyên hải Bắc Mỹ, đặc biệt trong mùa đông, tồn tại một gradient nhiệt độ rõ nét giữa các vùng đất bị tuyết che phủ với các vùng duyên hải chịu tác động của các hải lưu nóng.
Lý thuyết frông vùng cực cho rằng các xoáy thuận vĩ độ trung bình hình thành trên ranh giới giữa các khối khí nóng và lạnh. Trong mùa đông, frông vùng cực dịch chuyển về phía xích đạo, nơi các hệ thống áp cao có thể thống lĩnh nhiều hơn trong mùa hè.
 
Khái quát về Front:
Front là mặt ngăn cách hai khối khí khac biệt nhau về tính chất vật lý.
Các khối khí ngăn cách nhau theo một mặt nghiêngcó sự khác biệt về nhiệt độ và hướng gió gọi là diện khí hay front,khí hậu là F.
Trên mỗi bán cầu có hai Front căn bản
-Front địa cực (FA).
-Front ôn đới (FP)
Giữa hai khối khí chí tuyến và xích đạo không tạo thành front thường xuyên và rõ nét,bởi chúng đều nóng và nói chung có cùng một chế độ gió.
Ở xích đạo ,các khối khí xích đạo ở bắc bán cầu và nam bán cầu  tiếp xúc với nhau là các khối khí nóng ẩm,chỉ có hướng gió khác nhau ;vì thế chỉ tạo thành các dải hội tụ nhiệt đới chung cho cả hai bán cầu.
Do sự tranh chấp giữa khối khí nóng và khối khí lạnh đã dẫn đến nhiễu loạn không khí sinh ra mưa.Dọc các front nóng (khối khí nóng đẩy khối khí lạnh) cũng như front lạnh (khối khí lạnh đẩy lùi khối khí nóng ,khối không khí nóng bốc lên trên khối khí lạnh nên bị co lại và lạnh đi gây mưa trên cả hai front nóng và lạnh.
Miền có front nhất là dải hội tụ nhiệt đới đi qua,thường mưa nhiều đó là mwua front hoặc mưa hội tụ.
 
 
 
7.Tuyết
Tuyết, tuyết rơi hay mưa tuyết là 1 hiện tượng thiên nhiên, giống như mưa nhưng là mưa của những tinh thể đá nhỏ. Tuyết thường xuất hiện ở các vùng ôn đới.
Trong các đám mây với nhiệt độ dưới -10 °C, các phân tử nước tụ hợp lại và hình thành tinh thể đá nhỏ, kích thước ban đầu khoảng 0,1 mm. Các tinh thể này dần tăng trọng lượng và rơi xuống dưới. Sự lắng đọng của hơi nước cũng góp phần vào quá trình hình thành tinh thể tuyết, với dạng tiêu biểu là kiểu hình lục giác. Sự định dạng tinh thể tuyết phụ thuộc vào cấu trúc phân tử nước (góc 60° hay 120°) và nhiệt độ không khí. Dưới nhiệt độ thấp, tinh thể tuyết hình lăng trụ được hình thành, ở nhiệt độ cao hơn là hình ngôi sao. Đây là 2 dạng cơ bản, ngoài ra, sự va chạm của chúng còn tạo ra các tinh thể mới (có hơn 6 000 kiểu tinh thể).
 
Tuyết sau khi rơi tan ở nhiệt độ cao hơn 0 °C, hoặc thấp hơn khi có ánh sáng mặt trời trực tiếp chiếu vào, tuyết có thể thăng hoa thành hơi nước không cần chuyển đổi sang nước. Độ ẩm trong khí cũng ảnh hưởng đến quá trình tan của tuyết, không khí càng khô thì tuyết càng ít tan hơn.
Theo thời gian                   Tuyết mới rơi: (tuyết non) tuyết đã rơi ngắn hơn 3 ngày
                  Tuyết cũ: (tuyết già) tuyết rơi hơn 3 ngày
                  Băng: tuyết cũ nhưng được tan đi và đông lại thành 1 lớp trên bề mặt, tuyết đóng băng
                  Băng hà: tuyết cũ ít nhất là 1 năm
 
Theo độ ẩm                   Tuyết bột: tuyết khô, không dính nhau dưới tác dụng của áp suất
                  Tuyết ẩm: tuyết dính lại với nhau dưới áp suất
                  Tuyết ướt: tuyết nặng và ướt, có thể bóp chảy thành nước
                  Tuyết hư: hỗn hợp giữa nước và những mãnh tuyết vỡ
                  Ngoài ra phụ thuộc vào nhiệt độ còn có sự pha trộn giữa nước mưa và tuyết khi có mưa tuyết
 
 
 
 
8.Mưa
Mưa là một dạng ngưng tụ của hơi nước khi gặp điều kiện lạnh, mưa có các dạng như: mưa phùn, mưa rào, mưa đá, các dạng khác như tuyết, mưa tuyết,sương.
Mưa được tạo ra khi các giọt nước khác nhau rơi xuống bề mặt Trái Đất từ các đám mây. Không phải toàn bộ các cơn mưa đều có thể rơi xuống đến bề mặt, một số bị bốc hơi trên đường rơi xuống do đi qua không khí khô, tạo ra một dạng khác của sự ngưng đọng.
Mưa đóng một vai trò quan trọng trong chu trình thủy học trong đó nước từ các đại dương (và các khu vực khác có chứa nước) bay hơi, ngưng tụ lại thành các đám mây trong tầng đối lưu của khí quyển do gặp lạnh, khi các đám mây đủ nặng, nước sẽ bị rơi trở lại Trái Đất, tạo thành mưa, sau đó nước có thể ngấm xuống đất hay theo các con sông chảy ra biển để lại tiếp tục lặp lại chu trình vận chuyển.
Các giọt mưa rơi thông thường được vẽ trong các tranh hoạt họa như là "giọt nước mắt", tròn ở phần đáy và nhỏ, nhọn ở phần đỉnh, nhưng điều này không đúng (chỉ có các giọt nước nhỏ ra từ một nguồn nào đó mới có dạng như vậy ở thời điểm hình thành ra giọt nước). Các giọt mưa nhỏ là có dạng gần như hình cầu. Các giọt lớn hơn thì bị bẹt dần đi, giống như bánh hamburger (một loại bánh mì dẹp như bánh bao); còn các giọt rất lớn thì có hình dạng giống như cái dù. Trung bình thì giọt mưa có kích thước từ 1 mm đến 2 mm theo đường kính. Những giọt mưa lớn nhất trên Trái Đất đã được ghi lại ở Brasilvà quần đảo Marshall năm 2004 - một số giọt có kích thước tới 10 mm. Kích thước lớn được giải thích là sự ngưng tụ trong các hạt khói lớn hay bởi sự va chạm giữa các giọt mưa trong một khu vực nhỏ với lượng rất lớn nước lỏng.
Nói chung, nước mưa có độ pH nhỏ hơn 6 một chút, đơn giản là do nó hấp thụ điôxít cacbon trong khí quyển, nó bị điện ly một phần trong nước, tạo ra axít cacbonic. Ở một số sa mạc, các luồng không khí vận chuyển cả cacbonat canxi lên không trung, do đó nước mưa ở đây có thể là có pH bằng hoặc cao hơn 7. Các trận mưa có pH thấp hơn 5,6 thì được coi là mưa axít.
Lượng mưa tại một khu vực nào đó được đo bằng các máy đo lượng mưa đặt tại một số điểm ngẫu nhiên, xa khu vực có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của phép đo. Nó là độ cao lượng nước thu được sau cơn mưa trên một bề mặt phẳng, không bị nhà cửa hay cây cối bao phủ hay che lấp và có thể được tính bằng mm (milimét) hay L/m². Độ chính xác của các máy đo có thể đạt tới 0,25 mm hay 0,01 in.
Các quan điểm trên thế giới về mưa rất khác nhau trong các nền văn hóa. Trong thế giới phương Tây, ngày mưa thông thường có ý nghĩa buồn và tiêu cực, ngược lại với ngày nắng đẹp và hạnh phúc. Trong các khu vực khô cằn, chẳng hạn như Ấn Độ, mưa được chào đón với một sự vui mừng.
Nhiều người cảm nhận thấy hương vị của mưa là dễ chịu. Nguồn gốc của hương vị này là do một loại tinh dầu được cây cối sản xuất, được hấp thụ bởi đất đá, sau đó được giải phóng trong không khí trong thời gian mưa.
Nước mưa có thể được sử dụng như nước uống. Nước mưa cũng là nguồn cung cấp nước cho các loại cây trồng. Sau khi mưa, đa số người đều cảm thấy dễ chịu, hiện tượng này được giải thích là do lượng ion mang điện tích âm tăng lên, tuy vậy nếu mưa kéo dài nhiều ngày thì do độ ẩm tăng cao thì lại gây cảm giác khó chịu.
Mưa mang lại nước, nguồn sống cho tất cã các sinh vật trên Trái Đất. Ở những vùng có nhiệt độ cao mưa làm giảm nhiệt. Mưa là một mắt xích quan trọng trong chu kỳ tuần hoàn của nước. Con người lợi dụng điều này để khai thác năng lượng Mặt Trời gián tiếp từ nước bằng các nhà máy thủy điện.
Trong dân gian, mưa được phân thành mưa rào, mưa phùn, mưa ngâu...
Trung tâm khí tượng thủy văn VN phân mưa theo mức độ lượng mưa
                  Mưa vừa: Lượng mưa đo được từ 16 - 50 mm/24h
                  Mưa to: Lượng mưa đo được từ 51 - 100 mm/24h
                  Mưa rất to: Lượng mưa đo được > 100 mm/24h
                  Mưa axít
                  Mưa bụi
                  Mưa đá
                  Mưa địa hình
                  Mưa đối lưu
                  Mưa frông
                  Mưa mòi
                  Mưa ngâu
                  Mưa nhân tạo
                  Mưa phùn
                  Mưa rào
                  Mưa rươi
                  Mưa xoáy thuận
 
 
 
9.Dải hội tụ nhiệt đới
dải hội tụ nhiệt đới là dải thời tiết xấu, được hình thành do sự hội tụ của hai đới gió tín phong đông bắc và tây nam hoặc đông bắc với đông nam gần vị trí xích đạo, có khi nó dịch chuyển lên vĩ độ cao hơn theo từng mùa .dải hội tụ nhiệt đới đồng thời là dải thấp xích đạo và gió lại hội tụ ở đây nên dòng thăng phát triển mạnh hình thành mây tích gây mưa to.Vì dải hội tụ nhiệt đới cũng là một giải thấp nên có sự tương tác với vùng thấp ngoài biển, thực tế theo thống kê có 80% bão và áp thấp nhiệt đới được hình thành trên dải hội tụ nhiệt đới.
 
 
 
 
 
10.Hội tụ gió và trường phân kỳ trên cao
Hội tụ là sự tích lũy của không khí trong một khu vực hoặc lớp của bầu khí quyển, trong khi mức độ. Tình cờ, điều này cũng là lớp của gió tối đa trong bầu khí quyển, lõi của dòng máy bay phản lực thường được tìm thấy ở đây. Những cơn gió tốc độ cao trực tiếp liên quan đến hội tụ và phân kỳ. Tác động kết hợp của hướng gió và tốc độ (vận tốc) là những gì tạo ra luồng không khí hội tụ và khác nhau.
Mục tiêu học tập: Xác định sự hội tụ và phân kỳ, và mô tả im-portance của từng khoa học của sao băng-ology.
Tầm quan trọng của hội tụ và phân kỳ
Tầm quan trọng của hội tụ và di vergence có liên quan đến thay đổi áp suất ở bề mặt và thay đổi chiều cao của các cấp áp suất không đổi. Khi không khí tích tụ trong tầng 300-200 mb trên một khu vực, áp lực lớn hơn là tác động cả bầu khí quyển. Nó giống như lạm phát một lốp xe .
Khi không khí chảy vào tầng, áp lực tăng. Barometric áp lực tăng lên bề mặt, cũng như chiều cao của các cấp áp suất không đổi. Nói cách khác, chúng ta nói rằng áp lực trên cấp con-vergence nguyên nhân và tăng chiều cao. Các tác dụng ngược lại chính xác diễn ra khi không khí bị lấy đi từ tầng 300-200-mb . Đây là nơi chúng ta giảm phát lốp. Khi không khí chảy ra của tầng, áp lực là bị mất. Áp suất khí quyển tại bề mặt xuống, cũng như chiều cao của các cấp áp suất không đổi . Chúng ta nói rằng cấp trên khác nhau gây ra áp lực và rơi chiều cao .
Hội tụ và phân kỳ không phải là quá trình duy nhất tại nơi làm việc trong bầu không khí có thể gây ra áp lực và chiều cao thay đổi, nhưng bạn sẽ được nghe những điều khoản này đều đặn ngày càng tăng khi bạn tiến bộ lên các bậc thang tỷ lệ AG. Họ chủ yếu được sử dụng bởi các nhà dự báo để giải thích lý do tại sao hệ thống được dự kiến để điền vào hoặc làm sâu sắc hơn trong giai đoạn dự báo. Kể từ khi những cơn gió trên là nhà sản xuất của hội tụ và phân kỳ, bạn sẽ có thể nhận ra các mô hình dòng chảy liên quan đến sản xuất của họ. Các mô hình dòng chảy phạm vi từ đơn giản đến phức tạp.
Hội tụ và phân kỳ (SIMPLE chuyển động)
Để hội tụ sẽ diễn ra, gió phải được như kết quả trong một dòng chảy ròng của không khí vào một lớp hoặc khu vực. Tại bề mặt, hệ thống áp suất thấp có liên quan với dòng chảy con-vergent . Gió qua isobars về phía trung tâm của thấp và đẩy không khí trong trung tâm trở lên vào bầu khí quyển . Các dòng được minh họa trong hình 8-4-1. Các chuyển động đi lên theo chiều dọc là một đóng góp quan đến sự xuất hiện có thể có mưa. Trong khí tượng học, hội tụ được phân loại là nằm ngang hoặc thẳng đứng, bởi vì có những dòng ngang và dọc xảy ra trong khí quyển .
Để cho sự phân kỳ sẽ diễn ra, gió phải được như kết quả trong một dòng chảy ròng của không khí từ một lớp hoặc khu vực. Hệ thống áp suất cao có liên quan với lưu lượng khác nhau. Những cơn gió qua isobars, chảy ra từ trung tâm cao và làm suy giảm không khí trong cao. Không khí trên bồn cao để thay thế cho dòng chảy của không khí trên bề mặt . Điều này đi xuống chuyển động thẳng đứng (lún) được kết hợp với không khí khô Divergence cũng có thể được phân loại là ngang hoặc dọc, tùy thuộc vào trục của gió. Xem hình 8-4-1.
Hình thức đơn giản nhất của hội tụ và di vergence là loại kết quả của hướng gió một mình . Hai dòng chảy của không khí mang lại với nhau, không có vấn đề gì góc, kết quả trong hội tụ . Trường hợp luồng không khí chia tách và gió đi các hướng khác nhau, khác nhau đang diễn ra hình 8-4-2 minh họa các loại lưu lượng không khí hội tụ và khác nhau .
Tốc độ gió liên quan đến hướng gió cũng là một đóng góp cho hội tụ và phân kỳ. Nếu tốc độ gió giảm xuống hạ lưu, có một dòng chảy ròng của không khí vào khu vực và hội tụ diễn ra. Nếu tốc độ gió tăng ở hạ lưu, có một dòng chảy ròng của không khí từ khu vực, và sự phân kỳ xảy ra. Trong một khu vực tốc độ gió thống nhất, nếu các fan hâm mộ gió ra (split), sự phân kỳ xảy ra. Nếu những cơn gió mang lại với nhau, hội tụ xảy ra. Xem hình 8-4-2, xem B.
Thực tế đường nét hội tụ hay phân kỳ không nhất thiết phải cho thấy sự hội tụ hay phân kỳ, bởi vì tốc độ gió cũng phải được xem xét. Nếu tốc độ gió tăng ở hạ lưu và những đường nét lây lan ngoài, gió supergradient được cho là xảy ra. Bination com của hướng gió và tốc độ sản xuất khác nhau. Mặt khác, nếu tốc độ gió giảm hạ lưu và các đường nét hội tụ
Có những trường hợp khác, nơi nó được khó khăn để xác định xem sự phân kỳ hay hội tụ đang diễn ra. Khi tốc độ gió giảm hạ lưu và những đường nét lây lan ngoài, cả hội tụ và phân kỳ được chỉ định. Tốc độ gió cho thấy hội tụ, nhưng những đường nét lây lan cho thấy sự phân kỳ. Một tình huống tương tự phát sinh khi tốc độ gió giảm hạ lưu và những đường nét hội tụ . Ở đây, chúng tôi đang tìm kiếm khác nhau tốc độ và hướng hội tụ. Đây là những chuyển động phức tạp, tuy nhiên, và một đánh giá đặc biệt là cần thiết để xác định dòng chảy ròng hay luồng .
 
 
 
11.Sóng áp cao cận nhiệt đới
Khí áp là sức nén của không khí xuống bề mặt TĐ.Tùy theo tình trạng của ko khí (co lại hay nở ra) sẽ có tỉ trọng khác nhau, do đó khí áp cũng
khác nhau và từ đó hình thành nên các đai áp cao và áp thấp.Các đai khí áp phân bố xen kẽ nhau và đối xứng qua đai áp thấp xích đạo. Cụ thể là: ở cực là đai áp cao; xuống đến vĩ tuyến 60 độ Bắc và Nam là áp thấp; tiếp tục xuống đến vĩ tuyến 30độ B & N là áp cao; và cuối cùng xuống đến xích đạo là áp thấp. (bạn nên vẽ hình tròn đại diện cho TĐ và vẽ các đai khí áp vào theo đúng thứ tự sẽ dễ nhớ hơn)
Hai vành đai khí áp cao nằm dọc theo vĩ tuyên 30o - 35o Bắc và Nam bán cầu gọi là 2 vành đai khí áp cao cận chí tuyên. Nguyên nhân hình thành 2 vành đai khí áp cao này là do không khí nóng ở vùng xích đạo bốc lên cao rồi di chuyển về vùng chí tuyến (23027’ Bắc và Nam bán cầu). Do chịu ảnh hưởng của lực Côriôlít nên dòng không khí lệch về bên phải của hướng chuyển động ở Bắc bán cầu, về bên trái ở Nam bán cầu, đến khoảng vĩ độ 30o-35o độ lệch đạt đến 900, gió thổi theo hướng Tây ở Bắc bán cầu và hướng Đông ở Nam bán cầu. Tại đây không khí không tiến lên vĩ độ cao nữa mà tích tụ lại rồi đi xuống ở vùng cận nhiệt đới để hình thành nên 2 vành đai áp cao cận chí tuyến ở trên mặt đất. Trên thực tê, 2 vành đai áp cao này không tồn tại liên tục mà bị cắt vụn ra thành nhiều trung tâm khí áp cao do ảnh hưởng của địa hình và sợ trái ngược của đất và biển.
 
 
12.Sét
Sét hay tia sét là hiện tượng phóng điện trong khí quyển giữa các đám mây và đất hay giữa các đám mây mang các điện tích khác dấu đôi khi còn xuất hiện trong các trận phun trào núi lửa hay bão bụi (cát). Khi phóng điện trong khí quyển tia sét có thể di chuyển với tốc độ 36.000 km/h (22.000 mph) vì sét là sự di chuyển của các ion nhưng hình ảnh của sét là do dòng plasma phát sáng tạo ra nên có thể thấy nó trước khi nghe tiếng động vì tiếng động chỉ di chuyển với tốc độ 1.230 km/h (767 mph) trong điều kiện bình thường của không khí còn ánh sáng đi được 299.792.458 m/s. Sét đạt tới nhiệt độ 30.000 °C (54.000 °F) gấp 20 lần nhiệt độ cần thiết để biến cát silica thành thủy tinh (chỉ cần 1330 °C để làm nóng chảy SiO2), những viên đá được tạo ra bởi sét đánh vào cát gọi là fulgurite (thường nó có dạng hình ống do sét di chuyển vào lòng đất). Có khoảng 16 triệu cơn dông mỗi năm.
Sét cũng được tạo ra bởi những cột tro trong những vụ phun trào núi lửa hoặc trong những trận cháy rừng dữ dội tạo ra một làn khói đặc đủ để dẫn điện.
Lý do sét hình thành và nguồn gốc của nó vẫn là một vần đề còn đang tranh luận: Các nhà khoa học đã nghiên cứu các nguồn gốc khác nhau như gió, độ ẩm, ma sát và áp thấp khí quyển cho đến ảnh hưởng của gió mặt trời và các hạt tích điện trong năng lượng mặt trời. Các tinh thể băng trong các đám mây có thể là yếu tố quan trọng trong việc hình thành tia sét do nó có thể tạo ra một môi trường tích điện cực trái dấu nhau trong các đám mây dẫn đến việc hình thành sét.
Khi hai đám mây tích điện trái dấu lại gần nhau, hiệu điện thế giữa chúng có thể lên tới hàng triệu von. Giữa hai đám mây có hiện tượng phóng tia lửa điện và ta trông thấy một tia chớp. Vài giây sau ta mới nghe thấy tiếng nổ, đó là “sấm” (vận tốc ánh sáng nhanh hơn vận tốc của tiếng động nên ta trông thấy tia chớp trước). Nếu có đám mây dông tích điện đi gần mặt đất tới những khu vực trống trải, gặp một vật có độ cao như cây cối, người cầm cuốc xẻng... thì sẽ có hiện tượng phóng tia lửa điện giữa đám mây và mặt đất. Đó là hiện tượng sét đánh.
Sét khô: Đây là loại sét được tạo thành mà không cần có độ ẩm. Nó thường hình thành trong các trận cháy rừng dữ dội. Hay các cột tro núi lửa bốc lên rất cao và bắt đầu hình thành sét như các đám mây tích điện thường làm. Khi mà tầng trên lạnh và đưới mặt đất nóng một sự đối lưu sẽ diễn ra mang theo cả các ion dương từ dưới mặt đất thứ sẽ hấp dẫn các ion âm tập trung lại và di chuyển xuống đất theo làn khói dẫn điện. Chính vì thế lửa có thể tạo ra sét và sét sẽ tạo ra thêm lửa (thảm họa).
 
Sét tự hình thành:Đây là loại sét hiếm thấy nó có thể sẽ không giống với bất cứ lý thuyết nào hiện có.
Là một loại sét xuất hiện ngay cả khi bầu trời hoàn toàn quang đãng hay chỉ có vài đám mây nhỏ. Nó còn được biết với tên "Sét từ bầu trời xanh" vì tính chất của nó. Không giống như các loại sét bình thường khác nó được hình thành từ các ion dương và xuất hiện từ vùng đỉnh của tầng đối lưu hơn là ở các nơi khác gần mặt đất trong đám mây. Nó sẽ đi ngang qua bầu trời nhiều dặm trước khi tìm thấy và đi vào đám mây tích điện âm bên dưới hay tiếp tục đánh xuống đất nơi có điện tích âm tăng vọt một cách bất thường, tỉ lệ xuất hiện loại sét này chỉ khoảng 5%. Vì quảng đường mà nó di chuyển cực xa vì thế điện áp của nó cao hơn 6-10 lần cũng như di chuyển xa và lâu hơn 10 lần các tia sét thông thường. Khi loại sét này xuất hiện một lượng cực lớn các sóng ELF và VLF sẽ được tạo ra.
Vì đặc tính cũng như sức mạnh của chúng và rất khó có thể cảnh báo sự xuất hiện của loại sét này mà nó càng trở nên nguy hiểm hơn. Cho đến thời điểm hiện tại không một máy bay nào có thể còn tồn tại được sau khi bị nó đánh trúng. Sự tồn tại cũng như độ nguy hiểm của loại sét này vẫn không được biết đến cho đến năm 1999 sau khi một chiếc tàu lượn bị đánh trúng và bị phá hủy hoàn toàn đã được xác định là do loại sét này gây ra. Thông tư hướng dẫn AC 20-53A đã được thay thế bởi thông tư hướng dẫn AC 20-53B năm 2006. Tuy nhiên vẫn chưa rõ những qui định an toàn mới có thể bảo vệ các máy bay khỏi loại sét này hay không.
Loại sét này cũng bị tình nghi cho việc chiếc Boeing 707 Pan Am Flight 214 bị nổ tung và rơi xuống thành từng mảnh khi đang bay năm 1963. Vì liên tục bị sét đánh mà các máy bay trong không phận Hoa Kỳ đòi hỏi phải có cây thu lôi để giảm tác hại của sét, nhưng có vẻ vẫn không đủ để chống lại loại sét này.
Sét tự hình thành có thể là nguồn gốc của các loại sét thượng tầng khí quyển. Nó thường xuất hiện trong các cơn bão tuyết, bão tuyết điện hay khoảng kết thúc của một cơn dông.
Sét hòn có thể là hiện tượng phóng điện trong không khí, đặc tính tự nhiên của loại này vẫn còn đang gây tranh cãi. Từ sét hòn thường được dùng để chỉ các vật phát sáng hình cầu bay lơ lửng có kích cỡ từ hạt đâu cho đến vài mét. Nó đôi khi xuất hiện trong các cơn dông, không giống như các tia sét chỉ xuất hiện với một vệt dài và biến mất sau đó sét hòn có hình cầu bay lơ lửng và tồn tại trong nhiều giây. Sét hòn chỉ được kể lại bởi các nhân chứng chứ không hề được ghi hình lại bởi các nhà khí tượng. Các tài liệu khoa học về sét hòn rất hiếm vì chúng thường xuất hiện bất ngờ và hiếm. Sự tồn tại của nó chỉ được kể lại bởi các nhân chứng nên đôi khi bị thêm thắc khiến nó phần nào không phù hợp.
Các thí nghiệm trong phòng thử nghiệm gần đây đã tạo ra các kết quả rất giống với các sét hòn được báo cáo lại, nhưng hiện tại vẫn chưa có kết luận là có liên quan đến hiện tượng tự nhiên này hay không. Có một già thuyết cho rằng sét hòn được tạo ra do phản chiếu khi sét đánh vào silicon trong đất một hiện tượng mà các phòng thí nghiệm đã thử nhiều lần. Do các tài liệu nghiên cứu mâu thuẫn lẫn nhau nên quả bóng phát sáng này vẫn là bí ẩn và thường bị cho chỉ là tưởng tượng và chơi khăm. Nhiều báo cáo so sánh việc nhìn thấy sét hòn giống như việc nhìn thấy UFO.
Sét có thể gây thương tích bằng những cách thức sau:
Sét đánh thẳng vào vị trí nạn nhân từ trên đám mây xuống.
Khi nạn nhân đứng cạnh vật bị sét đánh. Sét có thể phóng qua khoảng cách không khí giữa người và vật. Trong trường hợp này gọi là sét đánh tạt ngang.
Sét đánh khi nạn nhân tiếp xúc với vật bị sét đánh.
Điện thế bước. Khi người tiếp xúc với mặt đất ở một vài điểm. Sét lan truyền trên mặt đất.
Sét lan truyền qua đường dây cáp tới các vật như điện thoại, tivi (vô tuyến), ổ cắm.
Theo thống kê thì sét đánh thẳng là nguy hiểm nhất, cứ 10 người bị sét đánh thẳng thì 8 người chết. Sét đánh tiếp xúc hay tạt ngang cũng rất nguy hiểm. Khi sét đánh xuống cây, thì 1 tia sét có thể giết chết ngay vài người xung quanh. Độ nguy hiểm phụ thuộc vào bản chất của vật bị sét đánh và vị trí tương đối với nạn nhân. Thương vong do điện thế bước nhẹ hơn. Trong một số trường hợp năng lượng tia sét không tiêu tán ngay tại chỗ mà truyền theo mặt đất và khi nạn nhân đứng trên đường truyền đó có thể bị liệt. Trong một số trường hợp tồi tệ nạn nhân sẽ bị vấn đề với việc đi lại sau này. Thường thị điện thế bước chỉ gây những hiệu ứng tạm thời và ít khi để lại hậu quả sau này. Trong thực tế sét lan truyền xuất hiện khi nạn nhân nói chuyện điện thoại, cầm vào các dây cáp, dây anten dẫn từ ngoài vào.
Theo thống kê ở Hoa Kỳ, ngoài 40% nạn nhân bị sét đánh không được biết rõ nguyên nhân, 27 % là khi họ đang ở khu vực trống trải, 19% ở gần cây, 8% đang bơi hay ở khu vực gần nước, 3% khi đúng gần máy móc, 2,4% khi đang nói điện thoại, 0.7% liên quan đến đài, tivi, anten...
Các biện pháp chống sét bảo vệ con người
Vì sét là hiện tượng ngẫu nhiên cho nên không có vị trí an toàn tuyệt đối. Tuy nhiên việc chủ động đề phòng tránh sét tìm nơi an toàn hơn có thể làm giảm đáng kể khả năng bị sét đánh. Cần phải hướng dẫn giáo dục phòng chống sét an toàn cho con người.
Lên kế hoạch trước
Nghe dự báo thời tiết. Khi nghe bản tin dự báo thời tiết lên kế hoạch làm việc để đề phòng. Khi làm ở khu vực nào đó, để ý trước các nơi có thể trú mưa và tránh sét an toàn. Phải tính được thời gian từ chỗ làm việc đến nơi an toàn. Thường thì cơn dông kéo đến rất nhanh trong vòng 15 phút và di chuyển với vận tốc 40km/giờ. Nói chung khi đang ở nơi không an toàn thì cần phải để ý đến các dấu hiệu của dông như mây đen, không khí lạnh, gió
Thực hiện quy tắc nhìn-nghe:
Khi sét xảy ra, thoạt tiên ta thấy tia chớp loé lên và sau đó là có tiếng sấm kèm theo. Nếu bạn tính khoảng thời gian từ lúc tia chớp loé lên và lúc nghe thấy tiếng sấm thì có thể xác định được khoảng cách tới nơi sét xảy ra. Chia số giây cho 3 ta được khoảng cách đến tia sét. Ví dụ đếm được 3 giây thì sét cách vị trí đứng là 3/3= 1km. Nên nhớ rằng nếu như khoảng thời gian bạn đếm được từ khi thấy chớp và nghe tiếng sấm nhỏ hơn 30 giây, thì bạn đã nằm trong tầm ngắm của tia sét rồi và phải cẩn thận. Nếu thời gian này nhỏ hơn 20 giây thì phải di chuyển đến nơi an toàn hơn. Khi nghe thấy tiếng sấm đầu tiên bất kể là gì cũng cần phải thấy nguy hiểm đã đến. Sét có thể đánh cách xa nơi có mưa tới 15-20km.
Tránh sét trong nhà
Khi trời sắp xảy ra dông, thì biện pháp tránh sét tốt nhất là nên về nhà. Chỗ an toàn để tránh sét là toà nhà, hay công sở có lắp đặt hệ thống chống sét (đơn giản nhất là cột thu lôi Franklin).. Khi ở trong nhà thì nên đứng xa cửa sổ, cửa ra vào, các đồ dùng điện, tránh các chỗ ẩm ướt như buồng tắm, bể nước, vòi nước, không nên dùng điện thoại trừ trường hợp rất cần thiết. Nên rút phích cắp các thiết bị điện trước lúc có dông gần xảy ra. Với các đường dây điện thoại hay dây điện vì nối với lưới bên ngoài nên rất có thể bị ảnh hưởng sét đánh lan truyền. Nên tránh xa các dây này và các vật dùng điện với khoảng cách ít nhất là 1m. Vô tuyên nối với dây anten để ngoài trời cũng rất cần rút ra khi có dông.
Tránh sét đánh ngoài trời
Trong trường hợp không kịp chạy tìm nơi ẩn náu an toàn, tuyệt đối không dùng cây cối làm chỗ trú mưa, tránh các khu vực cao hơn xung quanh, tránh xa các vật dụng kim loại như xe đạp, máy, hàng rào sắt...
Tìm chỗ khô ráo, nếu xung quanh có cây cao hơn thì nên tìm chỗ thấp, tìm vị trí cây thấp.
Người ở vị trí càng thấp càng tốt, tay ôm cổ. Phần tiếp xúc của người với mặt đất là ít nhất. Nhón chân, không được nằm xuống đất.
Đứng xa các vật cao, ra ngay khỏi những nơi chứa nước như bãi biển, ao, hồ, mương. Các vùng đỉnh núi hay sườn núi nhô cao cũng rất nguy hiểm. Nếu ở trong rừng thì tìm những nơi cây thấp hơn và thưa để tránh.
Không đứng thành nhóm người gần nhau. Nếu như bạn cảm thấy tóc bị dựng lên (như cảm giác điện khi sờ tay trước mặt tivi) thì điều đó có nghĩa là có thể bị sét đánh bất cứ lúc nào. Lập tức cúi ngồi xuống và lấy tay che tai, không nằm xuống đất hay đặt tay lên đất.
Đối với các vật có bề mặt kim loại như xe buýt, tàu hoả, ô tô, ...nếu không thò người ra ngoài và không chạm đến vỏ bọc thì ở những chỗ này là an toàn. Ngược lại đối vơi các ô tô, tàu thuỷ để hở hay không có vỏ bọc kim loại thì lại nguy hiểm.
Sau khi nghe thấy tiếng sét 30 phút thì có thể trở lại làm việc bình thường.
Cấp cứu người bị sét đánh:
Ngoài làm cháy, bỏng, sét gây tác hại hệ thần kinh, gãy xương, mất thính giác, thị giác, hay trí nhớ. Người bị sét đánh cần được cứu trợ ngay tức khắc. Nếu người bị sét đánh bị ngất (tim ngừng đập, tắt thở) phải thực hiện khẩn cấp các động tác hô hấp, trợ tim nhân tạo. Tìm những nơi bị gãy, đặc biệt cẩn thận không di dời những nạn nhân nếu nghi ngờ bị gãy cột sống. Để những nơi bị bỏng khô và tìm cách nhanh nhất để nhân viên y tế đến.
Không nên làm gì:
Đứng gần vật cao, gần nước, gần cây, gần xe cộ, gần nhà, tại các nơi cánh đồng trống trải, anten, cột cao, gần những đường dây dẫn.
Nên làm gì: 1. Nhìn dấu hiệu báo dông (mây đen, gió lạnh...),
2. Nghe dự báo thời tiết khi có ý định đi ra ngoài.
3. Hạ thấp vị trí để hai chân chụm. Không nằm trên đất.
4. Đi vào nhà lớn hay vào xe cộ có mái kim loại (nhớ là không được động tay lên vỏ kim loại).
5. Biết trước nơi an toàn gần nhất và thời gian đi tới đó.

 
 
 
13.Thủy triều
Thủy triều là hiện tượng nước biển, nuớc sông... lên xuống trong ngày. Trong âm Hán-Việt, thủy có nghĩa là nước, còn triều là cuờng độ nuớc dâng lên và rút xuống. Sự thay đổi lực hấp dẫn từ Mặt Trăng (phần chủ yếu) và từ các thiên thể khác như Mặt Trời (phần nhỏ) tại một điểm bất kỳ trên bề mặt Trái Đất trong khi Trái Đất quay đã tạo nên hiện tượng nước lên (triều lên) và nước rút (triều xuống) vào những khoảng thời gian nhất định trong một ngày.
Nguyên nhân của thủy triều là do thủy quyển có hình cầu dẹt nhưng bị kéo cao lên ở hai miền đối diện nhau tạo thành hình ellipsoid. Một đỉnh của ellipsoid nằm trực diện với mặt Trăng - là miền nước lớn thứ nhất, do lực hấp dẫn của mặt Trăng gây ra. Còn miền nước lớn thứ hai nằm đối diện với miền nước lớn thứ nhất qua tâm Trái Đất, do lực li tâm tạo ra. Giữa hai nước lớn liên tiếp là nước ròng. Một khi vận tốc góc (tốc độ quay) của Quả Đất không đổi thì lực li tâm lớn nhất nằm ở nơi có bán kính quay lớn nhất khí đó là miền xích đạo của Trái đất. Tuy nhiên bán kính quay chưa hẳn là bán kính Quả đất tại Xích đạo, là vì: Quả đất không hoàn toàn quay quanh trục của nó, cũng như là Mặt Trăng không hoàn toàn quay quanh Trái đất, mà là: Hệ Quả Đất-Mặt Trăng quay xung quanh điểm trọng tâm của hệ này. Do khối lượng của Trái đất lớn hơn của Mặt Trăng rất nhiều nên trọng tâm của hệ Trái đất-Mặt Trăng nằm trong lòng Trái đất, trên đường nối tâm của chúng. Tóm lại: Trái Đất vừa quay, vừa lắc.
Thủy triều đạt cực đại khi mà cả Mặt Trăng và Mặt Trời cùng nằm về một phía so với Trái Đất, và mức triều phía đối diện lúc đó sẽ xuống điểm cực tiểu.
Khái niệm thủy triều được mở rộng trong vật lý học dành cho chênh lệch lực tác động lên các vật thể nằm trong trường hấp dẫn không đều.
Giải thích
Luật hấp dẫn vũ trụ: Mọi vật đều hấp dẫn lẫn nhau. Chẳng hạn như chuyện trái ...mít rơi. Trái mít bị trái đất hút về nó, nhưng trái mít cũng hút trái đất về phía nó, nhưng vì khối lượng trái mít quá nhỏ so với khối lượng trái đất nên trái đất hầu như không dịch chuyển mà ta chỉ thấy trái mít rơi .
Ta có công thức:
Với:
F : Lực hấp dẫn (N)
K : Hằng số hấp dẫn = 6,67×10-11
d : Khoảng cách (mét)
khối lượng Trái Đất 5,97×1024 kg, của Mặt Trăng: 0,073 × 1024 kg
Mặt Trời: khối lượng bằng 330 000 lần Trái đất
Khoảng cách Đất-Trời : d2 = 149,6 triệu km, từ Đất - Trăng: d1 = 0,384 triệu km
Fđất-trăng = K × mđất × mtrăng/d1² (1)
F đất-trời = K × mđất × mtrời/d2² (2)
Fđất-trăng /F đất-trời = 2,5
Tuy mặt, Khối lượng Mặt Trời lớn hơn trái đất 333.000 lần nhưng vì khoảng cách giữa Trái Đất - Mặt Trăng nhỏ hơn giữa Trái Đất - Mặt Trời nên lực hấp dẫn tác động bởi mặt Trăng lớn hơn lực hấp dẫn của mặt Trời gấp 2,5 lần.
Một số nơi trên thế giới, cư dân vùng ven biển nhận biết có hai loại thủy triều: nhật triều và bán nhật triều. Nhật triều là trong một chu kỳ triều hay một ngày (khoảng 24 giờ 50 phút) có một lần triều lên và một lần triều xuống. Bán nhật triều là trong một chu kỳ triều có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống, những vùng chịu ảnh hưởng của loại triều này thường nằm ở vĩ tuyến gần xích đạo. Đôi khi, người ta còn phân biệt chế độ bán nhật triều đều và bán nhật triều không đều.
Nhật triều
Nhật triều là một ngày có một lần nước lên và một lần nước xuống(là 24h52'), ví dụ ngày 12/03/2010 tại địa điểm A luỷ triều lên lúc 5h chiều thì ngày 13/03/2010 tại địa điểm A thuỷ triều sẽ lên lúc 5h52'.(Do trái đất quay quanh trục và mặt trăng lại quay quanh trái đất nên để đạt được vị trí lúc ban đầu phải cần mất 52phút nữa=>nên thời gian chênh lệch của thuỷ triều của ngày hôm trước và ngày hôm sau là 52phút)
Bán nhật triều
Cặp Trái Đất-Mặt Trăng quay và chịu một lực ly tâm. Khoảng cách Trái Đất-Mặt Trăng lớn nhất ở phía đối bên kia nơi không có Mặt Trăng, sẽ bằng 61 r thay vì 59 r (r là bán kính Trái Đất)
Theo công thức tính lực hấp dẫn, lực yếu khi khoảng cách tăng. Nghĩa là phía gần Mặt trăng (zénith), lực hấp dẫn sẽ lớn hơn phía đối xứng bên kia (Nadir). Do đó nơi gần mặt trăng, lực hấp dẫn sẽ lớn hơn lực ly tâm.
Trong trung tâm quả đất hai lực triệt tiêu lẫn nhau (ly tâm = - hấp dẫn). Bên kia quả đất, vì lực hấp dẫn yếu hơn nên lực ly tâm thắng thế. Do đó mà cùng một thời điểm, ta có hai lực FM hướng từ tâm ra ngoài, gây sự biến dạng mặt nước, do đó có 2 lần thủy triều lên trong một ngày.
Lực FM sinh ra thủy triều
Mặt trời cũng có ảnh hưởng trên lực sinh ra thủy triều, tuy rằng lực hấp dẫn của mặt trời nhỏ hơn của mặt trăng, nhưng khi cả ba thiên thể thẳng hàng (Trái Đất không nằm giữa) thì lực tạo thủy triều sẽ lớn hay còn gọi là triều cường vì là tổng của hai lực hấp dẫn Mặt Trời và Mặt Trăng thay vì chỉ có một lực hấp dẫn của Trăng như thông thường. Nhưng nếu mặt trời thẳng hàng với mặt trăng ngay trên vùng xích đạo, thì thủy triều lớn tối đa.
 
 
14.Vĩ độ ngựa
Các vĩ độ ngựa hay đới áp cao cận nhiệt đới là các vĩ độ cận nhiệt đới nằm trong khoảng từ vĩ độ 25 tới vĩ độ 35 ở cả hai bán cầu. Khu vực này, nằm dưới một dải áp cao, gọi là dải áp cao cận nhiệt đới, là khu vực nhận được ít mưa và có các luồng gió hay thay đổi xen giữa những khoảng thời gian dài lặng gió. Nó nằm giữa đới gió tây ở các vĩ độ từ 30 tới 60 thổi cơ bản theo hướng từ tây sang đông về phía cực Trái Đất và đới gió đông (hay gió mậu dịch) thổi cơ bản theo hướng từ đông sang tây tại vùng nhiệt đới gần xích đạo.
Nguyên nhân lặng gió trong khu vực này là do đới hội tụ liên chí tuyến, một dải rộng vài trăm kilômét ở các vĩ độ gần xích đạo, nơi các luồng gió mậu dịch hội tụ. Tại khu vực này, các luồng gió lạnh bốc lên, trở thành khô và thổi ở độ cao khoảng 10-15 km từ xích đạo về hai phía bắc và nam, hướng về vùng cực. Tại các vĩ độ khoảng 30, các luồng gió hướng về vùng cực này hạ thấp xuống bề mặt tới đới áp cao cận nhiệt đới và ấm dần lên. Luồng không khí này là rất khô do hơi ẩm mà nó mang theo đã được giải phóng phía trên xích đạo, gần các khu rừng mưa nhiệt đới.
 
Các điều kiện khô, ấm ổn định của các vĩ độ ngựa cũng góp phần vào sự tồn tại của các sa mạc cận nhiệt đới/ôn đới, chẳng hạn như sa mạc Sahara ở châu Phi, các sa mạc tây nam Hoa Kỳ và miền bắc Mexico, các phần của Trung Đông ở Bắc bán cầu, cũng như sa mạc Atacama, sa mạc Kalahari và sa mạc Australia ở Nam bán cầu.
 
 
15.Hải lưu
Dòng hải lưu là chuyển động trực tiếp, liên tục và tương đối ổn định của nước biển và lưu thông ở một trong các đại dương của Trái Đất. Các dòng hải lưu có thể lưu thông trên một quãng đường dài hàng ngàn kilômét. Chúng là rất quan trọng trong việc xác định khí hậu của các lục địa, đặc biệt ở những khu vực gần biển. Ví dụ nổi bật nhất là dòng Vịnh (còn gọi là hải lưu Gulf Stream từ tiếng Anh Gulf Stream), dòng hải lưu này làm cho phần tây bắc châu Âu có nhiệt độ cao hơn bất kỳ khu vực nào có cùng vĩ độ. Một ví dụ khác là quần đảo Hawaii, ở đó khí hậu có tính cận nhiệt đới và mát hơn đáng kể so với các khu vực có cùng vĩ độ nhiệt đới với nó do dòng hải lưu California gây ra. Tuy nhiên, tầm quan trọng của các dòng hải lưu cũng được làm sáng tỏ thêm bởi hiện tượng El Niño, trong đó sự đảo ngược tạm thời của dòng hải lưu sinh ra những sự thay đổi khí hậu có tính khắc nghiệt hơn dọc theo bờ biển phía tây Nam Mỹ. Các hiệu ứng của El Niño trải rộng đến tận nước Úc.
Các dòng hải lưu bề mặt nói chung được lưu thông bởi gió và có xu hướng chảy theo các xoắn ốc cùng chiều kim đồng hồ ở bắc bán cầu và ngược chiều kim đồng hồ ở nam bán cầu do hiệu ứng Coriolis. Trong các dòng hải lưu chuyển động bởi gió thì hiệu ứng xoắn ốc Ekman làm cho dòng chảy tạo ra một góc nào đó so với hướng gió.
Các dòng hải lưu sâu được lưu thông do các độ chênh lệch (gradient) của mật độ và nhiệt độ. Luân chuyển nhiệt muối, còn được gọi là "băng tải đại dương", được dùng để chỉ các dòng hải lưu sâu chảy trong lưu vực dưới đáy các đại dương. Các dòng lưu chuyển này chảy sâu dưới đáy biển và do đó khó phát hiện và đôi khi còn được gọi là các con sông ngầm dưới đáy biển.
Các dòng hải lưu đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình di cư và phân tán của các sinh vật.
 
16.Khái quát về các khối khí
-Khối khí nóng hình thành trên các vùng có vĩ độ thấp,nhiệt độ tương đối cao.
-Khối khí lạnh hình thành trên các vùng có vĩ độ cao,nhiệt độ tương đối thấp
-Khối khí đại dương hình thành trên biển và đại dương và có độ ẩm lớn.
-Khối khí lục địa hình thành trên vùng đất liền.có tính chất tương đối khô.
 
17.Khí áp và các đai khí áp.
-Khí áp:Không khí tuy nhẹ nhưng vẫn có trọng lượng.Vì khí quyển rất dày nên trọng lượng của nó cũng tạo ra một sức ép lớn trên bề mặt Trái đất.Sức ép gọi là khí áp.Người ta đo khí áp bằng một dụng cụ đó là khí áp kế.Có lọa khí áp kế bằng kim loại,có loại bằng ống thủy tinh có chứa thủy ngân.
Thường thì người ta lấy chiều cao của cột thủy ngân,tính bằng milimet để chỉ khí áp.Khí áp trung bình chuẩn,ở ngang mặt biển bằng trọng lượng của cột thủy ngân có tiết diện 1cm2 và cao 160mm.Nếu cột thủy ngân dâng lên trên 760mm là áp cao còn dưới 760mm là áp thấp,người ta biểu diễn các điểm các cùng khí áp bằng đường đẳng áp.
Các khu khí áp thấp hút gió và tiếp tục đẩy không khí ẩm lên cao sinh ra mây gặp nhiệt độ thấp sẽ gây mưa.Các khu vực có khí áp thấp là nơi có lượng mưa lớn nhất trên thế giới.
Ở khu vực khí áp cao,không khí ẩm không bốc lên được,lại chỉ có gió thổi đi,không có gió thổi đến,nên mưa rất ít hoặc không có gió thổi đến,nên mưa rất ít hoặc không có mưa.Vì thế dưới các cao áp cận chí tuyến thường có những hoang mạc lớn.
 
 
 
 
18.Dòng biển
-Các dòng biển nóng thường phát sinh hai bên xích đạo,chảy về hướng Tây gặp phải lục địa chuyển hướng chảy về phía cực.
-Các dòng biển lạnh xuất phát khoảng ci tuyến 30 đến 40 độ thuộc khu vực gần bờ đông đại dương rồi chảy về phía xích đạo ,hợp với dòng biển nóng tạo thành các dòng hoàn lưu của đại dương ở từng bán cầu .Ở vĩ độ thấp hướng chayrcuar các hoàn lưu ở bắc bán cầu theo kim đồng hồ,ở bán cầu nam thì chiều ngược lại
 
 
 
Cùng nằm ven biển đại dương,nhưng nơi có dòng biển nóng chảy qua có mưa nhieeufvif không khí nóng có nhiều hơi nước,gió mang hơi nước vào lục địa gây mưa.Nơi có dòng biển lạnh đi qua thì mưa ít vì không khí trên dòng biển bị lạnh \,hơi nước không bốc lên được nên một vài nơi sát ven biển nhưng vẫn là hoang mạc A-ta-ca-ma,Na-míp.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
KIỂU KHÍ HẬU
 
 
1.Khí hậu nhiệt đới
Khu vực nhiệt đới (còn gọi là cận xích đạo) là khu vực địa lý trên Trái Đất nằm trong khoảng có đường ranh giới là hai đường chí tuyến: hạ chí tuyến ở Bắc bán cầu và đông chí tuyến ở Nam bán cầu, bao gồm đường xích đạo.
Khu vực này nằm giữa khoảng 23°26'21" vĩ bắc đến 23°26'21" vĩ nam, và bao gồm toàn bộ các phần của Trái Đất mà Mặt Trời có thể lên tới thiên đỉnh ít nhất một lần trong năm dương lịch. (Trong các khu vực ôn đới nằm về phía bắc của hạ chí tuyến và về phía nam của đông chí tuyến thì Mặt Trời không bao giờ lên tới cao độ 90°, hay ngay ở trên đỉnh đầu). Trong một số ngôn ngữ người ta sử dụng từ tropic (tiếng Anh), tropen (tiếng Đức) v.v. có nguồn gốc từ tropos của tiếng Hy Lạp mang nghĩa "trở lại", do vị trí biểu kiến của Mặt Trời dao động giữa hai chí tuyến với chu kỳ xác định độ dài của một năm.
Môi trường nhiệt đới có 4 kiểu môi trường: môi trường xích đạo ẩm, môi trường nhiệt đới, môi trường nhiệt đới gió mùa, môi trường hoang mạc.
Động vật và thực vật nhiệt đới là các loài có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới. "Nhiệt đới" đôi khi cũng được sử dụng trong ý nghĩa chung để chỉ các khu vực nóng và ẩm quanh năm, thông thường với ý nghĩa của cây cối lá rộng, tươi tốt sum sê cooxe. Tuy nhiên, có những khu vực nằm trong vùng nhiệt đới nhưng lại là không "nhiệt đới" theo ý nghĩa này, ví dụ các đỉnh núi có tuyết che phủ quanh năm, bao gồm Mauna Kea, đỉnh Kilimanjaro và dãy núi Andes cũng như xa về phía nam nhất của các phần phía bắc thuộc Chile và Argentina.
Trong sơ đồ phân loại khí hậu của Wladimir Köppen, khí hậu nhiệt đới được định nghĩa như là khí hậu phi khô cằn trong đó tất cả 12 tháng của năm có nhiệt độ trung bình trên 18 °C (64,4 °F).
 
 
 
2.Ôn đới
Ôn đới là một khu vực khí hậu nằm tại các vĩ độ từ cận kề cận nhiệt đới tới các vòng cực của Trái Đất. Miền ôn đới thể hiện các mùa một cách rõ rệt và tồn tại ở cả Bắc bán cầu lẫn Nam bán cầu. Khí hậu trong miền này biến đổi từ khí hậu hải dương với sự biến thiên nhiệt độ tương đối nhỏ và lượng giáng thủy lớn cho tới khí hậu lục địa với sự thay đổi về nhiệt độ lớn hơn và tương đối khô hơn. Về mặt khí tượng học thì phần lớn miền ôn đới có gió thịnh hành là hướng tây-đông.
Kiểu định nghĩa đơn giản nhất dựa trên các đường chí tuyến và các vòng cực, nghĩa là dựa theo vĩ độ. Theo định nghĩa này thì ôn đới có hai nửa ở hai bán cầu của Trái Đất. Miền ôn đới Bắc bán cầu nằm từ phía trên đường Bắc chí tuyến ( khoảng 23,5° vĩ bắc) tới vòng Bắc cực (66,5° vĩ bắc) còn miền ôn đới Nam bán cầu nằm từ phía dưới đường Nam chí tuyến ( khoảng 23,5° vĩ nam) tới vòng Nam cực (66,5° vĩ nam).
Các kiểu định nghĩa khác dựa vào các đường đẳng nhiệt với sự tính toán nhiệt độ trung bình của các tháng ấm nhất và các tháng lạnh nhất. Kiểu định nghĩa này phản ánh các thay đổi khí hậu chính xác hơn nhưng làm cho nó trở thành phức tạp hơn đối với những người không chuyên. Theo các định nghĩa kiểu này thì nhiệt độ trung bình hàng năm của miền ôn đới nằm ở ngưỡng khoảng 8 °C (46 °F). Do ranh giới xác định cận nhiệt đới thường được coi là nhiệt độ trung bình cả năm ở ngưỡng 20 °C; nên mọi khu vực có nhiệt độ trung bình cả năm dưới ngưỡng này đều thuộc vể hoặc là miền ôn đới hoặc là miền hàn đới.
Thông thường người ta hay chia miền ôn đới thành 3 kiểu khác nhau là ôn đới ấm, ôn đới mát và ôn đới lạnh hoặc thành khí hậu hải dương, khí hậu Địa Trung Hải và khí hậu lục địa, mặc dù các ranh giới giữa chúng nói chung là ít rõ ràng.
Đối với khu vực ôn đới ấm, có 2 định nghĩa khác nhau:
Khu vực với nhiệt độ trung bình cả năm trong những tháng ấm nhất là trên 20 °C.
Khu vực với nhiệt độ trung bình cả năm trong những tháng ấm nhất là trên 10 °C, trong những tháng lạnh nhất là trên 0 °C.
Thuộc về miền này là các khu vực với nhiệt độ trung bình cả năm là dưới 0 °C và nhiệt độ trung bình trong các tháng ấm nhất là trên 10 °C. Tất cả các khu vực với nhiệt độ trung bình trong các tháng ấm nhất dưới 10 °C đều thuộc về miền hàn đới.
Thảm thực vật trong miền ôn đới chủ yếu bao gồm rừng cây lá kim, rừng hỗn hợp và rừng gỗ cứng. Tuy nhiên, trong khu vực gần giữa đại lục còn có các thảo nguyên đồng cỏ cũng như các sa mạc và bán sa mạc.
Lượng giáng thủy hàng năm thông thường được coi là đủ, với chiều giảm dần từ phía tây sang phía đông do tính chất của khí hậu lục địa tăng dần lên. Tuy nhiên lượng giáng thủy này là không đủ để thâm canh ngũ cốc. Để gieo trồng ngũ cốc theo kiểu thâm canh cần phải bổ sung thêm nước nhờ thủy lợi.
 
3.Đới khí hậu cận cực
Đới khí hậu cận cực tạo thành một dải hẹp nằm ở phía Nam đới khí hậu cực. Giới hạn của đới này gần trùng với vòng cực Bắc. Trong đới này có sự thay đổi khối khí theo mùa: mùa đông là khối khí cực lục địa, còn mùa hạ là khối khí ôn đới ấm và ẩm hơn. Thời tiết giữa hai mùa phân biệt khá rõ rệt. Mùa đông rất lạnh, nhất là các vùng nằm sâu trong lục địa do sự biến tính của gió thổi từ Đại Tây Dương. Nhiệt độ trung bình tháng thay đổi từ -40 °C đến -50 °C ở vùng Trung và Đông Siberi. Màu hạ tương đối ấm, nhiệt độ trung bình tháng có thể vào khoảng 8-10 °C. Đới khí hậu cận cực có thể chia thành 3 kiểu khác nhau: Khí hậu cận cực hải dương ở phía Tây có mùa đông tương đối dịu, mùa hạ mát và ẩm ướt; Khí hậu cận cực lục địa có mùa đông rất lạnh và biên độ nhiệt giữa hai mùa lớn nhất trên Trái Đất; Khí hậu cận cực hải dương phía Đông tương tự như ở phía Tây nhưng có mùa đông lạnh hơn và thường có gió Bắc hoặc Đông Bắc, còn mùa hạ có gió Đông Nam.
 
 
4.Các chí tuyến và các vòng cực trên trái đất
Trên bề mặt Trái đất có chí tuyến Bắc và chí tuyến Nam.
-Các chí tuyến và các vòng cực là những đường ranh giới phân chia bề mặt Trái đất ra làm 5 vòng đai nhiệt song song với xích đạo.Đó là:vòng đai nóng,hai vòng đai ôn hòa,hai vòng đai lạnh
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
MỘT SỐ THẢM HỌA THIÊN NHIÊN TIÊU BIỂU TRONG QUÁ KHỨ
 
 
1.Trận động đất ngày 1/9/1923 ở vùng Kanto-Nhật Bản
Vào lúc 11 giờ 58 phút 32 giây giờ địa phương ngày 1 tháng 9 năm 1923, một trận động đất mạnh 7,9 độ Richter đã xảy ra ở vị trí 35,1 vĩ độ Bắc - 139,5 kinh độ Đông, dưới đáy biển, cách bờ vịnh Sagami (tỉnh Kanagawa) khoảng 80 km về phía Tây Bắc.
Thời điểm xảy ra động đất đúng vào lúc người Nhật nấu cơm trưa. Thời đó, nhiều căn nhà của người Nhật còn làm bằng gỗ. Đổ vỡ nhà cửa và rơi đồ đạc vào lúc này khiến cho hỏa hoạn xảy ra ở nhiều nơi. Người ta đã ghi nhận lại 136 điểm hỏa hoạn. Cũng thời gian đó, một trận bão đang tiến gần tới bán đảo Noto, gây ra gió mạnh khắp vùng Kantō, làm cho hỏa hoạn lan nhanh và kéo dài suốt 2 ngày sau.
Số người chết và mất tích: 142.800 người
Số người bị thương: 103.733 người
Số người phải đi sơ tán: trên 1,90 triệu người
Số căn nhà bị hỏng hoàn toàn do động đất: 128.266 căn
Số căn nhà bị hỏng một phần: 126.233 căn
Số căn nhà bị thiêu cháy toàn bộ hoặc một phần: 447.128 căn
Số nhà bị hư hại khác: 868 căn
Trận động đất mạnh đã khiến những công trình nặng như tượng Daibutsu ở Kamakura nặng 98 tấn bị rơi cách vị trí của nó 2 feet.
Hỗn loạn gây ra hoang mang và đẻ ra những tin đồn. Báo chí Nhật Bản càng làm cho những tin đồn này tưởng như thật. Nhiều vụ cướp bóc để tích trữ xảy ra. Bộ Nội vụ Nhật Bản đã phải ban hành chế độ thiết quân lập để lập lại trật tự. Có tin đồn rằng kiều dân Triều Tiên ở Nhật Bản nhân thời cơ người Nhật khốn khó mà cướp bóc. Điều này đã dẫn tới nhiều vụ hành quyết kiều dân Triều Tiên.
Ngày 1 tháng 9 trở thành Ngày Phòng chống Thảm họa của Nhật Bản.
 
 
                                                  
 
 
2.Động đất ở thành phố Kobe-Nhật Bản ngày 17/1/1995
Động đất Kobe 1995 . hay Động đất lớn Hanshin  là trậnđộng đất xảy ra vào thứ 3 ngày 17 tháng 1 năm 1995 lúc 05:46 giờ Nhật bản ở phía nam tỉnh Hyōgo, Nhật Bản. Trận động đất có độ lớn 6,8 theoCục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ,[1] và 7,3 theo thang độ lớn sửa đổi củaCơ quan Khí tượng Nhật Bản (thang cũ là 7,2) .[2] Các chấn động kéo dài khoảng 20 giây. Chấn tiêu nằm bên dưới chấn tâm 16 km,[2] ở phía nam của đảo Awaji, cách thành phố Kobe 20 km.
Có khoảng 6.434 người bị thiệt mạng (ước tính vào ngày 22 tháng 12 năm 2005); trong đó khoảng 4.600 ở Kobe. Trong số các thành phố bị ảnh hưởng, Kobe có dân số khoảng 1,5 triệu, nằm gần chấn tâm nhất và chịu ảnh hưởng rung động mạnh nhất. Đây là trận động đất tồi tệ nhất ở Nhật Bản kể từ động đất Kanto 1923 với khoảng 140.000 thiệt mạng. Trận động đất gây thiệt hại khoảng 10.000 tỷ yên bằng khoảng 2,5% GDP của Nhật Bản lúc đó, tương đương khoảng 102,5 tỷ USD theo tỷ giá ngoại tệ 500 ngày sau đó (97,545 yên ăn 1 USD).
Đây là trận động đất đầu tiên có cường độ trên 7 theo thang cường độ shindo của cơ quan Khí tượng Nhật Bản.
Cường độ trên 7 này đo đạc được ở các đô thị của Hokudan, Ichinomiya, và Tsuna (nay là thành phố Awaji), cũng như các thành phố Kobe, Ashiya, Nishinomiya, và Takarazuka. Cường độ địa chất đã được ước tính khoảng 6 theo thang shindo tại điểm quan sát trong các thành phố Sumoto (Awaji Island), và Kobe.
Trận động đất Hanshin ảnh hưởng ra ngoài vùng Kansai. Độ lớn của nó đo đạc được khoảng 5 theo thang shindo ở các thành phố Kyoto, Hikone (tỉnh Shiga), và Toyooka (tỉnh Hyōgo). Trận động đất còn ảnh hưởng đến cả Fukui, Gifu, Mie, Osaka,Nara, Wakayama, Tottori, Okayama, Hiroshima, Tokushima, Kagawa, và Kōchi, các nơi đây ghi được cường độ là 4 theo thang shindo.
Chấn động Mj 7,3 xảy ra lúc 05:46 JST vào sáng ngày 17 tháng 1 năm 1995, kéo dài 20 giây. Trong khoảng thời gian này mặt đất chuyển động 18 cm theo chiều ngang và 12 cm theo chiều đứng. Các chuyển động mạnh này là do chấn tiêu nằm gần bề mặt và tâm chấn nằm rất gần Kobe.
Có 4 chấn động nhỏ bắt đầu với cường độ lớn nhất Mj 3,7 vào lúc 18:28 của ngày trước đó. Trong vòng 5 tuần có khoảng 50dư chấn (lớn hơn hoặc bằng 4,0 Mj ) được ghi nhận.
Đến ngày 23 tháng 5 năm 1995: có tổng cộng 1983 dư chấn, cảm nhận được 249.
Đến 31 tháng 10 năm 1995: có tổng cộng 2309 dư chấn, cảm nhận được 302.
Đến 31 tháng 10 năm 1996: có tổng cộng 2522 dư chấn, cảm nhận được 408.
 
 

 
 
3.Trận động đất tại vùng Tohoku-Nhật Bản ngày 11/3/2011
Động đất và sóng thần Tōhoku 2011 là một trận động đất mạnh 8,9 MW ngoài khơi Nhật Bảnxảy ra lúc 05:46 UTC (14:46 giờ địa phương) vào ngày 11 tháng 3 năm 2011.Trận động đất có vị trí tâm chấn nằm cách ngoài khơi bờ biển phía Đông bán đảo Oshika, Tōhoku 72 kilômét (45 mi) tại độ sâu 32 kilômét (20 mi). Cơ quan Khí tượng Nhật Bản ghi nhận cường độ mạnh nhất của thảm họa ở mức 7[1 tại miền Bắc tỉnhMiyagi, mức 6 tại các tỉnh khác và mức 5 tạiTōkyō.
Trận động đất đã gây ra sóng thần lan dọc bờ biểnThái Bình Dương của Nhật Bản và ít nhất 20 quốc gia, bao gồm cả bờ biển phía Tây của Bắc và Nam Mỹ. Sóng thần cao đến 38,9 m đã đánh vào Nhật Bản chỉ vài phút sau động đất, tại một vài nơi sóng thần tiến vào đất liền 10 km (6 mi).
Cơ quan Cảnh sát Quốc gia Nhật Bản đã chính thức xác nhận có 15.790 người thiệt mạng, 5.933 người bị thương và 4.056 người mất tích tại 18 tỉnh của Nhật Bản và hơn 125.000 công trình nhà ở bị hư hại hoặc phá hủy hoàn toàn. Trận động đất và sóng thần đã gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng tại quốc gia này, bao gồm những hư hỏng nặng nề về đường bộ và đường sắt cũng như gây cháy nổ tại nhiều khu vực, kèm theo một con đập bị vỡ. Khoảng 4,4 triệu hộ gia đình rơi vào tình trạng mất điện và 1,5 triệu hộ bị mất nước. Nhiều nhà máy phát điện đã ngưng hoạt động, và ít nhất 3 vụ nổ lò phản ứng do rò rỉ khí hydro đã xảy ra tại nhà chứa các lò phản ứng khi hệ thống làm mát bị hỏng hoàn toàn. Ngày 18 tháng 3, ôngYukiya Amano, người đứng đầu Cơ quan Nguyên tử Quốc tế đã cho biết cuộc khủng hoảng này "cực kì nghiêm trọng". Mọi cư dân trong phạm vi bán kính 20 km (12 mi) từ nhà máy điện hạt nhân Fukushima I và 10 km (6 mi) từ nhà máy điện hạt nhân Fukushima II đã phải sơ tán. Ngoài ra, chính quyền Hoa Kỳ khuyến cáo công dân của họ phải di tản cách các nhà máy điện 80 km (50 mi).
Theo các ghi chép về cường độ động đất, đây là trận động đất mạnh nhất từng xảy ra ở Nhật Bảnvà là một trong năm trận động đất mạnh nhất thế giới từ khi các thiết bị ghi nhận được sử dụng từ năm 1900.. Đây được cho là sự va đậpkiến tạo lớn nhất giữa Bắc Mỹ và Thái Bình Dươngtrong 1.200 năm. Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan tuyên bố: "Trong vòng 65 năm từ sau Thế chiến thứ II, đây là cuộc khủng hoảng khó khăn và gay go nhất mà Nhật Bản phải đối mặt." Trận động đất đã di chuyển đảo Honshu 2,4 m về phía Đông và làm lệch trục Trái Đất khoảng 10 cm. Ước tính thiệt hại lúc đầu tại những nơi bị ảnh hưởng của Nhật Bản vào khoảng từ 14,5 đến 34,6 tỉ USD. Ngày 14 tháng 3, Ngân hàng Nhật Bản đã rót 15.000 tỉ ¥ (183 triệu USD) vào hệ thống ngân hàng để giảm thiểu ảnh hưởng thị trường tài chính. Ngày 21 tháng 3, Ngân hàng Thế giới ước tính thiệt hại lên vào khoảng 122 đến 235 tỉ USD. Chính phủ Nhật Bản cho biết tổn thất do động đất và sóng thần tàn phá miền Đông Bắc có thể lên đến 309 tỉ USD. Đây là kỉ lục thế giới về thiệt hại do thiên tai gây ra.
Dịch chuyển của mảng kiến tạo Thái Bình Dương và mảng Bắc Mỹ tại rãnh Nhật Bản với tốc độ 8cm/năm qua quãng thời gian lâu dài đạt một mức độ đủ lớn làm đứt gãy liên kết giữa hai mảng này dẫn đến sự trượt lên nhau của hai mảng. Mảng Thái Bình Dương đâm xuống phía dưới, mảng Bắc Mỹ trượt lên trên. Kết quả là sự sụt lở và sự trồi lên của đáy biến tạo nên động đất và sóng thần
 
Trước đó vào ngày 9/3 ở khu vực này đã có trận động đất 7,2 Mw và 3 dư chấn có độ lớn trên 6,0; và nhiều chấn động có độ lớn trên 5 trong ngày 10/3. Một phút trước khi ảnh hưởng của động đất được cảm nhận ởTokyo, hệ thống cảnh báo sớm động đất được liên kết từ hơn 1.200 địa chấn kế ở Nhật Bản đã gởi tín hiệu cảnh báo lên trên truyền hình về nguy hiểm của trận động đất đến hàng triệu người. Điều này là có thể vìsóng S, truyền với tốc độ 4 km/s, mất khoảng 90 giây trên quãng đường 373 km đến Tokyo. Cảnh báo sớm từ JMA được tin là đã cứu sống nhiều người.
Trận động đất xảy ra phía Tây Thái Bình Dương, cách phía Đông của thành phốSendai, Honshu, Nhật Bản 130 km. Tâm chấn cách Tokyo 373 kilômét (232 mi). Dư chấn có độ lớn 7,1 Mw xảy ra sau chấn động chính 40 phút. Có hơn 40 dư chấn có độ lớn từ 5 Mw trở lên được ghi nhận chỉ trong vài giờ sau chấn động chính.
Ban đầu Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ báo độ lớn trận động đất là 7,9 nhưng sau đó hiệu chỉnh lại là 8,8 và 8,9 Mw.
JMA đánh giá rằng các dư chấn của trận động đất này rất mạnh, tính đến thời điểm 12 giờ ngày 16 tháng 3, 2011 số dư chấn lớn hơn 7,0 là 3, và số dư chấn lớn hơn 6,0 là 48. Dư chấn đã xảy ra trên phạm vi rộng thuộc địa phận bờ biển các tỉnh Iwate, Miyagi, Fukushima, và Ibaraki.
Tác động địa lý Theo Viện Địa chất và Núi lửa Quốc gia của Ý, sức mạnh to lớn của trận động đất đã di chuyển trụcTrái Đất khoảng 25 cm (9,8 in). Sự sai lệch này đã dẫn đến một số thay đổi nhỏ của hành tinh, bao gồm cả độ dài của một ngày và độ nghiêng về phía xích đạo của Trái Đất. Do sự phân phối lại khối lượng Trái Đất, tốc độ quay của Trái Đất tăng lên, một ngày bị rút ngắn lại 1,8 micro giây .
Báo cáo của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ cho biết đảo Honshu, hòn đảo chính của Nhật Bản, đã dịch chuyển 5 m về phía Đông, làm Nhật Bản gần thêm với Hoa Kỳ.Nhà nghiên cứu Lucy Jones nói về dữ liệu chính xác như sau: "Người Nhật có thông tin chính xác nhất thế giới về địa chấn. Đây là trận động đất với độ lớn áp đảo nhất từng được ghi nhận."
Shinmoedake, một ngọn núi lửa ở Kyushu, đã phun trào hai ngày sau trận động đất. Ngọn núi lửa này đã phun trào lần cuối vào tháng 1 năm 2011. Vẫn chưa xác định được lần phun trào mới đây có liên quan đến trận động đất hay không.
Năng lượng Trận động đất đã giải phóng một năng lượng bề mặt 1,9±0,5×1017 jun, được phân tán bằng năng lượng rung lắc và sóng thần, gần gấp đôi năng lượng giải phóng bề mặt của trận động đất và sóng thần Ấn Độ Dương 2004 đã giết chết 230000 người (26,3 megaton). "Nếu chúng ta có thể chỉ khai thác năng lượng (bề mặt) từ trận động đất này, nó sẽ cung cấp điện cho thành phố cỡ Los Angelestrong một năm", McNutt nói trong một cuộc phỏng vấn. Tổng năng lượng được giải phóng, cũng được biết như tại thời điểm địa chấn (M0) là hơn 200000 lần năng lượng bề mặt và được tính toán bởi USGS ở 3,9×1022 jun. Năng lượng này tương đương với 9.320 gigaton TNT, thấp hơn một chút động đất Ấn Độ dương 2004 (9560 gigaton hay 4,0×1022 jun) hoặc xấp xỉ 600 triệu lần năng lượng của bom hiroshima. Viện nghiên cứu quốc gia cho khoa học trái đất và phòng chống thiên tai Nhật Bản (NIED) đã tính toán một tải trọng động đất (PGA) ở 2,99 g (29.33 m/s²). Ghi nhận riêng lẻ lớn nhất trong Nhật Bản là 2,7 g tại tỉnh Miyagi, 75 km từ tâm chấn; ghi chép cao nhất trong khu vực đô thị Tokyo là 0,16 g.
Trận động đất tạo ra sóng thần dọc bờ biển phía Thái Bình Dương của Nhật Bản và hơn 20 quốc gia khác như New Zealand, Australia, Russia, Guam, Philippines, Indonesia, Papua New Guinea, Nauru,Hawaii, quần đảo Bắc Mariana (Mỹ), Đài Loan; Bắc, Trung và Nam Mỹ như Hoa Kỳ, Mexico,Nicaragua, Costa Rica và Peru.
Trận động đất xảy ra vận động trồi lên từ 5 đến 8 mét của lớp địa chất trải dài 180 km dưới đáy biển, ở vị trí ngoài khơi cách bờ biển Đông Tōhoku 60 km. Kết quả là một cơn sóng thần lớn tiêu hủy mọi thứ dọc theo bờ biển Thái Bình Dương của quần đảo phía Bắc Nhật Bản, gây thiệt hại hàng ngàn sinh mạng và tàn phá toàn bộ các tỉnh trong khu vực bị ảnh hưởng. Sóng thần lan truyền khắp Thái Bình Dương, hành động cảnh báo cũng như sơ tán diễn ra nhanh chóng ở nhiều nước có chung biên giới bờ biển Thái Bình Dương, gồm Bắc và Nam Mỹ, từ Alaska đến Chile. Tuy nhiên, dù sóng thần có ảnh hưởng lên nhiều vùng trong những khu vực trên nhưng chỉ gây ra tác động tương đối nhỏ. Vùng bờ biển Thái Bình Dương của Chile là là nơi cách xa Nhật Bản nhất, vào khoảng 17.000 km, chỉ chịu ảnh hưởng sóng thần cao 2 m. Trong khi tại Tarō, Iwate, sóng thần ước tính cao đến 37,9 mét. Sóng thần cao 10 m được quan sát ở sân bay Sendai, gần bờ biển củatỉnh Miyagi.
 
Tại Nhật Bản Nơi khác quanh Thái Bình Dương Ngay sau trận động đất, Trung tâm Cảnh Báo Sóng thần Thái Bình Dương (PTWC) lập tức đưa tin về khả năng sóng thần và cảnh báo các khu vực ở Thái Bình Dương. Vào 07:30 UTC, PTWC đưa ra cảnh báo sóng thần trên diện rộng bao phủ toàn Thái Bình Dương. Trung tâm Cảnh báo Sóng thần Bờ Tây và Alaska của Hoa Kỳ đã phát động cảnh báo sóng thần đối với các vùng ven biển gần như toàn bộ bang California, toàn bang Oregon và phần phía Tây của bang Alaska, đồng thời dự báo sóng thần đổ bộ tại bờ biển Thái Bình Dương của Alaska cùng toàn bang Washington, British Columbia, Canada. Tại tiểu bang California và Oregon, sóng thần lên đến 2,4 m đánh vào một số khu vực, làm hư hại cầu cảng và bến cảng, gây thiệt hại hơn 10 triệu USD. Tại Hawaii, ước tính riêng thiệt hại cho cơ sở hạ tầng công cộng khoảng 3 triệu USD, cùng thiệt hại tài sản cá nhân ước tính khoảng hàng chục triệu USD.  Sóng thần cao 1 m đổ bộ vào đảo Vancouver ở Canada.
Thạm họa do động đất và sóng thần Tōhoku gây ra đối được người Nhật gọi chung là Đại thảm họa động đất Đông Nhật Bản .Trận động đất và sóng thần đã gây mức thương vong nặng nề. Hơn 12 nghìn người đã được xác nhận là bị thiệt mạng. Trận động đất và sóng thần gây ra nhiều thiệt hại ở mức độ và quy mô rất lớn, chủ yếu là từ sóng thần. Những đoạn phim quay cảnh thị trấn bị ảnh hưởng tồi tệ nhất cho thấy không gì hơn là những đống gạch vụn, và hầu như không có kết cấu nào còn đứng vững được. Ước tính chi phí của thiệt hại cũng vào hàng chục tỷ đô la Mỹ, thậm chí Ngân hàng Thế giới dự tính có thể lên đến 235 tỉ. Những hình chụp trước và sau trận động đất từ vệ tinh cho thấy thiệt hại rộng lớn tại những vùng bị tàn phá. Mặc dù Nhật Bản đã ​​đầu tư khoảng hàng tỷ USD vào hệ thống đê chắn sóng thần chạy dài ít nhất 40% trong 34.751 km (21.593 dặm) đường bờ biển quốc gia, với độ cao lên đến 12 m, nhưng sóng thần chỉ đơn giản tràn qua đỉnh của một số đê chắn và làm đổ đê.
Thương vong Cơ quan Cảnh sát Quốc gia Nhật Bản đã xác nhận số người thiệt mạng lên đến 15.790 người, 5.933 người bị thương và 4.056 người mất tích tại 18 tỉnh.[69] Những con số này dự báo sẽ tăng lên đáng kể.
Chính quyền các tỉnh và hãng thông tấn Kyodo, theo nguồn tin từ các chính quyền địa phương, cho biết hiện chưa có tung tích của 9.500 người tại thị trấn Minamisanriku thuộc tỉnh Miyagi (khoảng phân nửa cư dân thị trấn). Đài NHK tường thuật rằng chỉ riêng số người thiệt mạng ở tỉnh Iwate đã có thể lên đến 10.000 người.
Tổ chức Cứu Trẻ em đưa nguồn tin có khoảng 100.000 trẻ em đã phải từ bỏ khỏi nhà cửa hư hại, trong số đó có những đứa trẻ bị tách rời khỏi gia đình do trận động đất xảy ra vào ngày học trong tuần.
Ngày 14 tháng 3, hãng thông tấn Kyodo đưa tin 2.000 thi thể nạn nhân đã được tìm thấy dọc bờ biển tỉnh Miyagi.
Có nguồn tin tức về bốn chuyến tàu chở một lượng hành khách chưa xác định đã biến mất ở vùng ven biển trong cơn sóng thần. Một trong những chiếc tàu thuộc tuyến Sensaki đã được tìm thấy vào buổi sáng trong tình trạng trật đường ray. Toàn bộ hành khách đều được trực thăng cảnh sát cứu sống. Sau đó, tạp chí Der Spiegel đăng tải thông tin về 5 chuyến tàu mất tích tại tỉnh Miyagi đã được tìm thấy, tất cả hành khách đều an toàn. Mặc dù nguồn tin này có thể không xác nhận được từ phía địa phương.
Ngày 11 tháng 3, dịch vụ tìm người qua mạng của Google, trước đây từng được sử dụng trong các trận động đất ở Haiti, Chile, và Christchurch, New Zealand, đã thu thập thông tin về những người sống sót và vị trí của họ. Dịch vụ tìm kiếm người thân phi lợi nhuận NOKR đang hỗ trợ chính phủ Nhật Bản trong việc tìm những thân nhân mất tích hoặc đã chết của người dân.
Thiệt hại ở nhà máy điện hạt nhân Các nhà máy điện hạt nhân Fukushima I, Fukushima II, Onagawa và Tōkai với tổng cộng 11 lò phản ứng, đã tự ngưng hoạt động sau trận động đất. Nhà máy điện hạt nhân Higashidōri, cũng trên bờ biển phía Đông Bắc, đã tạm ngưng để kiểm tra chu kỳ hoạt động. Làm mát là công việc cần thiết để giảm bớt nhiệt lượng phân rã trong nhiều ngày sau khi nhà máy đã ngưng hoạt động. Quá trình làm mát được trang bị máy phát điện diesel khẩn cấp, như trong trường hợp của nhà máy tái chế nhiên liệu hạt nhân Rokkasho.  Sóng thần tại Fukushima I và II đã vượt qua đê chắn đồng thời phá hủy hệ thống máy phát điện diesel dự phòng, dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng tạo nên hai vụ nổ lớn tại nhà máy Fukushima I gây rò rỉ phóng xạ. Hơn 200.000 người đã được sơ tán. Ngày 16 tháng 3, báo cáo cho biết những cơn gió tích cực đã thổi các phân tử phóng xạ từ các sự cố ra biển, giảm thiểu những hiệu ứng tiêu cực. Trước nguy cơ lớn từ các nhà máy, máy bay trực thăng đã cố đổ nước vào nhà máy Fukushima I trong nỗ lực làm mát các lò phản ứng.
Ngày 15 tháng ba, Günther Oettinger, ủy viên hội đồng năng lượng Châu Âu người Đức, trong một tuyên bố tại Nghị viện châu Âu đã gọi thảm họa hạt nhân là "ngày tận thế". Ông cho biết từ này là sự lựa chọn đặc biệt chính đáng nhất, và Tokyo đã gần như mất quyền kiểm soát tình huốn tại các nhà máy điện Fukushima.
Chính phủ Anh và Mỹ đã khuyên công dân của họ xem xét việc rời khỏi Nhật. Mỹ và Úc cũng cũng khuyên nên ở cách nhà máy Fukushima I 80 km (50 dặm). Các nhà chức trách tại Anh, Đức và Úc đề nghị công dân của họ rời Tokyo. Pháp, Bỉ và Na Uy khuyên công dân của họ rời khỏi Nhật Bản.
Nhà máy điện Fukushima I và II  
Nhật Bản tuyên bố tình trạng khẩn cấp sau sự hư hỏng của hệ thống làm mát ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima I, dẫn đến việc di tản của người dân sống gần đó. Các quan chức của Cơ quan An toàn Hạt nhân và Công nghiệp Nhật Bản báo cáo rằng mức độ phóng xạ bên trong nhà máy lên tới 1.000 lần mức bình thường, và mức độ phóng xạ bên ngoài nhà máy gấp 8 lần mức bình thường. Sau đó, tình trạng khẩn cấp cũng đã được tuyên bố ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima II khoảng (cách khoảng 11 km về phía Nam). Điều này đã nâng tổng số lò phản ứng có vấn đề lên 6, hai trong số đó (lò phản ứng 1 và 3) tại nhà máy Fukushima I có hiện tượngnóng chảy hạt nhân gây rò rỉ phóng xạ.
        Ngày 12 tháng 3, một vụ nổ lớn với nguyên do được quy cho sự tích tụ khí     hydro đã thổi bay mái và tường ngoài nhà chứa lò phản ứng số 1, giải phóng một đám mây lớn bụi và hơi nước, nhưng lò phản ứng chính vẫn không bị hư hỏng trong vụ nổ.
Ngày 13 tháng 3 (JST), chính quyền Nhật thừa nhân lò phản ứng số 1 và số 3 có hiện tượng nóng chảy hạt nhân bên trong do nhiệt độ cao. Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Nhật Bản thông báo rằng sự cố Fukushima được đánh giá ở mức 4 trên mức từ 0-7 của Thang Sự cố Hạt nhân ''Quốc tế'' (INES), mức độ nghiêm trọng chỉ thua sự cố nhà máy điện hạt nhân Đảo Ba Dặm củaMỹ. Cơ quan an toàn hạt nhân ASN của Pháp cho rằng tai nạn xảy ra có thể được xếp loại 5 hoặc 6, điều này có nghĩa là mức độ nghiêm trọng chỉ có thể bằng hoặc thâm chí là hơn sự cố Đảo Ba Dặm.  Ngày 18 tháng 3, Cơ quan an toàn hạt nhân Nhật Bản nâng mức độ nghiêm trọng lên mức 5.
Ngày 14 tháng 3, sau 11 giờ (JST), một vụ nổ xảy khác xảy ra tại lò phản ứng số 3 của nhà máy Fukushima I.[  Bức tường bên ngoài của tòa nhà bị sụp đổ. Phát ngôn viên của chính phủ cho biết lò phản ứng không bị hư hỏng. Sau 16 giờ 30 cùng ngày (JST), Cơ quan An toàn Hạt nhân và Công nghiệp Nhật Bản thông báo đã xảy ra vụ nổ. Người dân địa phương được các nhà chức trách khuyến cáo ở nhà cho đến khi tình hình phóng xạ của môi trường được làm sạch hoàn toàn. Không giống như 5 lò phản ứng khác, lò phản ứng số 3 vận hành bằng urani và oxit plutoni hỗn hợp (hay nhiên liệu MOX hỗn hợp), khiến nó có khả năng nguy hiểm hơn dựa trên các hiệu ứng neutrondo phản ứng plutoni gây ra, bên cạnh đó là những tác động gây ung thư trong trường hợp phóng xạđược thải ra môi trường. Công ty Điện lực Tokyo (TEPCO) đang nỗ lực giảm áp suất trong các nhà máy bằng cách thải hơi nước ô nhiễm trong các lò phản ứng vào khí quyển. Theo Tomoko Murakami, nhóm năng lượng hạt nhân tại Viện Kinh tế Năng lượng Nhật Bản, điều này sẽ không dẫn đến việc phát phóng xạ đáng kể. Những cư dân sống trong bán kính 20 km từ nhà máy Fukushima I cùng các cư dân trong phạm vi 3 km từ nhà máy Fukushima II đều được sơ tán.
Ngoài ra, trước đó đã có báo cáo rằng các thanh nhiên liệu của lò phản ứng số 2 tại nhà máy Fukushima I nhô ra khỏi nước hoàn toàn, và tình trạng tan chảy của những thanh nhiên liệu cùng với nguy cơ tổn thương mạch lò phản ứng không loại trừ khả năng gây rò rỉ phóng xạ. Tính đến ngày 14 tháng 3, khoảng 160 người đã tiếp xúc với phóng xạ ở mức độ nguy hiểm gần các nhà máy điện hạt nhân. Một nhân viên nhà máy đã thiệt mạng, 8 người khác bị thương. Thêm 11 nhân viên khác bị thương khi lò phản ứng số 3 phát nổ. Nhiều người đã bị phơi nhiễm phóng xạ. Ngày 15 tháng 3, lúc 06:10 (JST), một vụ nổ xảy ra tại lò phản ứng số 2 của nhà máy Fukushima I. Bên ngoài nhà máy đã phát hiện mức phóng xạ "vượt quá giới hạn cho phép". Theo Công ty Điện lực Tokyo, nhà chịu trách điều hành của nhà máy, mức phóng xạ lúc 08:31 (JST) đã tăng lên đến 8,217 millisievert (mSv)/giờ. Một vụ nổ thứ tư tại lò phản ứng số 4 gây rung chuyển khu vực nhà máy Fukushima I vào cùng ngày. Mức phóng xạ đo được gần lò phản ứng là 400mSv/giờ, trong khi 100 mSv/năm được coi là mức độ an toàn.
Lính thủy hải quân Hoa Kỳ kiểm tra mức độ phóng xạ sau khi làm nhiệm vụ.
Khi tiến hành nhiệm vụ tìm kiếm và giải cứu, trên đường quay lại hàng không mẫu hạm neo ngoài khơi 160km (99 dặm), một đội cứu trợ của Hải quân Mỹ đã phải di chuyển khỏi khu vực gần đó sau khi máy bay trực thăng của họ dò ra mức phóng xạ. Chỉ trong thời gian khoảng một giờ, máy bay hấp thụ lượng bức xạ nền mặt đất tương đương trong một tháng. Ngày 15 tháng 3, mức phóng xạ ở Tokyo lên đến 20 lần mức bình thường. Mức cao nhất trong vùng Kanto gấp 40 lần mức bình thường tại Saitama nhưng sau đó giảm dần đến 10 lần mức bình thường. Các quan chức địa phương bảo đảm với công chúng rằng đây không phải là mức đe dọa sức khỏe con người.
Trưa ngày 15 tháng 3 (JST), Nhật Bản đình chỉ mọi hoạt động tại nhà máy Fukushima I sau khi sự gia mức độ tăng phóng xạ đã khiến cho những công nhân ở lại nhà máy có thể đối mặt với nguy hiểm.[131] Tuy nhiên, công nhân đã trở lại khoảng một giờ sau đó sau khi mức phóng xạ giảm. Tính đến ngày 16 tháng 3, năm công nhân nhà máy đã chết và 22 người khác bị thương. Hai người khác được báo cáo mất tích. Chính phủ đã nâng mức độ phơi nhiễm phóng xạ theo an toàn tiêu chuẩn quốc gia từ 100 lên 250 mSv/năm. Do đó, công nhân nhà máy có thể tiếp tục làm việc.
Sáng ngày 16 tháng 3, phóng xạ Cesi với 58 Bq/kg nước và Iot với 177 Bq/kg nước đã được phát hiện trong nước máy ở thành phố Fukushima. Ngày 19 tháng 3, chính phủ Nhật Bản thông báo rằng phóng xạ Iot được phát hiện trong nước máy lấy mẫu ngày 18 tháng 3 tại Toshigi, Gunma,Tokyo, Chiba, Saitama, và Niigata; phóng xạ Cesi tại Tochigi và Gunma. Nhưng tất cả chỉ trong giới hạn cho phép của đất nước.
Nhà máy điện Onagawa Hãng thông tấn Kyodo News cho biết đã có vụ cháy ở phần tuabin của nhà máy điện Onagawa sau trận động đất. Ngọn lửa phát ra trong nhà chứa các tuabin, nằm cách biệt với các lò phản ứng của nhà máy[ và đã nhanh chóng được dập tắt..
Ngày 13 tháng 3, Công ty Điện lực Tokyo (TEPCO) thông báo tình trạng báo động ở mức thấp nhất do chỉ số phóng xạ hiện thời đã vượt quá mức cho phép trong khu vực nhà máy. TEPCO khẳng định điều này là do phóng xạ từ sự cố nhà máy điện Fukushima I chứ không phải từ nhà máy Onagawa phát ra.\
Nhà máy điện Tōkai Lò phản ứng số 2 tại nhà máy điện hạt nhân Tōkai đã tự ngưng hoạt động. Ngày 14 tháng 3, đã có báo cáo rằng một máy bơm hệ thống làm mát cho lò phản ứng này đã ngưng làm việc. Tuy nhiên,Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Nhật Bản cho biết có một máy bơm hoạt động dự phòng duy trì hệ thống làm mát, nhưng hai trong số ba máy phát điện diesel để chạy hệ thống làm mát đã ngưng hoạt động.
Cảng Tất cả các cảng của Nhật Bản phải đóng cửa một thời gian ngắn sau trận động đất, mặc dù những cảng ở Tokyo và phía Nam đã sớm hoạt động trở lại. Các cảng phía Đông Bắc của Hachinohe, Sendai, Ishinomaki và Onahama đã bị phá hủy. Trong khi đó cảng Chiba (phục vụ ngành công nghiệp dầu khí) và cảng hàng hóa lớn thứ 9 của Nhật Bản tại Kashima cũng bị ảnh hưởng nhẹ. Các cảng ởHitachinaka, Hitachi, Soma, Shiogama, Kesennuma,Ofunato, Kamashi và Miyako cũng bị hư hỏng và được dự kiến ​​sẽ phải ngưng hoạt động hàng tuần. Cảng Tokyobị hư hại nhẹ, trận động đất làm khói bốc lên từ một tòa nhà tại đó và một phần của cảng bị ngập nước, hòa lẫn với đất bùn ở bãi giữ xe công viên Disneyland Tokyo.   Vỡ đập Đập thủy lợi Fujinuma ở thành phố Sukagawa bị vỡ, gây ra lũ lụt và cuốn trôi nhà cửa. Tám người mất tích và bốn thi thể được phát hiện vào buổi sáng hôm sau. Được biết, một số người dân địa phương đã cố gắng sửa chữa rò rỉ của đập trước khi nó hoàn toàn bị hư hại. Ngày 12 tháng 3, 252 đập nước đã được kiểm tra, trong đó phát hiện 6 đập lớn đã có vết nứt nông ở phía trên. Các hồ chứa dạng đập bê tông trọng lực bị nghiêng không đáng kể. Tất cả các đập bị hư hại vẫn đang hoạt động không có sự cố. Bốn đập trong khu vực động đất chưa thể tiếp cận được. Khi giao thông thông thoáng trở lại, các chuyên gia sẽ được cử đến để tiến hành điều tra.
Nước Hư hại đường ống nước ở bờ biển Bắc Nhật Bản sau sóng thần.
Ngay sau khi tai họa xảy ra, có báo cáo ít nhất 1,5 triệu hộ gia đình bị mất nước. Đến ngày 21 tháng 3, con số này đã giảm xuống còn 1,04 triệu hộ.
    Điện Theo Công ty Điện lực Tōhoku, khoảng 4,4 triệu hộ gia đình ở vùng Đông Bắc Nhật Bản bị mất điện. Một số nhà máy điện thông thường và nhà máy điện hạt nhân đã ngừng hoạt động sau trận động đất. Ngày 14 tháng 3, việc cắt điện được tiến hành do tình trạng thiếu điện do trận động đất gây ra. Công ty Điện lực Tokyo (TEPCO), với khả năng cung cấp điện thông thường khoảng 40 GW điện, thông báo rằng hiện chỉ có thể phân phối khoảng 30 GW. Điều này do 40% lượng điện sử dụng tại vùng Tokyo mở rộng là từ các lò phản ứng ở tỉnh Niigata và Fukushima cung cấp. Các lò phản ứng tại nhà máy điện Fukushima I và II đã tự ngưng hoạt động ngay sau khi cơn động đất đầu tiên xảy ra và đã bị hư hỏng nặng do động đất và đợt sóng thần đến liền sau đó. Việc cắt điện ba giờ mỗi ngày dự kiến ​​sẽ kéo dài đến cuối tháng 4 tại Tokyo và các tỉnh Kanagawa, Shizuoka, Yamanashi,Chiba, Ibaraki, Saitama, Tochigi, Gunma. Việc những người dân tự nguyện giảm sử dụng điện tại vùng Kanto đã giúp giảm bớt tần suất và thời lượng cúp điện dự tính.
Công ty điện lực Tōhoku (TEP) hiện không thể cung cấp thêm điện cho vùng Kanto, vì các nhà máy điện của TEP cũng bị hư hại trong trận động đất. Công ty Điện lực Kansai (Kepco) không thể chia sẻ điện, bởi vì hệ thống của Kepco hoạt động ở tần số 60 Hz, trong khi đó hệ thống của TEPCO và TEP vận hành ở tần số 50 Hz. Điều này là do sự phát triển cơ sở hạ tầng và công nghiệp vào đầu những năm 1880 đã khiến Nhật Bản không có mạng điện quốc gia thống nhất. Hai trạm biến áp, một ở tỉnh Shizuoka và một ở Nagano, có thể thay đổi các tần số và chuyển điện từ Kansai để đến Kanto và Tōhoku, nhưng khả năng thực hiện việc này chỉ giới hạn đến 1 GW. Với sự thiệt hại của nhiều nhà máy điện, có thể mất hàng năm để miền Đông Nhật Bản phục hồi lại mức sản xuất điện trước đây.
 
Dầu, than và khí đốt Nhà máy lọc dầu Cosmo với công suất 220.000 thùng mỗi ngày đã bốc cháy sau trận động đất tại Ichihara, tỉnh Chiba, phía ĐôngTokyo. Trong khi đó, các nhà máy khác phải tạm ngưng sản xuất do thiếu điện và an toàn hạn chế. Ngày 14 tháng 3, tạiSendai, một nhà máy lọc dầu với công suất 145.000 thùng mỗi ngày thuộc sở hữu của tập đoàn dầu khí lớn nhất Nhật Bản, JX Nippon Oil & Energy cũng bốc cháy sau trận động đất. Trong khi các quan chức của JX Nippon Oil & Energy mong muốn dập tắt đám cháy thì cảnh báo sóng thần đã kìm hãm những nỗ lực đó vì mọi công nhân đã đi sơ tán.
Một nhà phân tích ước tính rằng tiêu thụ các loại dầu có thể tăng đến 300.000 thùng mỗi ngày, vì phải hỗ trợ nhiên liệu đốt hóa thạch cho các nhà máy điện dự phòng để bù lại sự thiếu hụt 11 GW công suất điện hạt nhân của Nhật Bản.
Vị thế tự túc xăng dầu của Sendai đã bị phá hủy hoàn toàn, và nguồn cung cấp bị tạm hoãn lại cho đến ít nhất một tháng.
Ba tàu chở than đã bị sóng thần làm hư hại tại các bến cảng của Nhật Bản.
Giao thông Thiệt hại trên tuyến đường tàu cao tốc Tōhoku Shinkansen.
Mạng lưới giao thông của Nhật Bản bị gián đoạn nghiêm trọng. Nhiều đoạn đường cao tốc Tōhoku hoạt động ở miền Bắc Nhật Bản đã bị hư hại. Tất cả các dịch vụ đường sắt bị hoãn lại ở Tokyo, với ước tính khoảng 20.000 người mắc kẹt tại các trạm chính trên toàn thành phố. Phải mất hàng giờ sau trận động đất, vài dịch vụ đường sắt mới được nối lại. Hầu hết các đường tàu ở Tokyo hoạt động trở lại ngay ngày hôm sau (12 tháng 3). 20.000 du khách mắc kẹt qua đêm 11-12 tháng 3 trong công viên Tokyo Disneyland.
Một đợt sóng thần đã làm ngập sân bay Sendai khoảng 1 giờ sau khi trận động đất đầu tiên xảy ra. Sân bay Narita và Haneda đều ngưng hoạt động sau khi trận động đất. Trong khoảng 24 giờ, hầu hết các chuyến bay đều chuyển hướng tới sân bay khác. Mười máy bay chở khách đến Haneda được chuyển hướng đến gần căn cứ không quân Yokota (Hoa Kỳ).
Nhiều dịch vụ đường sắt khác xung quanh Nhật Bản cũng bị hoãn lại. Công ty đường sắt Đông Nhật Bản đình chỉ tất cả các hoạt động trong cả ngày. Bốn chuyến tàu trên các tuyến đường ven biển bị mất tích. Trong số đó có một chuyến tàu bốn toa thuộc tuyến Senseki đã được tìm thấy trong tình trạng trật đường ray. Tất cả hành khách đều được giải cứu trước 8 giờ sáng (JST) hôm sau.
Ở trong và ngoài Tokyo, hệ thống tàu cao tốc Shinkansen không có có chuyến nào bị trật đường ray, nhưng hoạt động của hệ thống này vẫn bị đình chỉ. Tuyến đường cao tốc Tōkaidō Shinkansen hoạt động trở lại vào cuối ngày nhưng có hạn chế, và trở lại lịch trình thông thường vào ngày hôm sau. Trong khi tuyến Jōetsu và Nagano Shinkansen trở lại hoạt động vào cuối ngày 12 tháng 3. Tuy nhiên, tuyến Tōhoku Shinkansen vẫn phải ngưng vận hành do thiệt hại nặng nề về đường dây. Tình trạng của các tuyến đường sắt tại những vùng khó tiếp cận vẫn chưa xác định được. Ngày 15 tháng 3, hoạt động của tuyến Tōhoku Shinkansen đã phục hồi một phần, phục vụ một chuyến khứ hồi mỗi giờ giữa Tokyo và Nasu-Shiobara.
Truyền thông Dịch vụ điện thoại di động và điện thoại cố định bị gián đoạn chủ yếu trong khu vực bị ảnh hưởng.Tại những nơi cơ sở hạ tầng cơ bản vẫn còn, các dịch vụ Internet phần lớn không bị tác động mặc dù trận động đất đã làm hư hỏng vài phần của hệ thống cáp ngầm dưới biển được lắp đặt tại khu vực bị ảnh hưởng. Các hệ thống này có thể định tuyến lại xung quanh các phân đoạn bị hư hỏng vào liên kết dự phòng. Tại Nhật Bản, ban đầu chỉ có một vài trang web không thể truy cập được. Một số nhà cung cấp điểm truy cập không dây (Wifi hotspot) đã phản ứng với trận động đất bằng cách cung cấp đường truyền miễn phí qua mạng của họ.
Trung tâm vũ trụ Cơ quan Vũ trụ ''Nhật Bản'' (JAXA) đã sơ tán Trung tâm Vũ trụ Tsukuba thuộc tỉnh Ibaraki. Trung tâm Vũ trụ Tsukuba đã đóng cửa cùng một số thiệt hại được báo cáo. Trung tâm này là trụ sở của một phòng điều khiển đóng vai trò là một bộ phận của Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS).
Ảnh hưởng kinh tế Cơn chấn động lập tức có tác động mạnh mẽ lên những doanh nghiệp như Toyota, Nissan và Honda. Các tập đoàn này đều phải ngừng toàn bộ hoạt động sản xuất tự động đến 14 tháng 3.
Ngày 14 tháng 3, với nỗ lực nhằm duy trì sự ổn định thị trường tài chính, Ngân hàng Nhật Bản đã tiếp thêm 15 tỉ ¥ vào thị trường tiền tệ để đảm bảo ổn định tài chính trong bối cảnh cổ phiếu sụt giảm và nguy cơ tín dụng gia tăng. Sau khi Ngân hàng Nhật Bản thiết lập một nguồn lực đặc biệt khẩn cấp để đảm bảo khả năng thanh toán cho những hậu quả của thiên tai, thống đốc Masaaki Shirakawa và hội đồng quản trị của ngân hàng cũng mở rộng chương trình mua trái phiếu chính phủ cho các quỹ giao dịch trao đổi với số tiền là 10 triệu ¥. Những người đứng đầu Ngân hàng Nhật Bản cho biết sẽ tiếp tục bơm tiền mặt khi cần thiết.
Tổng thư ký nội các Yukio Edano cho biết chính phủ Nhật Bản sẽ triệu tập vào ngày 13 tháng 3 để đánh giá những tác động kinh tế của thảm họa. Ông cũng nói với đài NHK rằng khoảng 200 tỉ ¥ còn trong ngân sách dành chotài khóa hợp nhất (kết thúc vào ngày 31 tháng 3) sẽ được sử dụng để tài trợ cho các nỗ lực hồi phục tức thời. Các biện pháp bổ sung cũng có thể làm tổn thương nợ công của Nhật Bản (hiện đang đứng cao nhất thế giới). Điều này có thể gây ảnh hưởng xấu đến nhu cầu trái phiếu chính phủ.
Các nhà phân tích kinh tế khẳng định rằng, cuối cùng thì các thảm họa sẽ cải thiện nền kinh tế của Nhật Bản, với cơ hội việc làm gia tăng dựa trên những nỗ lực phục hồi nền kinh tế. JPMorgan Chase đưa ra phân tích dựa trên trận động đất San Francisco 1989 và động đất Northridge 1994, với nội dung chỉ ra rằng những thảm họa tự nhiên "sau cùng sẽ thực sự làm tăng sản xuất". Một nhà phân tích của tổ chức tài chính châu Âu Société Générale đưa ra dự đoán rằng nền kinh tế Nhật Bản sẽ suy giảm vào tháng 3 nhưng sẽ hồi sinh mạnh mẽ ở những tháng tiếp theo. Sau trận động đất Kobe 1995, sản lượng công nghiệp giảm 2,6%, nhưng tăng 2,2% vào tháng sau đó, và 1% nữa trong tháng tiếp theo. Kinh tế Nhật Bản sau đó tăng tốc đáng kể suốt hai năm liền, và cao hơn tỉ lệ tăng trưởng trước đây. Cũng có nhiều người khẳng định rằng điều này có hại cho nền kinh tế, và các phân tích trên lại trở thành con mồi cho những tranh cãi về mặt tích cực dựa trên mặt tiêu cực của thảm họa này.
Như một hậu quả trực tiếp của trận động đất, chỉ số Nikkei của thị trường cổ phiếu Nhật Bản đã trượt 5% giao dịch kì hạn trong phiên giao dịch sau thị trường.  Ngân hàng Nhật Bản cho biết sẽ làm hết sức mình để đảm bảo ổn định thị trường tài chính.
Các thị trường chứng khoán khác trên thế giới cũng bị ảnh hưởng. Chỉ số DAX của Đức giảm 1,2% và rơi xuống còn 6.978 điểm trong vòng vài phút. Chỉ số Hằng Sinh của Hồng Kông đã giảm 1,8%, trong khi chỉ số Kospi của Hàn Quốc trượt xuống 1,3%. Đến cuối giao dịch ngày thứ sáu, chỉ số MSCI chấu Á Thái Bình Dương đã giảm xuống 1,8%.Các chỉ số thị trường chứng khoán chính của Mỹ tăng từ 0,5% đến 0,7%.Giá dầu cũng giảm do hậu quả của việc đóng cửa nhà máy lọc dầu Nhật Bản, không kể bạo lực đang diễn ra tại Libya và các cuộc biểu tình dự kiến ​​ở Ả Rập Saudi. Tại Hồng Kông, bộ trưởng tài chính Tằng Tuấn Hoa đã cảnh báo các nhà đầu tư "tuyệt đối cẩn trọng" vì trận động đất có thể có tác động ngắn hạn trên từng thị trường chứng khoán địa phương.
    Chính phủ Thủ tướng Naoto Kan công bố chính phủ đã huy động Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản đến những vùng chịu thảm họa động đất khác nhau.[  Ông yêu cầu công chúng Nhật Bản bình tĩnh hành động đồng thời theo dõi nhiều thể loại phương tiện truyền thông để cập nhật tin tức. Ông cũng cho biết nhiều nhà máy điện hạt nhân đã tự ngưng hoạt động để ngăn ngừa thiệt hại và rò rỉ phóng xạ. Thủ tướng Naoto Kan còn thành lập một bộ chỉ huy khẩn cấp đại diện ông dàn xếp những phản ứng của chính quyền.
Những khu tạm trú đang phải đối mặt với tình trạng thiếu nước uống, thực phẩm, chăn màn và tiện nghi tắm rửa, trong khi chính phủ đang cố sắp xếp những thứ thiếu yếu gửi đến nơi cần thiết sớm nhất có thể, từ những vùng khác nhau của Nhật Bản và từ nước ngoài. Nhiệt độ giảm do sự hư hỏng đường dây điện và khí đốt gây ra những vấn đề nan giải hơn tại các nơi tạm trú. Tính đến ngày 17 tháng 3, 336.521 người Nhật đã được di dời khỏi nhà cửa để sang định cư ở những nơi khác, trong đó bao gồm 2.367 khu tạm trú.
Nhật đã cử một đội tìm kiếm và cứu hộ khẩn cấp đến New Zealand để hỗ trợ khi trận động đất Christchurch 2011 xảy ra.
Công dân Phóng viên trên đài NBC của Mỹ bày tỏ: "Đạo đức xã hội Nhật Bản thật đáng kinh ngạc. Không hề có bất cứ đề cập nào liên quan đến cướp bóc hay bạo lực. Tất cả mọi người đều xếp hàng chờ đợi đến lượt vào cửa hàng. Nhân viên cửa hàng rất lịch sự và tử tế." Thái độ này được cho rằng có nguồn gốc từ sự kiên trì và nhẫn nại của người Nhật.
Một phóng viên tờ nhật báo Globe and Mail của Canadaviết: "Khi những thảm họa xảy ra liên tiếp chất chồng lên nhau, người Nhật đã thể hiện sự tuân thủ theo chỉ dẫn của chính quyền, đó cũng là khát vọng của quốc gia mong muốn thấy được công dân vẫn cư xử đúng mực trong bất kì tình huống nào." Việc không có nạn cướp bóc và rối loạn xảy ra không chỉ do tính nhẫn nại của người Nhật, mà còn do pháp luật khuyến khích sự lương thiện, do sự hiện diện của lực lượng cảnh sát đông đảo và do ba phe cánh lớn của tổ chức tội phạm Yakuza thay phiên tuần tra lãnh địa.
Tuy nhiên, một số người chịu thiệt hại bởi trận động đất bắt đầu đặt nghi vấn về những nỗ lực của chính phủ trong việc cung cấp thực phẩm, quần áo, điện, nhiệt, và các dịch vụ điện thoại. Chánh văn phòng nội các Yukio Edano sau đó đã nói: "Do nhận thức chậm trễ, lẽ ra chúng ta đã có thể tiến hành sớm hơn nữa việc đánh giá tình hình và phối hợp tất cả thông tin lại để đưa ra tin tức nhanh hơn."
Mười ngày sau trận động đất, bắt đầu xuất hiện báo cáo về các sự cố cướp bóc và trộm cắp tại những khu vực chịu ảnh hưởng của trận động đất và sóng thần. Tính đến ngày 20 tháng 3, công anh tỉnh Miyagi đã có thống kê về 250 vụ trộm cắp, với lượng hàng hóa trị giá 4,9 triệu ¥ bị đánh cắp từ các cửa hàng và 5,8 triệu ¥ tiền mặt. Các nhân chứng cho biết kẻ trộm ăn cắp tiền mặt và sổ tiết kiệm từ những ngôi nhà bị hư hại, cướp bóc hàng hóa từ các cửa hàng và dùng ống siphon dẫn nhiên liệu từ các xe bị bỏ rơi hoặc bị hỏng.
Yakuza Yakuza - những tổ chức xã hội đen người Nhật - là những người đầu tiên gửi hàng cứu trợ đến các cho nạn nhân.
    Yêu cầu trợ giúp Nhiều đội cứu hộ đặc biệt đã được cử đến Nhật Bản từ những quốc gia như Anh, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, New Zealandvà Úc;Cơ quan Vũ trụ Nhật Bản (JAXA) yêu cầu tổ chức đặc quyền của Cơ quan Vũ trụ châu Âu cho vệ tinh nhanh chóng truyền hình ảnh các vùng gặp thiên tai đến những tổ chức cứu trợ.
    Sự quan tâm của thế giới Nhật Bản đã nhận được những thông điệp chia buồn và lời yêu cầu được trợ giúp từ một loạt các nhà lãnh đạo quốc tế. Ngày 19 tháng 3, Bộ Ngoại giao Nhật Bản cho biết có 128 quốc gia và 33 tổ chức quốc tế đã cung cấp hỗ trợ cho Nhật Bản. Liên minh châu Âu cũng rất sẵn sàng đưa ra trơ giúp; chủ tịch Hội Đồng châu Âu, ông Herman Van Rompuy đã nói: "Một trận động đất đủ cường độ làm lắc lư trục Trái Đất, một đợt sóng thần khổng lồ và tình trạng khẩn cấp của những nhà máy điện hạt nhân. Bất cứ thứ gì trong số kể trên đều là một tấn thảm kịch. Hàng ngàn người chết đã khiến thảm kịch trở thành thảm họa." Hai mươi quốc gia thành viên đã đề nghị hỗ trợ thông qua Cơ chế Bảo vệ Dân sự của châu Âu.
New Zealand đã gửi một đội cứu hộ mà trong ba tuần trước đó đã tìm kiếm các tòa nhà sau trận động đất tại Christchurch, và 15 tấn dụng cụ cứu trợ.
Úc đã gửi tàu khu trục HMAS Sydney và tàu đổ bộ hạng nặng HMAS To
uk chở máy bay trực thăng, các đội kỹ sư và y tế của Lục quân Úc.
Hoa Kỳ đã di chuyển một số tàu hải quân đến gần Nhật Bản với mục đích cứu trợ, kể cả hàng không mẫu hạm Ronald Reagan. Đức gửi các chuyên gia cứu hộ từ Technisches Hilfswerk. Anh cũng gửi 70 nhân viên cứu hộ đến Nhật Bản, kể cả 2 chó cứu hộ, một đội hỗ trợ y tế và 11 tấn dụng cụ cứu hộ. Hàn Quốc cử 5 nhân viên cứu hộ và 2 chó cứu hộ đến Nhật Bản,và thêm sau đó là 102 nhân viên cứu hộ.
Nhật Bản cũng yêu cầu công ty khí đốt Gazprom của chính phủ Nga thêm khí đốt, và công ty đang tìm cách đưa hai thuyền chở 150.000 tấn khí đốt hiện đang trong hợp đồng đến Nhật Bản. Giới chức Nga cho biết sẽ gửi một chiếc máy bay trực thăng Mi-26 cùng với 50 nhân viên cứu hộ để tìm kiếm những người sống sót, và hứa sẽ hỗ trợ thêm. Iran cũng đưa một đội cứu trợ của Hội Lưỡi liềm Đỏ Iran đến Nhật Bản
Tổng thống Trung Hoa Dân quốc Mã Anh Cửu yêu cầu chính phủ trợ giúp Nhật Bản 100 triệu Tân Đài tệ (khoảng 3,3 triệu USD). Một đội cứu hộ gồm 28 người cũng đã đến Nhật Bản vào ngày 14 tháng 3. Thêm vào đó, một đội y tế cũng sẳn sàng đi đến Nhật Bản. Một số tổ chức chính phủ và từ thiện khác cũng đã quyên góp để hỗ trợ Nhật Bản.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã gửi 167.000 USD để hỗ trợ Nhật Bản, cùng với một đội cứu hộ gồm 15 người. Thủ tướng Campuchia Hun Sen đề nghị chính phủ gửi 100.000 USD cho Nhật Bản. Malaysia gửi một đội cứu hộ, cùng với các bác sĩ và phụ tá y tế. Singapore gửi một đội cứu hộ.[247] Afghanistan tặng Nhật Bản 50.000 USD; một con số đáng kể trong khi nước này đang phục hồi sau chiến tranh. Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố chính phủ Việt Nam đã quyết định trợ giúp nhân dân Nhật Bản 200.000 USD để góp phần khắc phục hậu quả Ngày 14 tháng 3, Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản đã thiết lập kênh thông tin hỗ trợ các gia đình Việt Nam có người thân sống và làm việc tại các vùng bị ảnh hưởng động đất và sóng thần. Cùng ngày, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cũng hưởng ứng số tiền 50.000 USD thông qua hội Chữ thập đỏ Nhật Bản.
Sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima đưa vấn đề năng lượng hạt nhân ra trực tiếp trước quốc tế, gây một cuộc biểu tình chống hạt nhân của 50.000 người tại thành phố Stuttgart của Đức, đồng thời khiến một cuộc hội thảo về nhà máy hạt nhân tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland bị hủy bỏ.
Trung Quốc là một trong những quốc gia góp phần chính trong hoạt động cứu trợ tại Nhật Bản, mặc dù đã gặp phải khủng hoảng trong cuộc động đất gần đây. Ngày 15 tháng 3, trong khi từng bước điều chỉnh mức phóng xạ trên bờ biển quốc gia do phải đối mặt với khủng hoảng nhà máy điện Fukushima, Trung Quốc đã chính thức bắt đầu sơ tán công dân của mình ra khỏi các khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất ở Nhật Bản. Ngày 16 tháng 3, Pháp cũng đã chính thức bắt đầu di tản các công dân của mình từ các khu vực ảnh hưởng nặng nề nhất, đồng thời gửi máy bay để hỗ trợ công dân của mình rút khỏi Nhật Bản. Phản ứng với nguy cơ phơi nhiễm phóng xạ, chính phủÁo đã chuyển đại sứ quán từ Tokyo đến Osaka với khoảng cách 400 km (250 dặm).
Ở nhiều nước, chính phủ và các chiến dịch viện trợ tư nhân đã được tổ chức để cung cấp tiền và hỗ trợ cho các nạn nhân và nhân dân Nhật Bản. Các trang web mua bán xã hội đã phát động chiến dịch gây quỹ trực tuyến, thu về hàng triệu đô la cho các tổ chức cứu trợ hoạt động tại Nhật Bản.
Quân đội Hoa Kỳ tổ chức chiến dịch Tomodachi nhằm mục tiêu hỗ trợ và mục tiêu nhân đạo đối với Nhật Bản.
Phạm vi truyền thông NHK, đài truyền hình chính quốc gia và vệ tinh vô tuyến của Nhật ngưng phát sóng các chương trình truyền hình thông thường để đưa tin liên tục về tình hình đang diễn ra. Nhiều đài phát sóng khác khắp nước Nhật đều không ngừng đưa tin. Bắt đầu từ ngày 12 tháng 3 năm 2011, trang web các đài vô tuyến Ustream Asia phát sóng trực thông tin trực tiếp từ đài NHK, từ hệ thống phát sóng Tokyo, đài Fuji TV, TV Asahi, TV Kanagawa và CNN trên internet. YokosoNews, một trang web phát sóng trực tuyến tại Nhật Bản, ưu tiên đưa những tin mới nhất từ các đài tin tức của Nhật thông qua việc dịch lại nội dung bằng tiếng Anh theo thời điểm hiện tại. Báo Yomiuri Shimbun (Tokyo) cho biết "việc phối hợp các hoạt động cứu trợ tại những vùng thiên tai dự kiến ​​sẽ làm tăng cường quan hệ Nhật-Mỹ.
Các phương tiện truyền thông nước khác, chẳng hạn như đài CNN, được cho là đã gieo thông tin hoang mang, phóng đại hơn, và đôi khi đưa tin về phạm vi thiệt hại của trận động đất không chính xác so với các phương tiện truyền thông Nhật Bản. Những báo cáo gieo hoang mang và không chính xác trong phương tiện truyền thông nước ngoài được quy là nguyên nhân gây ra nhiều sự lo lắng và căng thẳng hơn đối với cộng đồng người Nhật hiện đang sinh sống ở hải ngoại.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                 
 
 
 
 
4.Trận động đất tại Haiti ngày 22/1/2010
 
Động đất Haiti 2010 là trận động đất có độ lớn 7,0Mw có tâm chấn nằm cách      thủ đô Port-au-Prince của Haiti khoảng 25 km về phía tây, xảy ra vào lúc 16:53:10 hoặc 04:53:10 chiều theo giờ địa phương (21:53:10 UTC) vào thứ ba, 12 tháng 1 năm 2010, và chấn tiêu ở độ sâu 13 km. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ đã ghi nhận một loạt các dư chấn, trong số đó có 14 dư chấn có độ lớn nằm trong khoảng 5,0 đến 5,9. Hội chữ thập Đỏ quốc tế loan báo rằng có khoảng 3 triệu người bị ảnh hưởng bởi trận động đất, con số thương vong mà Chính phủ Haiti ước tính hơn 200.000 người.
Hầu hết các công trình lớn của Port-au-Prince đã bị hư hỏng hoặc bị phá hủy bao gồm Dinh tổng thống, tòa nhà Quốc hội, Nhà thờ lớn Port-au-Prince và nhà tù chính. Tất cả bệnh viện đều bị phá hủy hoặc hư hỏng nặng nên không còn sử dụng được nữa. Liên Hiệp Quốc loan báo rằng trụ sở của tổ chức này ở thủ đô Haiti (United Nations Stabilization Mission in Haiti - MINUSTAH) bị sập và số đông các nhân viên của Liên Hiệp Quốc chưa thống kê được.
Đảo Hispaniola bao gồm lãnh thổ của Haiti và Cộng hòa Dominica là nơi có hoạt động địa chấn và đã từng bị phá hủy nghiêm trọng trong quá khứ. Năm 1751, một trận động đất đã xảy ra ở đây khi nó nằm dưới sự kiểm soát của Pháp, và trận động đất khác vào năm 1770. Theo sử gia người PhápMoreau de Saint-Méry (1750–1819), "chỉ có một tòa nhà xây bằng gạch vôi là không bị sụp đổ" ởPort-au-Prince sau trận động đất ngày 18 tháng 10 năm 1751, trong khi đó "cả thành phố sụp đổ" trong trận động đất ngày 3 tháng 6 năm 1770. Một trận động đất khác ngày 7 tháng 5 năm 1842 đã phát hủy thành phố Cap-Haïtien và các thị trấn của nó ở phía bắc Haiiti và Cộng hòa Dominica. Năm 1946, trận động đất có độ lớn 8 tấn công Cộng hòa Dominca và làm rung chuyển Haiti gây ra sóng thần và làm thiệt mạng 1.790 người.
Haiti là quốc gia nghèo nhất ở phía tây bán cầu,  được xếp hạng thứ 149 trong 182 quốc gia về chỉ số phát triển con người. Người ta quan ngại về khả năng cung cấp các dịch vụ khẩn cấp khi quốc gia này đối mặt với thảm họa nghiêm trọng, và quốc gia này được xem là dễ tổn thương về kinh tếtheo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc. Trận động đất xảy ra quá bất ngờ và vì là một nước nghèo nên có rất ít bệnh viện nhưng đã bị phá hủy hết nên một số bác sĩ đã cho nạn nhân vô nhà mình trị bệnh con số bệnh nhân lên tới 100 người trong một ngôi nhà nhỏ.
Trận động đất xảy ra trên đất liền vào lúc 16:53 UTC-5ngày 12 tháng 1 năm 2010 cách Port-au-Prince khoảng 15 km về phía tây - tây nam ở độ sâu 10 kilômét (6,2 mi) trên hệ thống đứt gãy Enriquillo-Plantain Garden. Rung động mạnh với cường độ cấp VII - IX theo thang đo Mercalli cải tiến(MM) đã được ghi nhận ở Port-au-Prince và các vùng ngoại ô. Nó cũng lan truyền đến các quốc gia và vùng lãnh thổ xung quanh như Cuba (MM III ở Guantánamo), Jamaica(MM II ở Kingston), Venezuela (MM II ở Caracas), Puerto Rico (MM II - III ở San Juan), và quốc gia giáp biên Cộng hòa Dominicana (MM III ở Santo Domingo).
Chấn động xảy ra ở vùng lân cận ranh giới phía bắc giữa mảng Caribe chuyển động về phía đông với tốc độ tương đối khoảng 20 mm so với mảng Bắc Mỹ. Hệ thống đứt gãy trượt bằng trong khu vực có hai nhánh ở Haiti, đứt gãy Septentrional ở phía bắc và đứt gãy Enriquillo-Plaintain Garden ở phía nam; dữ liệu địa chấn cho thấy chấn động tháng 1 năm 2010 nằm trên đứt gãy Enriquillo-Plaintain Garden.  Các phân tích sơ bộ cho thấy rằng biên độ trượt của đứt gãy gần 4 m theo các số liệu chuyển động mặt đất được ghi nhận trên khắp thế giới.
USGS đã ghi nhận sáu dư chấn trong 2 giờ sau trận động đất chính có độ lớn 5,9, 5,5, 5,1, 4,8, 4,5, và 4,5. Trong vòng 9 tiếng sau trận động đất chính có 26 dư chấn với độ lớn từ 4,2 trở lên đã được ghi nhận với 12 trong số đó có độ lớn từ 5 trở lên.[32]
Trung tâm cảnh báo sóng thần Thái Bình Dương đã đưa ra cảnh báo sóng thần sau chấn động, nhưng đã hủy bỏ cảnh báo ngay sau đó.
Vào lúc 11:03 UTC ngày 20 tháng 1, một dư chấn mạnh, có độ lớn magnitude 5.9 Mw đã xảy ra tại Haiti. Theo USGS, chấn tâm nằm cách Port-au-Prince 56 km về phía tây-tây nam,  bên dưới thành phố Petit-Goâve. Một nhân viên Liên Hiệp Quốc nói rằng dư chấn làm sụp đổ 7 tòa nhà ở Petit-Goâve. Các nhân viên làm cho Quỹ bảo trợ trẻ em (Save the Children) nói họ nghe "các cấu trúc đã yếu đang sụp đổ"nhưng không có thiệt hại về hạ tầng đáng kể ở Port-au-Prince. Ngoài ra, thương vọng được cho là rất ít do người dân đang ngủ ở ngoài các tòa nhà.
Suốt đêm sau trận động đất, nhiều người dân ở Haiti đã ngủ trên các đường phố, trên vỉa hè, trong xe của họ hoặc trong các liều tạm do nhà của họ bị phá hủy hoặc họ sợ các tòa nhà không đứng vững bởi các dư chấn. Thậm chí Tổng thống President Préval không chắc rằng ông sẽ ngủ ở đâu sau khi nhà của ông bị phá hủy. Là một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới, các tiêu chuẩn xây dựng của Haiti được xem là thấp, và cũng giống như các quần đảo trong vùng Caribe, nước này không có các cốt xây dựng. Các kỹ sư nói rằng không có nhiều tòa nhà ở đây có thể chịu được bất kỳ loại thảm họa nào. Các công trình thường được dựng lên ở bất cứ nơi đâu miễn là thích hợp; một số tòa nhà được xây trên các sườn dốc với móng không đủ vững hoặc bằng thép. Quốc gia này cũng phải chịu tình trạng thiếu nhiên liệu và nước uống thậm chí vào thời điểm không có thiên tai.
 
 
 
 
 
5.Điểm qua các cơn bão lớn nhất trong lịch sử
Cùng điểm lại những trận siêu bão tàn phá kinh hoàng nhất trong lịch sử.
Không năm nào thế giới lại không hứng chịu những thiệt hại, mất mát về người và của do bão. Trong bối cảnh Việt Nam và các nước lân cận đang chịu ảnh hưởng nặng nề bởi 3 cơn bão số 4, 5, 6 cùng điểm lại những siêu bão kinh hoàng nhất trong lịch sử loài người được ghi nhận lại:
 
Tháng 8/1922
Bão lớn tàn phá thành phố duyên hải Shantou của Trung Quốc, cướp đi sinh mạng của khoảng 60.000 người.
 
Tháng 10/1942
Bão tấn công Vịnh Bengal, gần biên giới Ấn Độ - Pakistan làm 40.000 người chết.
 
Siêu bão Marie tháng 9/1954
Cơn bão này đổ bộ vào Nhật Bản tháng 9/1954 với sức tàn phá vô cùng lớn. Tổng số người thiệt mạng bởi siêu bão Marie là 1.361 người, ngoài ra còn có 400 người khác mất tích.
 
Siêu bão Vera tháng 9/1959
Cơn bão mạnh nhất trong lịch sử Nhật Bản đã khiến 5.098 người thiệt mạng và 38.000 người khác bị thương.
 
Tháng 5/1961
Bão lớn giết hại 11.000 người ở đông Pakistan.
Tháng 5/1963
Một trận bão tấn công bờ biển Chittagong, Bangladesh khiến ít nhất 11.500 người chết và phá hủy khoảng 1 triệu ngôi nhà.
 
Tháng 11/1970
Có tới 500.000 người mất mạng và 5 triệu người bị ảnh hưởng khi trận bão khủng khiếp nhất trong lịch sử tấn công Bangladesh.
 
Siêu bão Nina tháng 8/1975
Bão Nina hoành hành chỉ trong thời gian rất ngắn nhưng vô cùng mạnh mẽ ở Trung Quốc, đã cướp đi mạng sống của khoảng 100.000 người.
 
Tháng 11/1977
Một cơn bão đã tấn công bang Andhra Pradesh, đông nam Ấn Độ. Gió mạnh và mưa xối xả gây lụt và tạo nên các đợt sóng cao 5m làm 10.000 người chết.
 
Siêu bão ở Hải Phòng, Việt Nam tháng 10/1881
Cơn bão này đã cướp đi sinh mạng của khoảng 300.000 người dân ở Hải Phòng.
 
 
Tháng 4/1991
Trận bão kinh hoàng 02B tấn công vùng Chittagong, Bangladesh. Nó đã cướp đi sinh mạng của gần 140.000 người và phá tan hoang vùng bờ biển phía đông nam Dhaka.
 
Tháng 10/1998
Trận cuồng phong Mitch ở Trung Mỹ đã khiến hơn 18.000 người chết khi mưa xối xả gây lở đất và cuốn trôi cả các ngôi làng.
 
Tháng 10/1999
Một trận siêu bão quét qua bang Orissa ở đông Ấn Độ, giết hại ít nhất là 10.000 người và đẩy 1,5 triệu người khác vào tình trạng không nhà.
 
Tháng 5/2008
Bão Nargis tấn công Myanmar, làm chết hơn 10.000 người và khiến hàng nghìn người khác mất tích, chính quyền quân sự nước này cho hay.
Siêu bão Morakot
 
-Tháng 8/2009:Cơn bão đã gây ra lượng mưa kỉ lục tại Đài Loan, khiến lũ lụt xảy ra trên diện rộng kèm theo lở đất, làm khoảng 600 người thiệt mạng.
Siêu bão Marie tháng 9/1954
Cơn bão này đổ bộ vào Nhật Bản tháng 9/1954 với sức tàn phá vô cùng lớn. Tổng số người thiệt mạng bởi siêu bão Marie là 1.361 người, ngoài ra còn có 400 người khác mất tích.
 
 
 
 
6.Đợt siêu nắng nóng ở Châu Âu năm 2003
Mặc dù thời tiết châu Âu, đúng như dự báo thời tiết, đã bắt đầu dịu đi, song người dân cựu lục địa khó mà quên được những ngày khủng khiếp vừa qua. Chưa bao giờ sự khắc nghiệt của thiên nhiên và cách ứng xử vô trách nhiệm của con người đối với môi trường lại gây ra hậu quả nghiêm trọng như thế.
Người Pháp vừa chứng kiến một mùa hè nóng nhất kể từ năm 1949. Tại Bordeaux,
nhiệt độ lên tới 40oC. Với 3.000 người thiệt mạng do nóng, Pháp là nước chịu hậu quả nặng nề nhất về người trong cơn giận dữ của tự nhiên này. Những gìPháp phải chứng kiến trong 3 tuần qua được miêu tả là "một đại dịch". Tổ chức bác sĩ cấp cứu dự tính con số này chỉ là 100. "Giờ đây, chúng ta đã có thể khẳng định rằng những gì đang xảy ra đúng là một trận đại dịch" - Bộ trưởng Y tế Jean-Francois Mattei phát biểu trên Đài Phát thanh Pháp. Ông Mattei thậm chí còn cho biết, con số này là 5.000 chứ không phải 3.000. Nếu so với nạn nhân của chiến tranh hay dịch bệnh, nắng nóng rõ ràng không hề thua kém. Một quan chức y tế đã phải từ chức dưới áp lực do con số tử vong gây ra. Tổng giám đốc y tế Pháp, Lucien Abenhaim, đã phải từ chức khi áp lực của dư luận lên Chính phủ ngày càng tăng cao (người dân chỉ trích gay gắt cách đối phó của Chính phủ đã để quá nhiều người chết).
Nhiệt độ tại Paris đã giảm xuống còn 30oC so với 40oC hồi đầu tuần. Nhiệt độ trung bình vào tháng 8 tại thành phố này là 23oC. Dự báo thời tiết khu vực Tây Âu cho thấy tín hiệu mát lành này cũng sẽ đến đối với các nước đang oằn mình vì nóng như Anh, Đức và Tây Ban Nha trong vài ngày tới.
Bồ Đào Nha là nước chịu hậu quả lớn nhất về của: 54.000 ha rừng biến mất trong vụ cháy rừng lớn nhất hơn 20 năm qua tại nước này, vụ cháy được gọi là thảm hoạ quốc gia. Ngoài ra, 11 người chết, hàng trăm người phải sơ tán. 3.000 lính cứu hoả và hàng chục máy bay chữa cháy đã được huy động để vật lộn với hơn 70 đám cháy hoành hành dọc khu vực biên giới miền trung, bắc và đông bắc đất nước. Chính quyền Lisbon thậm chí đã phải kêu gọi NATO giúp đỡ. Tại Tây Ban Nha, nước có tiếng là có mùa hè nóng nực, nhiệt kế đã chỉ 46oC (so với 40oC hàng năm), một chỉ số chưa từng có trong lịch sử. Cháy rừng cũng hoành hành tại một số vùng ở miền Nam và miền Trung nước này. Ít nhất 7 người thiệt mạng.
Tại Anh, nhiệt độ cao nhất lên tới 38oC, một điều chưa từng có tại quốc đảo sương mù. Tốc độ xe lửa được hạn chế bởi người ta lo sợ đường ray sẽ bị oằn cong do nóng. Tại Berlin, Đức, cái nóng 40oC đã giết chết 5 người. Nhiều tuyến đường sắt phải ngừng hoạt động. Lính cứu hoả đang vật lộn với đám cháy rừng gần thành phố, đe doạ làm nổ kho vũ khí trong khu vực quân sự của Liên Xô cũ. Các dòng sông lớn như sông Rhine đã cạn kiệt, 80% diện tích hoa màu trong một số khu vực chịu nắng nóng đã bị tàn phá. Đất nước Địa Trung Hải tươi đẹp Italia cũng không thoát khỏi cơn giận dữ của tự nhiên: Nhiều vùng bị cắt điện, nhu cầu chạy máy điều hoà nhiệt độ đã vượt quá cầu. Các khu rừng tại thành phố Genoa và một số khu vực khác đã bốc cháy. Dòng sông Po với lưu lượng khổng lồ hiện đã giảm mực nước. Thậm chí tuyết và sông băng trên những ngọn núi cao nhất đang tan với tốc độ chóng mặt.
Nông dân trồng nho dự đoán sẽ có một mùa bội thu, nhưng những người trồng hoa quả và rau xanh thì đang thất vọng. Sản lượng lúa mì và sữa cũng sẽ giảm mạnh. Giá thịt gà đã tăng hơn 35% tại Tây Ban Nha. 2 triệu gia cầm đã chết tại Pháp và Tây Ban Nha.
3 giải thuyết mà giới khoa học đưa ra là: quy luật tự nhiên, hiện tượng thời tiết bất thường và hiệu ứng nhà kính. Một số nhà khoa học khác lại cho rằng, Trái Đất luôn phải trải qua các chu kỳ nóng, lạnh và hiện tượng nắng nóng bất thường năm nay ở châu Âu không phải là ngoại lệ.
Tuy nhiên, nguyên nhân thuyết phục hơn cả là: hiện tượng xoáy nghịch. Không khí nóng vốn bao trùm tiểu vùng Sahara đã dịch chuyển về phía lục địa. Lượng khí thải của con người dưới tác dụng của tia nắng mặt trời đã thật sự phát huy tác hại khi gặp dòng xoáy nghịch. Hoạt động gió mùa dữ dội hơn tại khu vực châu Phi - tiểu vùng Sahara đã mang không khí nóng từ sa mạc tràn qua châu Âu và ngăn chặn dòng khí mát từ Đại Tây Dương đổ vào lục địa, ngăn cản sự hình thành của các đám mây dẫn đến việc thiếu mưa trầm trọng ở châu Âu.
Qua đó, có thể thấy: ngoài quy luật tự nhiên, nguyên nhân sâu xa, không ai khác, chính là do con người. Theo ước tính, lượng khí nhà kính trong khí quyển đã lên đến 7 tỷ tấn, một con số dĩ nhiên chưa từng có ở bất kỳ giai đoạn nào trong lịch sử phát triển của Trái Đất. Một thông tin khiến người ta không khỏi hoang mang: đây không phải là đợt nắng nóng cuối cùng. Giáo sư khí tượng học Martin Béniston thuộc trường đại học Fribourg (Thuỵ Sĩ) còn tiên đoán nhiệt độ 35-45oC sẽ không còn cá biệt tại châu Âu trong 30 năm cuối của thế kỷ 21 do hiệu ứng nhà kính chưa có điểm dừng.
Nhiều nhà khí tượng học cho rằng, việc nhiệt độ tăng lên tới mức kỷ lục như năm nay phần lớn là do cách ứng xử vô trách nhiệm của con người đối với môi trường. Nguyên nhân sâu xa được xem là hiệu ứng nhà kính, hậu quả của cách hành xử thực dụng của các nước phát triển. Lượng khí ca
on dioxide (CO2) và nhiều loại khí thải khác trong bầu khí quyển nhiều năm trước đã khiến nhiệt độ cao hơn mức bình thường 3-4oC. Trong khi chưa tìm được biện pháp hiệu quả nào, người ta phải tìm đến các giải pháp tinh thần. Câu chuyện Khổng Minh lập đàn cầu mưa xưa kia có vẻ như đang lặp lại ở xứ sở văn minh nhất hành tinh: Đức Giáo hoàng John Paul II tuần trước đã đích thân chủ trì buổi lễ cầu mưa cho châu Âu.
Trong lúc này, các nước công nghiệp hàng đầu như Mỹ, Nga, vì những tính toán thực dụng, vẫn đang thoái thác việc ký nghị định thư Kyoto quy định về việc cắt giảm lượng khí nhà kính. Từ lâu, người ta đã cảnh báo nhân loại sẽ phải gánh chịu nhiều thảm hoạ thiên nhiên do chính mình gây ra trong tương lai gần. Song cảnh báo vẫn chỉ là cảnh báo, hội nghị vẫn chỉ là hội nghị. Thảm hoạ vẫn liên tiếp xảy ra: Lũ lụt ởTrung Quốc , Pakistan , cháy rừng ở Canada ... Không biết thiên nhiên phải bộc lộ cơn thịnh nộ như thế nào thì con người mới chịu nghĩ lại?
 
 
 
 
7.Nắng nóng ở Nga
Đợt nóng kinh hoàng kéo qua Nga từ giữa tháng 6 đến nay đã gây ra tình trạng báo động ở nước này. Đây là đợt nóng mà Nga chưa từng bị trải qua trong 130 năm qua, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân và tình hình nông nghiệp.
 
Hãng tin RIA-Novosti cho biết , nhiệt độ nhiều nơi đã lên tới 44 độ C. Số trẻ bị trúng nắng và bị lột da tăng rất cao, còn người lớn bị bệnh tim và tiểu đường thì bị biến chứng trầm trọng.Đã có rất nhiều người chết đuối do rủ nhau đi tắm sông mong làm dịu cơn nóng. Nhiều người đã đi tắm trong tình trạng say mèm và bơi không nổi. Vadim Seryogin, một quan chức thuộc cơ quan Cứu trợ Khẩn cấp của Nga cho biết chỉ tính riêng trong ngày hôm qua đã có 49 người chết đuối, trong đó có cả trẻ em. Còn từ ngày 5/7 đến nay, con số này là hơn 1.200 người.
Các tai nạn xe cộ xảy ra nhiều nơi chỉ vì nhựa đường bị nóng quá đã chảy ra. Đã có 14 vùng ban bố tình trạng khẩn cấp, một số vùng còn bị thiếu nước do giếng nước bốc hơi khô cạn.
 
 
Nắng nóng còn là nguyên nhân gây ra nhiều đám hơi nước lớn bốc lên. Vụ mùa thu hoạch đông xuân của nước này đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng do thời tiết quá nóng.
Nóng nhất là vùng Trung và Nam Nga. Do khô hạn mà thêm hai chủ thể nữa có kế hoạch áp dụng chế độ tình trạng bất thường. Nắng nóng gay gắt thậm chí cả ở Yakutia, trong 3 ngày đêm sắp tới nhiệt độ ở đó lên tới mốc chưa từng thấy là 35 độ. Nhưng nặng nề nhất lúc này là vùng Dagestan (Kavkaz) nóng 44 độ C.
 
Cảnh hiếm thấy là trong các căn hộ và văn phòng xí nghiệp, máy điều hòa và quạt chạy liên tục suốt ngày đêm. Mạng lưới điện bị quá tải đến 2-3 lần.
Đó cũng là vấn đề tại vùng Volgogradsk, trong khi mực nước sông Volga đã cạn xuống hơn 2 mét. Các nhà nông học nói rằng trong cảnh nắng hạn như vậy, thậm chí tưới nước thường xuyên cũng khó cứu được mùa màng. Tại vùng Ngoại Baikal cũng đang hết sức mong mưa. Suốt từ mùa xuân đến giờ không hề có trận mưa nào. Đất thiếu ẩm đến mức cực độ. Lúa mì héo khô đến tận gốc.
Không chỉ Nga, nhiều nơi của châu Âu đang bị ảnh hưởng của đợt nắng nóng chưa từng thấy đang khiến cây cối khô héo và cháy rừng bùng phát này.
 
 
 
 
8.Động đất ngày 12/5/2008 ở Tứ Xuyên-Trung Quốc
Động đất Tứ Xuyên năm 2008  là một trận động đất xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên thuộc tây namCộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chấn tâm thuộc huyện Vấn Xuyên, Châu tự trị dân tộc Tạng, dân tộc Khương A Bá, cách Thành Đô, thủ phủ Tứ Xuyên, khoảng 90 km về phía Tây - Tây Bắc. Trận động đất này xảy ra vào lúc 06:28:01.42 UTC (14:28:01.42 giờ địa phương) ngày 12 tháng 5 năm 2008. Cơn địa chấn này có cường độ 7,8 độ Richter theo Ủy ban Địa chấn Nhà nước Trung Quốc và 7,9 Mw theo Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS) Trận động đất này đã tác động đến nhiều khu vực cách xa tâm chấn như: Bắc Kinh (cách 1500 km về phía Đông Băc),Thượng Hải (cách 1700 km về phía Đông), Pakistan, Thái Lan, và thủ đô Hà Nội của Việt Nam.
Đây là trận động đất mạnh và thảm khốc nhất xảy ra tại Trung Quốc kể từ sau trận Động đất Đường Sơn 1976, giết chết hơn 250.000 người.
Ngày 17 tháng 5 được xem là ngày kì diệu khi các nhân viên cứu hộ đã cứu sống 73 người bị chôn vùi dưới đống đủ nát vì sau 100 giờ, cơ hội sống sót là rất hiếm .
Tại Tứ Xuyên
Tại tỉnh Tứ Xuyên, số thương vong được tính như sau:
STT
Tên khu vực
Số người chết
1
Miên Dương
21,963
2
Tự Cống
2
3
Lô Châu
1
4
Quảng An
1
5
Toại Ninh
27
6
Thành Đô
4276
7
A Bá
20258
8
Đạt Châu
4
 
 
 
Sau trận động đất, Chính phủ Trung Quốc để quốc tang 3 ngày (19, 20, 21 tháng 5) để tưởng niệm vong hồn những nạn nhân của địa chấn. Các nhân viên khi đi làm chỉ được mặc hai màu trắng và đen (nam thắt cà-vạt đen), các hoạt động vui chơi giải trí bị cấm, các logo các đài truyền hình trực thuộc Trung Quốc chỉ có 2 màu đen trắng. Nhiều bà mẹ đã hạ sinh trong và sau trận động đất và đặt cho con những cái tên như Lý Chấn, Sinh Chấn, Trường Chinh,...
 
 
Động đất Tứ Xuyên 2008


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
9.Động đất và sóng thần ở Ấn Độ Dương năm 2004
Động đất Ấn Độ Dương năm 2004, được biết đến trong cộng đồng khoa học như là Cơn địa chấn Sumatra-Andaman,là trận động đất xảy ra dưới đáy biển lúc 00:58:53 UTC (07:58:53 giờ địa phương) ngày 26 tháng 12 năm 2004. Trận động đất kích hoạt một chuỗi các đợt sóng thần chết người lan tỏa khắpẤn Độ Dương, những con sóng cao 30 m (100 ft) tàn phá các cộng đồng dân cư sinh sống ven biển ở Indonesia, Sri Lanka, Ấn Độ, Thái Lan và những nơi khác, cướp sinh mạng 225 000 người thuộc 11 quốc gia. Cho đến nay, thiên tai này là một trong những thảm họa gây nhiều tử vong nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. Các phương tiện truyền thông quốc tế và người dân châu Á gọi nó là Sóng thần Á châu, trong khi tại Úc, Tân Tây Lan, Canada và Anh người ta gọi nó là Sóng thần ngày lễ Từ thiện (Boxing Day) bởi vì nó xảy ra ngay vào ngày lễ này.
Cường độ của trận động đất lúc đầu đo được 9.0 (trên thang Richter), nhưng sau tăng lên ở khoảng giữa 9.1 và 9.3. Với cường độ này, đây là trận động đất lớn thứ hai từng được ghi nhận bởi địa chấn kế, chỉ đứng sau trận động đất lớn ở Chile ngày 22 tháng 5 năm 1960 có cường độ 9.5. Cơn địa chấn Ấn Độ Dương làm rung chuyển mặt đất với cường độ 100 lần mạnh hơn trận động đất Loma Prieta xảy ra năm1989. Nó có thời gian kéo dài lâu nhất mà người ta có thể ghi nhận được, từ 500 đến 600 giây. Cường độ và độ lan tỏa của nó đủ lớn để có thể khiến tinh cầu của chúng ta dịch chuyển ít nhất là nửa inch, tức là hơn một centimeter. Nó cũng kích hoạt các trận động đất ở những khu vực khác, đến tận Alaska.
Cơn địa chấn khủng khiếp này khởi phát ở Ấn Độ Dương ngay phía bắc đảo Simeulue, ngoài khơi bờ biển phía tây của miền bắc Sumatra, Indonesia. Những đợt sóng thần sản sinh từ nó đã tàn phá vùng duyên hải Indonesia, Sri Lanka, Nam Phi, Thái Lan và những quốc gia khác với những con sóng cao đến 30 m (100 ft), gây thiệt hại nghiêm trọng và mang chết chóc đến tận bờ biển phía đông châu Phi, nơi xa nhất có ghi nhận tử vong do sóng thần là ở Cảng Elizabeth, Nam Phi, 8000 km (5.000 ml) cách xa tâm chấn.
Hoàn cảnh nguy ngập của dân chúng tại những quốc gia bị ảnh hưởng đã khiến dấy lên làn sóng trợ giúp nhân đạo trên toàn cầu.
 
 
 
 
10.Động đất ở Chile năm 2010
Trận động đất tại Chile năm 2010 xảy ra tại ngoài khơi vùng biển Maule, Chile  vào lúc 03:34 giờ địa phương (06:34 giờ quốc tế) ngày 27 tháng 2 năm 2010 với độ lớn 8,8 Mw và diễn ra khoảng 3 phút. Đây là trận động đất mạnh nhất tại Chile kể từ trận động đất mạnh 9,5 độ năm 1960 và là trận động đất mạnh nhất trên thế giới kể từ trận động đất năm 2004 tại Ấn Độ Dương.
Trận động đất có thể cảm nhận được ở thủ đôSantiago với cường độ VII (rất mạnh), cũng như ở các thành phố của Argentine, bao gồm Buenos Aires,Córdoba, Mendoza và La Rioja. Các nhân chứng cảm nhận được ở thành phố phía bắc Ica của miền nam Peru. Cảnh báo sóng thần được loan báo ở 53 quốc gia. Tổng thống Michelle Bachelet tuyên bốtình trạng thảm họa. Bà cũng xác nhận có ít nhất 708 người chết. Một số khác được cho là mất tích.
Chấn tâm của trận động đất nằm ngoài khơi bờ biển Maule Region, khoảng 8 km về phía tây của Curanipevà 115 km bắc-đông bắc của thành phố lớn thứ 2 Chile, Concepción. Các thành phố khác bị ảnh hưởng với cường độ VIII (phá hủy) gồm Arauco, Lota,Cañete và Constitución. Trận động đất cũng gây ra thủy triều giả ở hồ Pontchartrain ở phía bắc New Orleans, Hoa Kỳ, cách tâm chấn 7.600 km.[
Một dư chấn 6,2 được ghi nhận sau trận động đất chính 20  phút, và sau đó là hai dư chấn khác có độ lớn 5,4 và 5,6. USGS nói rằng "một loạt dư chấn lớn có thể xả ra sau trận động đất này".Vào lúc 10:00 tối giờ phối hợp quốc tế ngày 27 tháng 2 có 59 dư chấn độ lớn trên 5,0, trong đó có 6 dư chấn độ lớn trên 6,0 đã xảy ra.
Trận động đất độ lớn 6,9 ở ngoài khơi đã xảy ra cách đó 185 dặm về phía tây nam sau trận động đất chính khoảng 90 phút; tuy nhiên, chưa có dấu hiệu rõ ràng cho thấy mối quan hệ giữa chúng. Một trận động đất khác độ lớn 6,3 xảy ra ở Salta, Argentina, vào lúc 3:45 tối giờ phối hợp quốc tế ngày 27 tháng 2 ở độ sâu 38,2 km. Các chấn động chính sinh ra bởi trận động đất có thể cảm nhận được ở São Paulo, Brasil, cách 3.000km từ Concepción.
Ngày 5 tháng 3, người ta ghi nhận được hai dư chấn độ lớn trên M6,0. Dư chấn thứ nhất có độ lớn 6,3 ngoài khơi bờ biển vùng Bio-Bio. Dư chấn thứ 2 gần tâm chấn của trận động đất chính có độ lớn 6,6. Tính đến 8 tháng 3 có ít nhất 40 dư chấn có độ lớn > M5,0 đã được ghi nhận.
Cảnh báo sóng thần được tuyên bố đầu tiên ở vùng Chile và Peru, và theo dõi sóng thần ở Ecuador, Colombia, Antarctica,Panama và Costa Rica. Cảnh báo sau đó mở rộng ra toàn vùng Thái Bình Dương, bao gồm tất cả các vùng biển thuộc Thái Bình Dương trừ bờ biển phía tây của Hoa Kỳ, British Columbia, và Alaska. Truyền thông Hawaii thông báo cảnh báo sóng thần lúc 6  giờ sáng theo giờ địa phương. Trung tâm cảnh báo Sóng thần Hoa Kỳ đưa ra cảnh báo khả năng sóng cao dưới 1 m tấn công vào bờ biển Thái Bình Dương giữa California và hầu hết Alaska vào cuối buổi chiều đến 12 giờ sau khi trận động đất xảy ra.
Cảnh báo sóng thần được bãi bỏ ở tất cả các quốc gia trừ Nhật Bản và Nga theo PTWC Bulletin 18 vào 00:12 giờ phối hợp quốc tế ngày 28 tháng 2 năm 2010.
Nhìn chung, sóng thần có khuynh hướng tạo ra nhiều mức sóng khác nhau với đợt đầu tiên không cao.
Biên độ sóng thần lên đến 2,6 m ghi nhận được ở vùng biển Valparaíso, Chile. Sóng có biên độ 2,34 m ghi nhận được ở Talcahuano, vùng Biobío. Một số nguồn nói rằng sóng thần lớn 40 m đã tấn công vào quần đảo Juan Fernández, tiến vào sâu 667 km cách bờ biển Chile, gây thiệt hại nghiêm trọng. Tuy nhiên, thông tin này chưa có số liệu chính thức ghi nhận. Provincial Governor Ivan De La Maza nói rằng sóng lớn làm 3 người thiện mạng trên đảo, với 10 người được báo là mất tích.
Dữ liệu bên dưới từ Trung tâm cảnh báo Sóng thần Thái Bình Dương và trung tâm cảnh báo sóng thần Alaska và bờ biển Tây (Hoa Kỳ).
Trận động đất này ở Chile có cường độ gấp 500 lần trận động đất ở Haiti một tháng trước đó và gần thủ đô Santiago của Chile, tuy nhiên lại gây thiệt hại nhân mạng thấp hơn nhiều nếu so với Haiti, vìchính quyền Chile đã có những chuẩn bị chu đáo từ lâu, như là tập dượt trẻ em cách đối phó khi động đất xảy ra và luật pháp Chile yêu cầu các công trình xây dựng phải chống được động đất cũng như mạng lưới các nhân viên cứu hộ phản ứng cực nhanh .
Richard Gross, làm việc cho NASA, nói rằng trận động đất có thể đã làm thay đổi tốc độ quay của Trái Đất và làm cho ngày trên Trái Đất ngắn hơn 1,26 phần ngàn giây 
Theo Viện địa lý quân sự Chile, sau khi xảy ra vụ động đất, Chile dịch chuyển về phía tây nam ra biểnThái Bình Dương, tức là hướng ngược lại theo hướng đông bắc về phía châu Phi của lục địa Nam Mỹ.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
11.Trận động đất ở Đường Sơn năm 1976
Động đất Đường Sơn là một trận động đất xảy ra ngày 28 tháng 7 năm 1976 với tâm chấn nằm gần thành phố Đường Sơn, Hà Bắc (Trung Quốc). Đây thường được coi là trận động đất gây thương vong nhiều nhất thế kỷ 20 xếp trên cả Động đất Ấn Độ Dương 2004. Thiên tai này đã hủy diệt gần như toàn bộ thành phố công nghiệp Đường Sơn, nơi sinh sống của khoảng 1,6 triệu người Trung Quốc, theo thống kê ban đầu của Chính phủ Trung Quốc đã có 655.000 người thiệt mạng, con số này sau đó được giảm xuống còn từ 240.000 đến 255.000 người, ước tính 164.000 người khác cũng bị thương nặng vì trận động đất
Theo ghi chép thì một ngày trước khi động đất xảy ra, mực nước giếng ở một làng ngoại vi Đường Sơn đã dâng lên và hạ xuống ba lần, khí cũng thoát ra từ miệng giếng ở một làng khác vào ngày 12 tháng 7 và tăng lên trong hai ngày 25 và 26 tháng 7. Hơn nửa tháng trước sự kiện, một nhà nghiên cứu của Ủy ban động đất Trung Quốc cũng đã rút ra kết luận rằng vùng Đường Sơn có thể sẽ phải hứng chịu một trận động đất cường độ lớn trong khoảng thời gian từ ngày 22 tháng 7 cho tới ngày 5 tháng 8 sau khi ông nhận thấy rằng có nhiều dấu hiệu địa chất bất thường được báo về từ Bắc Kinh,Thiên Tân, Đường Sơn, Trương Gia Khẩu. Thông tin này đã được chia sẻ cho khoảng 60 người trong đó có một quan chức lãnh đạo của huyện Thanh Long, Tần Hoàng Đảo.
Nhận thấy mức độ nghiêm trọng của lời cảnh báo, lãnh đạo Thanh Long đã chỉ thị cho nhân dân của huyện này chuẩn bị đối phó với thiên tai. Chừng 470.000 dân của Thanh Long đã được chuẩn bị tinh thần, di tản tới nơi an toàn và huấn luyện cách đối phó với thảm họa. Quyết định này sau đó đã được đánh giá cao vì nó giúp giảm tỉ lệ thương vong với kết quả là tỉ lệ thương vong ở Thanh Long thấp hơn rất nhiều so với các huyện không được chuẩn bị khác.
Trận động đất xảy ra vào lúc 3 giờ 42 phút sáng giờ địa phương (tức 19 giờ 42 phút ngày 27 tháng 7tính theo giờ quy chuẩn quốc tế) và kéo dài trong vòng 10 giây. Số liệu đo đạc chính thức của Trung Quốc cho thấy trận động đất này có cường độ 7,8 độ Richter. Khoảng 16 giờ sau, Đường Sơn còn phải hứng chịu một đợt dư chấn có cường độ tương tự, nguyên nhân làm gia tăng con số thương vong. Các trung tâm dân cư lân cận như Tần Hoàng Đảo, Thiên Tân và thậm chí là Bắc Kinh đều phải hứng chịu thiệt hại nhẹ. Chấn động của cơn động đất đã lan tới tận Tây An nằm cách tâm chấn hơn 760 km.
Nguyên nhân đầu tiên khiến con số thương vong lên cao là vì trận động đất xảy ra vào thời điểm hầu hết mọi người đang ngủ nên họ hoàn toàn không chuẩn bị phải đương đầu với một thảm họa lớn. Hơn nữa Đường Sơn vốn được coi là một khu vực không nhạy cảm với động đất, vì vậy nhà cửa ở đây không được thiết kế kháng chấn dẫn đến sự tàn phá nặng nề đối với thành phố. 85% công trình xây dựng ở Đường Sơn bị phá hủy hoàn toàn hoặc không thể sử dụng được tiếp sau động đất. Thiệt hại kinh tế của trận động đất ước tính lên tới 10 tỷ Nhân dân tệ.
Theo thống kê ban đầu của Chính phủ Trung Quốc đã có 655.000 người thiệt mạng, con số này sau đó được giảm xuống còn từ 240.000 đến 255.000 người, con số chính thức đưa ra năm 1988 là 242.419 người, ước tính 164.000 người khác cũng bị thương nặng vì trận động đất. Một vài nguồn vẫn cho rằng con số người thiệt mạng lên tới khoảng 700.000 người.
Chính phủ Trung Quốc từ chối nhận sự trợ giúp củaLiên hiệp quốc vì muốn tự sử dụng lực lượng cứu trợ trong nước. Riêng Thượng Hải đã cử 56 đội y tế tới Đường Sơn, lực lượng Giải Phóng quân Trung Quốc cũng tham gia tích cực trong công tác cứu trợ. Đường Sơn sau đó đã được xây dựng lại hoàn toàn và ngày nay lại trở thành một thành phố công nghiệp mới với hơn 1 triệu dân.
Trận động đất Đường Sơn xảy ra trong một năm được coi là tai họa của xã hội và chính trị Trung Quốc, trước trận động đất vài tháng, Chu Ân Lai qua đời, cũng trong năm 1976 sau sự kiện Đường Sơn lần lượt tới Chu Đức và Mao Trạch Đông cũng qua đời. Các sự kiện này đã ảnh hưởng mạnh đến vị thế của Tứ nhân bang vốn trước năm 1976 vẫn được coi là có quyền lực cực lớn. Tháng 10 năm 1976 chỉ 3 tháng sau vụ động đất, Tứ nhân bang bị lật đổ và cuộc Cách mạng Văn hóa cũng chấm dứt.
 
 
 
12.Động đất ở Kashmir năm 2005
Động đất Kashmir 2005 là trận động đất lớn có chấn tâm nằm ở Azad Kashmir và ở North West Frontier Province (NWFP) gần thành phố Muzaffarabad, Pakistan. Trận động đất xảy ra vào lúc 08:52:37 giờ chuẩn Pakistan (03:52:37 UTC) ngày 8 tháng 10 năm2005. Trận động đất có độ lớn 7,6 bằng với độ lớn của các trận động đất San Francisco 1906, động đất Quetta 1935, động đất Gujarat 2001, và động đất Sumatra tháng 9 năm 2009. Vào ngày 8 tháng 11, con số thiệt mạng chính thức được chính phủPakistan thông báo là 79.000 người, trong khi các quan chức nói rằng gần 1.400 người đã chết ở Indian Kashmir và 4 người ở Afghanistan. Mức độ nghiêm trọng do trận động đất gây ra chủ yếu là mặt đất trồi lên kết hợp với kết cấu nhà yếu.
 
 
 
 
13.Động đất ở San Francisco năm 1906
Động đất San Francisco 1906 là trận động đất lớn tấn công vào San Francisco, California và bờ biển bắc California vào lúc 5:15 sáng ngày thứ 4, 18 tháng 4 năm 1906. Độ lớn trận động đất được đa số chấp nhận là 7,8 Mw; tuy nhiên, các con số theo các đề xuất khác dao động từ 7,7 đến cao nhất là 8,25. Chấn tâm nằm ở ngoài khơi cách thành phố 3 km, gần Mussel Rock. Nó gây dập vỡ dọc theo đứt gãy San Andreas về cả hướng bắc và nam với tổng chiều dài 477 km. Rung động có thể cảm nhận được từOregon đến Los Angeles, và nội địa như trung tâmNevada. Động đất và cháy nổ được xem là thảm họa tồi tệ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Tổng số người chết do động đất và cháy ước tính hơn 3.000, là con số người thiệt mạng lớn nhất do một trận động đất gây ra tại Hoa Kỳ. Ảnh hưởng kinh tế có thể so sánh với ảnh hưởng do bão Katrina gây ra.
Vào thời điểm báo cáo có 376 người chết; con số do quan chức chính phủ bịa ra, nếu công bố con số thật sẽ ảnh hưởng đến giá bất động sản và những nổ lực để xây dựng lại thành phố; thêm vào đó, hàng trăm người chết ở phố người Hoa đã bị bỏ qua và không được ghi nhận. Ngày nay, con số này được đính chính là có ít nhất 3.000 người chết. Hầu hết người chết là ở San Francisco, và có 189 người chết trong vùng vịnh; các thành phố lân cận như Santa Rosa, San Jose và Stanford cũng chịu ảnh hưởng. Ở hạt Monterey, động đất đã làm đổi hướng của sông Salinas ở gần cửa sông. Trước đây ở khu vực này, dòng sông đổ vào vịnh Monterey giữa Moss Landing và Watsonville, sau động đất nó bị đổi hướng 6 dặm từ phía nam đến một cửa mới ở gần phía bắc Marina.
Có khoảng 225.000 đến 300.000 người bị mất nhà cửa trong tổng số dân khoảng 410.000 của thành phố; phân nửa trong số dân được sơ tán đến Oakland vàBerkeley. Các tờ báo lúc đó miêu tả công viên Cổng Vàng, Presidio, the Panhandle và các bãi biển như giữa Ingleside và North Beach như được che phủ bằng lều trại (makeshift). Sau hơn hai năm (1908), nhiều trại tị nạn vẫn còn hoạt động.
Báo cáo của Lawson năm 1908, một nghiên cứu về chấn động năm 1906 được giáo sư Andrew Lawsoncủa đại học California, cho thấy đứt gãy San Andreasgây ra thảm họa ở San Francisco nằm rất gần Los Angeles. Trận động đất là thiên tai đầu tiên được dựng thành phim và đề tài của nhiếp ảnh. Hơn thế, nó xuất hiện vào lúc mà khoa học địa chấn đang phát triển nở rộ. Chi phí thiệt hại do trận động đất vào lúc đó ước tính khoảng 400 triệu USD (tương đương 6,5 tỷ USD năm 2009).
 
 
 
 
 
 
 
BỔ SUNG:CÁC ĐẶC TRƯNG TRÊN THẾ GIỚI
 
 
1.Dãy Am-Pơ
Đỉnh cao nhất của dãy núi Anpơ là đỉnh Mont Blanc với chiều cao 4810 m nằm trên biên giới giữa Pháp và Ý. Đỉnh cao nhất phần phía Đông Anpơ là đỉnh Piz Bernina, cao 4052 m.
Alps là một phần của đai kiến tạo sơn Đệ Tam gọi là đai Alpide, nó kéo dài từ miền nam châu Âu và châu Á từ Đại Tây Dương đến Himalayas. Đai dãy núi này được hình thành trong quá trình kiến tạo sơn Anpơ. Khoảng không liên tục của dãy núi này ở trung Âu ngăn cách Alps từ núi Carpathia về phía đông. Kiến tạo sơn diễn ra một cách liên tục và hoạt động hút chìm được cho là đã tạo ra khoảng trống trên.
Alps nâng lên là kết quả của quá trình va chạm giữa các mảng châu Phi và Á-Âu, theo đó phần phía tây của đại dương Tethys bị biến mất. Các đá móng bị lộ ra ở những vùng trung tâm nằm ở cao hơn, hình thành Mont Blanc, Matterhorn, và các đỉnh cao của Pennine Alps và Hohe Tauern. Sự hình thành Địa Trung Hải liên quan đến các hoạt động gần đây hơn, và không để lại dấu vết ở bờ biển bắc cỉa lục địa châu Phi.
Nhìn chung thì phần núi phía Tây cao hơn phần phía Đông, tuy nhiên tại phần trung tâm lại ngắn và nhiều vòng cung hơn phần phía Đông.
Alps được chia thành 5 đới khí hậu, với các môi trường khác nhau. Khí hậu, đời sống thực vật và động vật cũng thay đổi theo các đới hoặc vùng khác nhau của dãy núi.
                                
 
Đới trên 3.000 m được gọi là đới névé. Khu vực này có khí hậu lạnh nhất, luôn bị tuyết phủ. Đó là lý do tại sao có ít thực vật sinh sống.
Đới alpine từ độ cao 2.000 m đến 3.000 m. Đới này ít lạnh hơn đới névé. Các hoa dại và cỏ mọc ở đây.
Đới cận alpine ở độ cao từ 1.500 đến 2.000 m, gồm các rừng cây linh sam và cây vân sam vì chúng có khí hậu ôn hòa hơn.
Đới trồng trọt được phân bố ở độ cao khoảng 1.000 đến 1.500 m. Hàng triệu cây sồi mọc ở đây. Ở đới này có hoạt độ nông nghiệp phát triển.
Đới thấp nằm dưới 1.000 m. Ở đây có sự đa dạng về thực vật. Bên cạnh đó là các làng mạc
 
 
 
 
2.Dãy Hi-ma-lay-a
Himalaya (Hán-Việt: Hy Mã Lạp Sơn) là một dãy núi ở châu Á, phân chia tiểu lục địa Ấn Độ khỏi cao nguyên Tây Tạng. Mở rộng ra, đó cũng là tên của một hệ thống núi hùng vĩ bao gồm cả Himalaya theo đúng nghĩa của từ này, Karakoram, Hindu Kush và các dãy núi nhỏ khác trải dài từ Pamir Knot. Tên gọi này bắt nguồn từ tiếng Sanskrit himālaya, một tatpurusa từ kép mang ý nghĩa "nơi ở của tuyết" (từ chữ hima "tuyết", và ālaya "nơi ở"; xem thêm Himavat).
Tất cả cùng với nhau, hệ thống núi Himalaya là dãy núi cao nhất hành tinh và là nơi của 14 đỉnh núi cao nhất thế giới: các đỉnh cao trên 8.000 m, bao gồm cả đỉnh Everest. Để thấy được kích thước khổng lồ của những dãy núi trong dãy Himalaya, hãy so với Aconcagua, trong dãy Andes, với độ cao 6.962 m, là đỉnh cao nhất bên ngoài Himalaya, trong khi hệ thống núi Himalaya có trên 100 núi khác nhau vượt quá 7.200 m.
Dãy Himalaya trải khắp 5 quốc gia: Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal và Pakistan. Nó cũng là nơi khởi nguồn của 3 hệ thống sông lớn trên thế giới, đó là lưu vực các sông như sông Ấn, sông Hằng-Brahmaputra và sông Dương Tử. Khoảng 750 triệu người sống trên lưu vực của các con sông bắt nguồn từ dãy Himalaya, tính luôn cả Bangladesh.

 
 
 
3.Đỉnh E-vơ-rét
Đỉnh Everest (còn được biết đến ở Việt Nam với tên đỉnh Chomolungma) là đỉnh núi cao nhất trên trái đất khi so với mực nước biển, tính đến thời điểm hiện tại là 8.850 mét (số liệu đo được năm 1999), nhưng nó vẫn cao lên khoảng 2,5 xentimét hàng năm.[4] Đường lên đỉnh của nó là biên giới giữa Nepal và Tây Tạng (Trung Quốc).
Radhanath Sikdar, một nhà toán học Ấn Độ và một nhà đo đạc từ Bengal, là người đầu tiên xác định Everest là đỉnh núi cao nhất thế giới vào năm 1852, sử dụng các tính toán lượng giác dựa trên các đo đạc bằng theodolite từ khoảng cách xa 240 km (150 dặm) về phía bên trong Ấn Độ. Trước khi được đo đạc và đặt tên, nó được đặt tên là Đỉnh XV bởi đoàn đo đạc.
Núi Everest cao khoảng 8.848 m (29.029 ft), mặc dù có một số chênh lệch nhỏ trong các lần đo khác nhau. Núi K2 cao thứ nhì với độ cao 8.611 m (28.251 feet).
Điểm sâu nhất ở đại dương là hơn cả chiều cao của Everest: Challenger Deep, tọa lạc ở Vũng Mariana, sâu đến mức nếu Everest được đặt vào đó thì cần thêm trên 2 km (1,25 dặm) nước bao phủ ở phía trên.
Đỉnh Everest là đỉnh cao nhất Trái Đất nếu so với mực nước biển, còn nếu so về khoảng cách tới tâm Trái Đất thì núi lửa Chimborazo thuộc dãy Andes ở Ecuador xa hơn (6.382,3 km so với 6.384,4 km); lý do là Trái Đất không phải là một khối cầu hoàn hảo. Trái Đất có hình dáng của một khối phỏng cầu (ellipsoid tròn xoay), hơi lồi ra ở phần xích đạo.
Nếu so về phần vượt lên so với cao độ chung quanh thì nó thua núi McKinley ở Alaska. McKinley chỉ cao hơn mực nước biển 6.194 m, nhưng nó vượt hơn bình địa chung quanh (có độ cao so với mực nước biển dao động 300-900 m) là 5.300 đến 5.900 m, trong khi Everest chỉ vượt so với sườn phía nam là 4.200 m đến 5.200 m về phía cao nguyên Tây Tạng.
Nếu tính từ chân đến đỉnh, đỉnh Mauna Kea ở Hawaii mới là kỷ lục. Tính từ đáy biển đến đỉnh của Mauna Kea là 10.200 m (đỉnh của nó chỉ nhô trên mực nước biển 4.205 m)
 
 
 
 
 
 
                    

Nguồn:trên mạng

 
 


Để tải về Những kiến thức xoay quanh khí hậu,địa lý,thời tiết
Bước 1:Tại trang tài liệu chi tiết nslide bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên nslide.com
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình

LINK DOWNLOAD

doc.pngNhung-kien-thuc-xoay-quanh-khi-hauAdia-lyAthoi-tiet.doc[2.14 M]

File đã kiểm duyệt
     Báo vi phạm bản quyền
Pass giải nén (Nếu có):
nslide.com
DOWNLOAD
(Miễn phí)

đề thi tương tự

BÀI TIẾP THEO

BÀI MỚI ĐĂNG

BÀI HAY XEM NHIỀU