Những kiến thức xoay quanh khí hậu,địa lý,thời tiết

đề thi Sưu tầm
  Đánh giá    Viết đánh giá
 157       1      0
Phí: Tải Miễn phí - Download FREE
Mã tài liệu
cr82xq
Danh mục
Thư viện Đề thi & Kiểm tra
Thể loại
Ngày đăng
4/16/2012 6:16:18 PM
Loại file
doc
Dung lượng
2.14 M
Lần xem
1
Lần tải
157
File đã kiểm duyệt an toàn

Thư viện địa lý Việt Nam KIẾN THỨC KHÍ HẬU,ĐỊA LÝ,THỜI TIẾT Chủ biên và biên tập:Hà Triệu Huy CHƯƠNG I:KHÍ HẬU KHÍ HẬU CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 1.Khí hậu Canada Khí hậu Canada đặc trưng bởi tính đa dạng,xem chi tiết và tải về Đề thi Những kiến thức xoay quanh khí hậu,địa lý,thời tiết, Đề Thi Sưu Tầm , Đề thi Những kiến thức xoay quanh khí hậu,địa lý,thời tiết, doc, 1 trang, 2.14 M, Sưu tầm chia sẽ bởi Huy Hà Triệu đã có 157 download

 
LINK DOWNLOAD

Nhung-kien-thuc-xoay-quanh-khi-hauAdia-lyAthoi-tiet.doc[2.14 M]

File đã kiểm duyệt
     Báo vi phạm bản quyền
Pass giải nén (Nếu có):
nslide.com
DOWNLOAD
(Miễn phí)

Đây là đoạn mẫu , hãy download về để xem đầy đủ, hoàn toàn miễn phí 100%

Thư viện địa lý Việt Nam
KIẾN THỨC KHÍ HẬU,ĐỊA LÝ,THỜI TIẾT
Chủ biên và biên tập:Hà Triệu Huy
CHƯƠNG I:KHÍ HẬU

KHÍ HẬU CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.Khí hậu Canada
Khí hậu Canada đặc trưng bởi tính đa dạng: nhiệt độ và lượng mưa tùy thuộc vào từng miền và mùa. Đa phần Canada có 4 mùa rõ rệt: Xuân, hạ, thu và đông. Nhiệt độ và thời tiết trong mỗi mùa của các miền cũng có thể khác nhau.
Mùa xuân: là mùa mưa ở phần lớn các miền của Canada. Nhiệt độ ban ngày tăng đều đặn nhưng ban đêm thì khá mát mẻ. Nhiệt độ ban ngày bình quân của tháng ba, tháng tư và đầu tháng năm là 12 C.
Mùa hạ: chính thức bắt đầu từ ngày 21 tháng sáu, nhưng đối với đa số người dân Canada thì tháng bảy và tháng tám mới là mùa hạ. Trong mùa hạ, thời tiết ấm ở phần lớn đất nước. Ở miền Nam Canada, nhiệt độ ban ngày thường cao hơn 20 C và đôi khi là cao hơn 30 C.
Mùa thu: hay còn gọi là mùa lá rụng, bắt đầu từ tháng chin. Thời tiết mát mẻ và lá của nhiều loại cây đổi màu và rụng. Trời có thể mưa vào thời gian này của năm. Ở một số miền của Canada, nhất là miền Bắc và miền núi, tuyết có thể rơi vào tháng mười. Ở phần lớn đất nước, nhiệt độ ban ngày trung bình là khoảng  10  C đến 12 C. Những tháng mùa thu là tháng chín, tháng mười và tháng mười một.
Mùa đông: trong những tháng mùa đông( tháng mười hai, tháng một và tháng hai), nhiệt độ ở phần lớn các miền của đất nước thường thấp hơn 0  C, cả ngày và đêm. Ở một số nơi, nhiệt độ giảm theo chu kỳ, xuống thấp hơn -25  C, nhưng ở bờ biển phía tây( vWest coast), nhiệt độ ít khi thấp hơn 0  C. Ở phần lớn Canada, tuyết phủ từ tháng mười hai tới giữa tháng ba. Ở các vùng càng cao và càng về phía Bắc, mùa đông càng dài và lạnh.
2.Khí hậu Mỹ (Hoa Kỳ)
Về nhiều phương diện thì Hoa Kỳ được hình thành thông qua từ sự mở rộng đường biên. Sự mở rộng về phía tây vẫn còn là một phần của lịch sử nước Mỹ hiện nay, và có rất nhiều người còn sống vẫn nhớ về những ngày đầu định cư của người dân Mỹ, về những cuộc đấu tranh anh dũng thường xuyên của họ với mảnh đất này. Ngày nay, đường biên giới của nước Mỹ đã không còn là vấn đề lớn nữa. Mặc dù có thể nói rằng loài người có đủ mọi phương tiện kỹ thuật để sống ở bất cứ nơi đâu trên bề mặt trái đất, nhưng những vùng đất của Hoa Kỳ, nơi mà người ta có thể chiếm lĩnh bằng những nỗ lực kinh tế và sức lực khiêm tốn, đều đã được chiếm lĩnh hết. Kéo dài về phía nam cũng như về phía bắc các bang thuộc Hồ Lớn (Great Lakes), bao gồm cả một phần lãnh thổ cạnh đường biên giới Canada, cũng như một phần của Alaska, Northlands (bản đồ 15) rất thưa thớt các khu định cư. Tính chất không thuận tiện cho cuộc sống của môi trường thiên nhiên cộng với cư dân ít ỏi đã tạo cho Northlands một đặc tính riêng biệt. Môi trường khắc nghiệt Nếu như yêu cầu người Mỹ mô tả Vùng đất phía Bắc thì có lẽ tính từ được sử dụng nhiều nhất sẽ là “lạnh”. Nhiệt độ trung bình vào tháng Giêng từ khoảng -70C dọc theo những rìa phía nam Great Lakes tới -400C tại một số vùng thuộc Alaska. Nhiệt độ đôi khi có thể đạt tới mức - 600C. Không chỉ nhiệt độ mùa đông rất thấp trên hầu hết những khu vực trong vùng, mà mùa đông còn rất dài. Thời gian trung bình từ đợt sương giá cuối cùng vào mùa xuân và lần sương giá đầu tiên của mùa thu thường là 135 ngày tại vùng cận biên phía nam nhưng chỉ có hơn 14 ngày dọc theo những vùng đất ven Bắc Băng Dương. Do tất cả các loại cây lương thực đều cần một mùa sinh trưởng dài hơn 90 ngày nên chúng chỉ có thể được trồng tại một số rất ít các vùng đất nhỏ dọc theo những giới hạn phía nam.
Mùa hè nói chung ngắn và mát mẻ, tuy nhiên đôi khi lại có những ngày ấm áp một cách đáng ngạc nhiên. Khí hậu ôn hòa của biển chỉ rõ nét tại những vùng ngoại vi, chủ yếu ở phía đông và phía tây. Sự khác biệt rõ rệt về nhiệt độ theo mùa bắt nguồn từ sự thay đổi quá lớn về độ dài của ngày và góc tới của tia sáng mặt

Thư viện địa lý Việt Nam

 

 

 

 

 

 

KIẾN THỨC KHÍ HẬU,ĐỊA LÝ,THỜI TIẾT

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chủ biên và biên tập:Hà Triệu Huy

 

 

CHƯƠNG I:KHÍ HẬU

 

 

 

KHÍ HẬU CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

 

 

1.Khí hậu Canada

Khí hậu Canada đặc trưng bởi tính đa dạng: nhiệt độ và lượng mưa tùy thuộc vào từng miền và mùa. Đa phần Canada có 4 mùa rõ rệt: Xuân, hạ, thu và đông. Nhiệt độ và thời tiết trong mỗi mùa của các miền cũng có thể khác nhau.

Mùa xuân: là mùa mưa ở phần lớn các miền của Canada. Nhiệt độ ban ngày tăng đều đặn nhưng ban đêm thì khá mát mẻ. Nhiệt độ ban ngày bình quân của tháng ba, tháng tư và đầu tháng năm là 12 C.

Mùa hạ: chính thức bắt đầu từ ngày 21 tháng sáu, nhưng đối với đa số người dân Canada thì tháng bảy và tháng tám mới là mùa hạ. Trong mùa hạ, thời tiết ấm ở phần lớn đất nước. Ở miền Nam Canada, nhiệt độ ban ngày thường cao hơn 20 C và đôi khi là cao hơn 30 C.

Mùa thu: hay còn gọi là mùa lá rụng, bắt đầu từ tháng chin. Thời tiết mát mẻ và lá của nhiều loại cây đổi màu và rụng. Trời có thể mưa vào thời gian này của năm. Ở một số miền của Canada, nhất là miền Bắc và miền núi, tuyết có thể rơi vào tháng mười. Ở phần lớn đất nước, nhiệt độ ban ngày trung bình là khoảng  10  C đến 12 C. Những tháng mùa thu là tháng chín, tháng mười và tháng mười một.

Mùa đông: trong những tháng mùa đông( tháng mười hai, tháng một và tháng hai), nhiệt độ ở phần lớn các miền của đất nước thường thấp hơn 0  C, cả ngày và đêm. Ở một số nơi, nhiệt độ giảm theo chu kỳ, xuống thấp hơn -25  C, nhưng ở bờ biển phía tây( vWest coast), nhiệt độ ít khi thấp hơn 0  C. Ở phần lớn Canada, tuyết phủ từ tháng mười hai tới giữa tháng ba. Ở các vùng càng cao và càng về phía Bắc, mùa đông càng dài và lạnh.

 

 

 

 

2.Khí hậu Mỹ (Hoa Kỳ)

Về nhiều phương diện thì Hoa Kỳ được hình thành thông qua từ sự mở rộng đường biên. Sự mở rộng về phía tây vẫn còn là một phần của lịch sử nước Mỹ hiện nay, và có rất nhiều người còn sống vẫn nhớ về những ngày đầu định cư của người dân Mỹ, về những cuộc đấu tranh anh dũng thường xuyên của họ với mảnh đất này.
Ngày nay, đường biên giới của nước Mỹ đã không còn là vấn đề lớn nữa. Mặc dù có thể nói rằng loài người có đủ mọi phương tiện kỹ thuật để sống ở bất cứ nơi đâu trên bề mặt trái đất, nhưng những vùng đất của Hoa Kỳ, nơi mà người ta có thể chiếm lĩnh bằng những nỗ lực kinh tế và sức lực khiêm tốn, đều đã được chiếm lĩnh hết.
Kéo dài về phía nam cũng như về phía bắc các bang thuộc Hồ Lớn (Great Lakes), bao gồm cả một phần lãnh thổ cạnh đường biên giới Canada, cũng như một phần của Alaska, Northlands (bản đồ 15) rất thưa thớt các khu định cư. Tính chất không thuận tiện cho cuộc sống của môi trường thiên nhiên cộng với cư dân ít ỏi đã tạo cho Northlands một đặc tính riêng biệt.

i trường khắc nghiệt
Nếu như yêu cầu người Mỹ mô tả Vùng đất phía Bắc thì có lẽ tính từ được sử dụng nhiều nhất sẽ là “lạnh”. Nhiệt độ trung bình vào tháng Giêng từ khoảng -70C dọc theo những rìa phía nam Great Lakes tới -400C tại một số vùng thuộc Alaska. Nhiệt độ đôi khi có thể đạt tới mức - 600C.

Không chỉ nhiệt độ mùa đông rất thấp trên hầu hết những khu vực trong vùng, mà mùa đông còn rất dài. Thời gian trung bình từ đợt sương giá cuối cùng vào mùa xuân và lần sương giá đầu tiên của mùa thu thường là 135 ngày tại vùng cận biên phía nam nhưng chỉ có hơn 14 ngày dọc theo những vùng đất ven Bắc Băng Dương. Do tất cả các loại cây lương thực đều cần một mùa sinh trưởng dài hơn 90 ngày nên chúng chỉ có thể được trồng tại một số rất ít các vùng đất nhỏ dọc theo những giới hạn phía nam.

 Mùa hè nói chung ngắn và mát mẻ, tuy nhiên đôi khi lại có những ngày ấm áp một cách đáng ngạc nhiên. Khí hậu ôn hòa của biển chỉ rõ nét tại những vùng ngoại vi, chủ yếu ở phía đông và phía tây.

Sự khác biệt rõ rệt về nhiệt độ theo mùa bắt nguồn từ sự thay đổi quá lớn về độ dài của ngày và góc tới của tia sáng mặt trời. Do Trái đất quay theo lộ trình hàng năm xung quanh mặt trời nên Cực Bắc nghiêng về phía mặt trời trong thời gian được coi là mùa hè ở Mỹ và khuất bóng khỏi những tia sáng mặt trời trong thời gian mùa đông. Như vậy, tất cả những khu vực thuộc phía bắc của Vòng Bắc cực nằm trong bóng đêm ít nhất một ngày vào giữa mùa đông và ít nhất một ngày vào giữa mùa hè không có hoàng hôn. Ngoài ra, trong suốt mùa đông, mặt trời khi lên cũng chỉ thấp sát đường chân trời. Thậm chí cả những khu vực miền nam của vùng này cũng chỉ nhận được sáu tới bảy tiếng đồng hồ ánh sáng ban ngày trong mùa đông.

Lượng mưa rất khác biệt trong khắp các vùng đất thuộc Northlands. Mức cao nhất là ở vùng đông nam xa xôi, nơi mà các chế độ bão cả mùa đông lẫn mùa hè đổ xuống nhiều hơn lượng mưa hàng năm của bờ biển phía nam Labrador 100 cm. Lượng mưa tập trung chủ yếu về khu vực nội địa và phía bắc.

Mặc dù lượng mưa ít ỏi, rất ít vùng đất tại Northlands mang diện mạo của một môi trường khô hạn. Thực tế, vào mùa hè phần nhiều vùng này được bao phủ bởi nước đọng. Một phần điều này là do mức độ bốc hơi và chuyển hóa hơi nước rất thấp trong khí hậu lạnh ở đây. Tại các phần phía bắc của khu vực, tình trạng nước đọng còn được hỗ trợ bởi sự tồn tại của băng giá vĩnh viễn trên một diện rộng - một lớp kề mặt đất đóng băng vĩnh viễn thường có độ dày 100 mét và đôi khi sâu xuống phía dưới đến 300 mét. Tại những vùng ấm áp hơn, đất đóng băng vĩnh viễn không nối tiếp nhau liên tục, các vùng đất đóng băng xen lẫn với đất không đóng băng. Do trong mùa hè ngắn ngủi lớp đất đóng băng tan ra với bề dầy khoảng 1 mét nên nước được giữ lại trên bề mặt của lớp đất đóng băng dưới đó, tạo ra một mặt đất bùn lầy và ẩm ướt.

 

 

3.Khí hậu Mexico

Có thể nói, đường chí tuyến bắc đã phân chia lãnh thổ México thành hai vùng khí hậu riêng biệt: nửa phía bắc chí tuyến có khí hậu ôn hòa còn nửa phía nam chí tuyến thì có điều kiện khí hậu phụ thuộc nhiều vào độ cao. México là một đất nước có nhiều núi non trùng điệp và điều này đã khiến cho México trở thành một trong những quốc gia có hệ thống khí hậu đa dạng nhất trên thế giới.

Ở nửa phía nam của đường chí tuyến, tại những vùng có độ cao không vượt quá 1000 m thì có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm quanh năm, với nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 24° - 28 °C, chênh lệch nhiệt độ giữa mùa hèmùa đông không quá lớn, chỉ khoảng 5 °C. Trong khi đó, những vùng ở phía bắc đường chí tuyến của México thì có nhiệt độ trung bình năm thấp hơn, vào khoảng 20° - 24 °C với mùa hè nóng ẩm còn mùa đông thì lạnh và khô.

Thung lũng México nằm ở phía nam đường chí tuyến là một khu vực tập trung nhiều khu vực đô thị lớn của đất nước, trong đó có thành phố Mexico. Khu vực này nằm ở độ cao trên 2000 m nên nhìn chung có khí hậu ôn hòa tương đối dễ chịu, nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 16° - 18 °C.

Nhiều vùng đất ở Mexico, đặc biệt là tại phía bắc đường chí tuyến thường có rất ít mưa, tạo nên một số vùng hoang mạc lớn tại đất nước này. Trong khi đó miền nam México (đặc biệt là những vùng đồng bằng duyên hải như bán đảo Yucatan) thì lượng mưa thường đạt trên 2000 mm/năm.

 

 

 

 

4.Khí hậu Chile

Chile nằm hoàn toàn trong vùng khí hậu Ôn đới nhưng cũng có nơi nóng đến 43 độ và rét đến -40 độ. Năm nóng nhất là năm 2001. (45 độ).

Khí hậu Miền Bắc

Do có địa hình thẳng đứng, trải dài từ bắc xuống nam nên khí hậu Ở Chile rất đa dạng. Phía Bắc Chile có một sa mạc khô hạn nhất thế giới là Atacama, một số khu vực nơi đây hầu như chưa bao giờ có mưa. Nhiệt độ ngày và đêm khác nhau rõ rệt.

Khí hậu Miền Trung 

Khu vực đường bờ biển có khí hậu ôn đới quanh năm. Trong khi đó, ở khu vực đồng bằng trên vùng cao phía Bắc miền Trung, nhiệt độ mùa hè trung bình Ở mức 260 c vào ban ngày và có thể xuống thấp tới tận 130C vào ban đêm. Khí hậu Ở miền Trung là khí hậu cận nhiệt đới địa trung hải rất đa dạng, với mùa hè khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ cao nhất là 30-330C. Mùa đông ngắn, ít mưa, nhiệt độ cao nhất là 10 –150C, nhiệt độ thấp nhất là dưới 00C.

Khí hậu Miền Nam

Miền Nam Bio Bio có mưa thường xuyên trong năm. Nhiệt độ không khác biệt nhiều giữa thời gian ban ngày và ban đêm. Tuy nhiên, ở Patagonia. khu vực cận nam, có thời tiết đa dạng hơn, thường xuyên ẩm ướt, lạnh và có gió.

Khí hậu Khu vực đảo

Thời tiết Ở đảo Easterđảo Robinson Crusoe khá dễ chịu trong suốt cả năm.

 

 

 

 

 

 

5.Khí hậu Brazin

Phần lớn diện tích Brasil nằm trong khoảng từ xích đạo cho đến đường chí tuyến nam. Mặc dù 90% lãnh thổ Brasil nằm trong vùng nhiệt đới nhưng giữa vùng này với vùng khác trên đất nước vẫn có những sự khác biệt khá lớn về khí hậu. Từ bắc xuống nam, khí hậu Brasil chuyển dần từ khí hậu nhiệt đới (giữa chí tuyến nam và xích đạo) cho đến khí hậu cận nhiệt tương đối ôn hòa (nằm dưới chí tuyến nam). Brasil có tổng cộng năm dạng khí hậu khác nhau: xích đạo, nhiệt đới, nhiệt đới khô, núi cao và cận nhiệt đới.

Nhiệt độ trung bình năm quanh đường xích đạo khá cao, trung bình đạt khoảng 25 °C[19]. Tuy nhiên trong những ngày nóng bức nhất của mùa hạ, nhiệt độ tại một số vùng của Brasil có thể lên tới 40 °C.Miền nam Brasil có khí hậu tương đối cận nhiệt đới và có thể có sương giá về mùa đông. Tuyết rơi có thể xảy ra ở những vùng núi cao như Rio Grande do Sul hay Santa Catarina. Lượng mưa tại Brasil nhìn chung tương đối cao, khoảng 1000 đến 1500 mm mỗi năm. Mưa tập trung nhiều hơn tại vùng lòng chảo Amazon nóng ẩm ở phía bắc, nơi lượng mưa có thể lên đến 2000 mm mỗi năm hoặc thậm chí cao hơn. Tuy có một lượng mưa hàng năm lớn như vậy song khu vực này cũng có mùa khô, kéo dài từ 3 tháng đến 5 tháng tùy theo vĩ độ.

Do nằm tại Nam bán cầu nên thời gian các mùa trong năm tại Brasil ngược lại so với các nước Bắc bán cầu. Mùa hạ ở đây kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4, còn mùa đông lại nằm trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 11. Trên thực tế, ở những vùng nằm gần xích đạo, sự chênh lệch về mùa gần như không đáng kể với khí hậu nóng ẩm quanh năm, trong khi những vùng có khí hậu nhiệt đới thường chỉ có mùa mưamùa khô. Tại vùng có khí hậu cận nhiệt ở phía nam, thời tiết chia ra đủ 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Brasil cũng thường phải hứng chịu những trận bão lớn từ Đại Tây Dương đổ vào.

 

 

6.Khí hậu Nam Phi

Nam Phi là đất nước nằm ở phần mũi phía Nam của lục địa châu Phi, với một đường bờ biển dài hơn 2500 kilometres (1.550 dặm) chạy qua hai đại dương (Đại Tây DươngẤn Độ Dương). Với tổng diện tích là 1.219.912 km² (470 979 mi²)[8] Nam Phi là nước lớn thứ 25 trên thế giới (sau Mali). Nước này có kích thước tương đương Colombia. Njesuthi tại Drakensberg với độ cao 3 408 m (11.424 ft) là đỉnh cao nhất Nam Phi. Nam Phi giáp biên giới với Botswana - 1.840 km, Lesotho - 909 km, Mozambique - 491 km, Namibia - 967 km, Swaziland - 430 km, và Zimbabwe - 225 km. Nó có bờ biển dài 2.798 km.

Trái ngược với quan niệm thông thường của mọi người, Nam Phi có khí hậu nói chung ôn hòa, một phần nhờ nó được bao quan bởi Đại Tây DươngẤn Độ Dương ở ba phía, nhờ vị trí nằm tại bán cầu nam với thời tiết dịu hơn, và nhờ độ cao tăng dần về phía bắc (về hướng xích đạo) và trong lục địa. Vì những ảnh hưởng địa hình và hải dương này, Nam Phi có nhiều khu vực khí hậu.

Các vùng khí hậu khá khác biệt, từ xa mạc khô cằn phía nam Namib tại cực tây bắc tới kiểu khí hậu cận nhiệt đới tươi tốt ở phía đông dọc biên giới với MozambiqueẤn Độ Dương. Từ phía đông, địa hình nhanh chóng chuyển thành núi non dựng đứng về hướng cao nguyên nội địa được gọi là Thảo nguyên cao. Thậm chí Nam Phi bị xếp hàng là bán khô cằn, có khá nhiều khác biệt về khí hậu cũng như địa hình.

Nội địa Nam Phi là một vùng cao nguyên đất sét bụi rậm rộng lớn, phẳng và dân cư thưa thớt, khí hậu khô hơn về hướng tây bắc dọc theo xa mạc Namib. Trái lại, ở bờ biển phía đông là vùng đất với cây cối tươi tốt, nhiều nước với kiểu khí hậu nhiệt đới. Cực tây nam có khí hậu rất giống với kiểu khí hậu Địa Trung Hải với mùa đông ẩm và mùa hè khô, là nơi có Quần xã sinh vật Fynbos nổi tiếng. Khu vực này cũng là nơi sản xuất ra đa số các loại rượu Nam Phi. Vùng này cũng nổi tiếng vì loại gió tại đó, thổi không liên tục suốt năm. Sự dữ dội của loại gió này khiến việc đi ngang qua Mũi Hảo Vọng trở nên đặc biệt khó khăn cho các thủy thủ, gây ra nhiều vụ đắm tàu. Xa hơn về phía đông của bờ biển phía nam đất nước, lượng mưa được phân bố đồng đều suốt năm khiến phong cảnh xanh tươi. Vùng này thường được gọi là Garden Route.

Bang Free đặc biệt phẳng nhờ nó nằm trên cao nguyên. Phía bắc Sông Vaal, Thảo nguyên cao được cung cấp nhiều nước hơn và không có kiểu thời tiết đặc biệt nóng cận nhiệt đới. Johannesburg, tại trung tâm Thảo nguyên cao, ở độ cao 1740 mét (5.709 ft) và có lượng mưa trung bình hàng năm 760 milimét (30 in). Mùa đông tại vùng này lạnh, dù tuyết khá hiếm.

Tới phía bắc Johannesburg, độ cao giảm về hướng vách đứng Thảo nguyên cao, và chuyển về hướng Thảo nguyên cây bụi thấp hơn, một vùng pha trộn giữa những khu rừng khô và phong phú về động thực vật hoang dã. Phía đông Thảo nguyên cao, về hướng vách đứng phía đông, Thảo nguyên thấp trải dài về phía Ấn Độ Dương. Vùng này có nhiệt độ đặc biệt cao, và cũng là nơi thuận lợi cho canh tác nông nghiệp cận nhiệt đới. Các dãy núi Barberton dải Greenstone tại thảo nguyên thấp là những dãy núi già nhất trên Trái đất, có niên đại từ 3.5 tỷ năm trước. Bằng chứng sớm nhất về cuộc sống (có niên đại 3.2 - 3.5 triệu năm) đã được tìm thấy tại những dãy núi này.

Dãy núi cao Drakensberg, hình thành nên dốc đứng đông nam Thảo nguyên cao, là nơi có thể tổ chức môn trượt tuyết vào mùa đông. Nhiều người cho rằng địa điểm lạnh nhất Nam Phi là Sutherland ở phía tây Núi Roggeveld, nơi nhiệt độ vào giữa mùa đông có thể xuống tới −15 độ C (5 °F). Trên thực tế, nơi lạnh nhất là Buffelsfontein, tại quận Molteno thuộc Đông Cape. Buffelsfontein đã ghi nhận nhiệt độ −18.6 độ C (-1.5 °F).[9] Vùng sâu trong nội địa có thời tiết nóng nhất: nhiệt độ 51.7 °C (125 °F) đã được ghi lại năm 1948 tại Bắc Cape Kalahari gần Upington.[10]

Nam Phi cũng có một quần đảo cận Nam Cực nhỏ là Quần đảo Hoàng tử Edward, gồm Đảo Marion (290 km²/112 mi²) và Đảo Hoàng tử Edward (45 km²/17.3 mi²) (không nên nhầm với một tỉnh trùng tên của Canada).

 

 

 

 

 

 

7.Khí hậu Angola

Luanda có thể chia làm hai phần (Hạ Luanda) và (Thượng Luanda). Hạ Luanda nằm ngay cạnh hải cảng, là phần thành phố cũ với những di tích lịch sử từ thời thuộc địa. Còn phần Thượng Luanda thì mới được xây dựng trong nội địa với những công trình kiến trúc mới.

Thành phố có các trường đại học: Đại học Agostinho Neto (1963), Viện Nghiên cứu Giáo dục và Dịch vụ Xã hội (1962) và Bảo tàng Angola (1938).

Nhìn chung khí hậu tại Luanda là nóng và ẩm. Dòng biển lạnh Beneguela ngoài khơi Đại Tây Dương đã ngăn cản hơi ẩm từ biển ngưng tụ thành mưa mà chỉ có những đám sương mù thường xuyên xuất hiện để ngăn nhiệt độ không xuống quá thấp về ban đêm. Lượng mưa trung bình năm tại Luanda là 323 mm (tương đương 12,7 inch) nhưng không đều giữa các năm, tùy theo cường độ mạnh yếu của dòng biển lạnh. Mùa mưa ngắn tập trung chủ yếu giữa tháng 3tháng 4.

 

 

8.Khí hậu Pháp

Pháp, nằm giữa vùng ôn đới vì vậy Pháp được thừa hưởng một nền khí hậu rất ôn hoà với bốn mùa rõ rệt. Mùa đông nhiệt độ trung bình từ 0-80 C, mùa hè nhiệt độ trung bình từ 16-240 C.

Do địa lý mỗi vùng có sự khác nhau vì thế mà khí hậu cũng được phân biệt rất rõ rệt ở mỗi vùng : Khí hậu miền địa trung hải, khí hậu miền đại dương và khí hậu lục địa.

Khu vực Bretagne và khu Normandie chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương ẩm ướt,mưa nhiều, phần lớn là chịu ảnh hưởng của gió tây, mùa đông không lạnh lắm, nhiệt độ trung bình 70 C, mùa hè mát nhiệt độ trung bình là 160 C

Vùng Aquitaine chịu ảnh hưởng của vùng địa trung hải và một phần của đại dương vì vậy mùa xuân thường có mưa nhiều, quanh năm gió mát. Nhiệt độ trung bình thường là 50 C mùa đông và 220 C mùa hè

Khu vực phía Đông và Đông Bắc lại được biết đến khí hậu bán lục địa. Mùa đông ở vùng này rất khắc nghiệt thường có tuyết rơi. Nhiệt độ trung bình vào mùa đông là -10 C. Mùa hè nắng nóng thường có giông. Nhiệt độ trung bình là 190 C

Những hiểu biết về khí hậu và địa lý của từng vùng sẽ giúp bạn có sự  lựa chọn phù hợp trường đại học mà bạn sẽ theo học tại đất nước này. Nhìn chung ở các thành phố lớn, bạn sẽ không bao giờ lo ngại về sự khắc nghiệt của thời tiết vì khí hậu Pháp là nền khí hậu ôn hòa.

 

 

 

9.Khí hậu Anh

Mặc dù Anh quốc nổi tiếng vì cái lạnh, thời tiết hay mưa nhưng khí hậu cũng thay đổi nhanh chóng, có khi ấm áp, thời tiết nắng ấm hay sương mù và thậm chí cả tuyết nữa. Sinh viên quốc tế, những người đã quen với khí hậu nhiệt đới và cận xích đạo,thường rất ngạc nhiên bởi sự đa dạng thời tiết ở Anh. Bạn có thể may mắn khi ở một nơi nào có thể nhìn thấy được cả mưa, tuyết, sấm chớp, mưa đá và nắng ấm áp – chỉ trong một ngày!

Nhìn chung, mùa hè thường rất mát mẻ và mùa đông thì khá dễ chịu. Nhiệt độ hàng ngày và lượng mưa trung bình rất khác nhau giữa các thành phố. Nhìn chung, tháng ấm áp nhất là tháng Bảy, khi mà nhiệt độ trung bình là 16,50C, và tháng lạnh nhất là tháng Giêng, với nhiệt độ trunng bình khoảng 3,80C. Tháng ẩm ướt nhất là tháng Mười Hai, khi lượng mưa trung bình lên tới 78,9mm, và tháng khô nhất là tháng Tư, khi mà lượng mưa chỉ có 54,1 mm.

Miền tây thì ẩm ướt hơn và ấm áp hơn phía đông, và miền bắc thì mát mẻ hơn miền nam. Không có nhiều tuyết ở Anh, trừ phía bắc Scotland. Vì thời tiết ở Anh rất khó đoán trước nên tốt nhất là bạn nên chuẩn bị tinh thần về những thay đổi bất ngờ bằng cách mang theo ô gấp và mặc thêm một lớp quần áo, ví dụ như một chiếc áo len mỏng trong những tháng mùa hè. Và cũng rất thích hợp khi đi giày với đế bằng cao su và một cái đế giày tốt sẽ giúp bạn khỏi bị trượt trên những con đường ướt.

Ban ngày tại miền nam nước Anh kéo dài khoảng 16 tiếng trong tháng Sáu và tháng Bảy, nhưng chỉ có 8 tiếng trong tháng Mười Hai và tháng Một. Sự khác nhau giữa một ngày mùa đông với một ngày mùa hè càng rõ nét hơn ở Scotland vì vùng đó nằm gần xích đạo hơn.

 

 

10.Khí hậu Na Uy

Vương quốc Na Uy nằm ở phía Tây bán đảo Scandinavi, thuộc Tây Nam Châu Âu. Dân cư Na Uy hầu hết tập trung sinh sống tại các vùng ven biển, do vậy ở khu vực này có rất nhiều gió, khí hậu ấm áp và tuyết tan nhanh. Thậm chí ở phía Bắc của vòng Bắc cực, tại các bến cảng, thời tiết đóng băng quanh năm, trong đất liền thời tiết lạnh hơn và tuyết rơi nhiều trong năm. Từ hàng nghìn năm nay, người dân Na Uy thường dùng ván trượt tuyết làm phương tiện đi lại phổ biến nhất. Na Uy có khí hậu ôn hoà với mùa Đông ấm áp và mùa Hè mát mẻ ở khu vực ven biển. Còn các khu vực xa biển có khí hậu lạnh về mùa Đông và mùa Hè nóng. ở vùng cao nguyên thuộc cực Bắc thường có gió mạnh kèm theo tuyết rơi và sương mù dày đặc vào mùa Đông. ở bờ biển phía Tây thường xuyên có mưa to với lượng mưa trung bình hàng năm là 1958mm. Tại Oslo, nhiệt độ trung bình vào khoảng từ –7 độ C đến –2 độ C vào tháng 1, từ 13-22 độ C vào tháng 7.

 

 

 

 

11.Khí hậu Nga

Khí hậu của Nga được hình thành dưới một số yếu tố xác định. Sự khổng lồ của diện tích và sự xa xôi của nhiều vùng, khiến khí hậu lục địa có ưu thế hơn. phổ biến ở cả đất nước Nga, ngoại trừ các vùng lãnh nguyên và cực phía Đông Nam. Các dãy núi phía nam cản trở các luồng không khí từ Ấn Độ Dương; các đồng bằng phía tây và phía bắc khiến đất nước chịu ảnh hưởng của Đại Tây Dương và vùng biển Bắc Cực.

Do ảnh hưởng dịu mát của Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, các khu vực đông dân nhất của nước Nga tại châu Âu, phía nam của vùng Tây Siberia và phía nam vùng Viễn Đông của nước Nga, bao gồm các thành phố Moskva, Sankt-Peterburg có khí hậu lục địa. Hầu hết phần lãnh thổ Nga ở Bắc Âu, phía bắc bán đảo Scandinavi và Thái Bình Dương, có khí hậu cận bắc cực, với một mùa đông cực kỳ khắc nghiệt, bên trong vùng Đông Bắc Siberia, đặc biệt là nước Cộng hòa Sakha thuộc Nga - vị trí có nhiệt độ thấp kỉ lục ( -68 ° C/-90.4 ° F), và nhiều nơi khác tương đối hơn. Những dải đất dọc theo Bắc Băng Dương và các đảo ở phía Bắc có khí hậu vùng cực ( khí hậu cực ở một số hòn đảo và khí hậu lãnh nguyên ở nơi khác). Một phần nhỏ của Biển Đen, đặc biệt tại Sochi lại có một khí hậu cận nhiệt đới với một mùa đông ẩm ướt khác thường. Mùa đông ở đây khô hơn mùa hè tại nhiều khu vực của vùng Đông Siberia và vùng Viễn Đông, ngay cả khi mùa mưa đến. Lượng mưa vào mùa đông của các vùng khác của đất nước bình thường như tuyết rơi. Khu vực dọc theo sông Volga thấp, bờ biển Caspian cũng như một số khác ở phía nam nước Nga có một khí hậu khô cằn.

 

 

12.Khí hậu Đức

Cộng hòa Liên bang Đức nằm giữa trái tim châu Âu và được bao bọc bởi chín nước láng giềng: Đan Mạch ở phía Bắc, Hà Lan, Bỉ , Lúxămbua và Pháp ở phía Tây, Thụy Sĩ và Áo ở phía Nam, Cộng hòa Séc và Ba Lan ở phía Đông. Vị trí trung tâm này trở nên rõ rệt hơn sau khi nước Đức được thống nhất ngày 3-10-1990.
Lãng thổ quốc gia Cộng hòa Liên bang Đức rộng khoảng 357,000 km2. Khoảng cách lớn nhất từ Bắc đến dài 876 km và từ Đông sang Tây dài 640km theo đường chim bay. Dân số của nước Đức khoảng 82,1 triệu người(năm 2004).Mật độ dân cư là 230 người trên một km2.
Nước Đức có địa hình, cảnh quan đặc biệt đa dạng và hấp dẫn. Những dãy núi cao, thấp xen kẽ với các cao nguyên, vùng núi trung du, vùng duyên hải và đồng bằng rộng mở. Từ Bắc xuống , nước Đức được chia làm năm vùng cản quan lớn: vùng đồng bằng Bắc Đức, vùng núi trung du, vùng núi Tây , vùng chân núi Alpen Đức và vùng núi Alpen Bayern.
Về khí hậu, nước Đức nằm trong vùng ôn đới lạnh gió Tây giữa Đại Tây Dương và khí hậu lục địa phía Đông. Hiếm khi xảy ra chênh lệch lớn về nhiệt độ. lượng mưa trải suốt các mùa trong năm. Nhiệt độ trung bình mùa đông dao động từ 1,5oC ở vùng đồng bằng đến -6oC trên vùng núi. Nhiệt độ trung bình của tháng 7 là 18oC ở đồng bằng là 20oC trong các thung lũng kín ở phía . Những vùng khí hậu ngoại lệ là các vùng thượng lưu sông Rhein có khí hậu rất ôn hòa, vùng thượng Bayern chịu ảnh hưởng của khí đoàn gió Nam khô nóng từ dãy Alpen và vùng Harz chịu ảnh hưởng của những đợt gió mạnh, màu hè lạnh và mùa đông nhiều tuyết.

 

 

 

13.Khí hậu Ý

Là nước trong vùng nhiệt đới, khí hậu nóng, thay đổi theo vĩ tuyến và chia thành ba mùa rõ rệt: mùa nóng (tháng 3 - tháng 6), mùa mưa có lượng mưa lớn do ảnh hưởng gió mùa Tây Nam (tháng 6 - tháng 10), mùa lạnh hanh khô và ít rét (tháng 10 - tháng 3). Ấn Độ chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, song sự phân bố mưa không đều đã tạo ra vùng khí hậu khô hạn và vùng khí hậu ẩm ướt. Người ta thường phân biệt vùng Ấn Độ ẩm (ở phía Tây, phía Nam và phía Đông Bắc), đây là những vùng có mật độ dân cư cao nhất nước, và vùng Ấn Độ khô (cao nguyên Deccan, vùng Tây Bắc) dân cư thưa thớt.

 

 

14.Khí hậu Trung Quốc

Khí hậu Trung Quốc phức tạp , đa dạng, đa số nằm trong khu vực bắc ôn đới, thuộc khí hậu gió mùa lục địa, đa số các vùng có bốn mùa rõ rệt, mùa đông lạnh giá nóng nực. Do đất nước rộng lớn, địa hình phức tạp, độ cao chênh lệch lớn nên khí hậu cũng đa dạng theo. Từ nam lên bắc lần lượt là các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới, trung ôn đới, hàn ôn đới,, Còn khí hậu vùng cao nguyện Thanh Tạng là vùng khí hậu theo đường thẳng đứng.

Cực bắc Trung Quốc là Mạc Hà tỉnh Hắc Long Giang ở 53 độ vĩ bắc thuộc khí hậu Hàn ôn đới, trong khi đó cực nam Trung Quốc là đảo Mẫu ấm Sa trong vùng biển quần đảo Nam Sa tỉnh Hải Nam, chỉ cách đường xích đạo 400km lại thuộc khí hậu xích đạo.Vì vậy từ Nam tới Bắc khí hậu chênh lệch rất lớn. Mùa đông, phần lớn lãnh thổ nghìndặm băng giá, vạn dặm tuyết rơ, ngay khu Mạc Hà nhiệt độ trung bình trong tháng riêng là -30 độ C, trong khi đó ở phía Nam đảo Hải Nam trung bình là 20 độ C. Đặc diểm khí hậu Trung Quốc là về mùa đông đa số các vùng lạnh giá, khí hậu miền Nam Bắc chênh lệch rõ rệt. Về mùa hè do ánh mặt trời chiếu thẳng xuống bắc bán cầu nên miền Bắc ngày dài hơn, về mùa đông mặt trời chiếu tới 2 miền Nam Bắc nên ngày gần như nhau. Trừ vùng cao nguyên Thanh Tạng có địa hình quá cao ra, cả nước đều nóng ấm, khí hậu chênh lệch không nhiều.

Đa số các vùng do ảnh huởng dòng khí vùng biển ẩm, thổi vào lục địa nên mưa nhiều, nhưng lượng mưa giữa các vùng và các mùa không đều nhau. Miền Đông mưa nhiều, miền Tây ít. Từ Đông Nam tới Tây Bắc lượng mưa giảm dần đồng thời mưa nhiều vào mùa hạ. Miền Nam mùa mưa kéo dài từ tháng tháng 10. Miền Bắc múa mưa ngắn, tập trung vào tháng 7, tháng 8. Lượng mưa hàng năm cũng không đều, năm nhiều, năm ít và chênh nhau rất lớn. Đa số các miền của Trung Quốc nằm về phía Bắc trí tuyến bắc nên mùa đông thời gian mặt trời chiếu ngắn, nhận dược năng lượng mặt trời ít, càng về phía Bắc càng ít nên thời tiết càng lạnh. Mùa hè do mặt trời chiếu thẳng xuống bán cầu tời gian mặt trời chiếu nhiều hơn nên nhiệt độ cao hơn.

 

 

 

 

 

 

15.Khí hậu Hàn Quốc

Khí hậu Hàn Quốc là sự kết hợp giữa khí hậu đại lục và khí hậu biển. Hàn Quốc có 4 mùa rõ rệt với đặc điểm mùa hè nóng và ẩm, mùa đông lạnh và khô. 3 mặt của Hàn Quốc tiếp giáp với biển nên thích hợp cho các môn thể thao trên biển.

Mùa hè : Thời gian nóng nhất là từ tháng 6 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình trong tháng 8 là 25,4℃. Nhiều người thường đi nghỉ mát vào khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8.

Mùa đông : Thời gian lạnh nhất là từ tháng 12 đến tháng 2 với nhiệt độ trung bình tại miền Bắc là -8℃và miền Nam là 0℃. Truyết thường rơi nhiều ở các vùng núi phía đông nên nơi đay có nhiều khu trượt tuyết. Khoảng thời gian từ tháng 12 đến tháng 2 là mùa trượt tuyết.

Mùa xuân và mùa thu : Từ tháng 3 đến tháng 5 là mùa xuân và từ tháng 9 đến tháng 11 là mùa thu.
2 mùa này rất dễ chịu và thích hợp cho các hoạt động ngoài. Trời vào mùa xuân, thời tiết mát mẻ, cây cối đâm nảy lộc. Vào mùa thu, không khí khô và trời trong xanh. Đây là mùa tổ chức các lễ hội và hoạt động thể thao.

  • Lượng mưa trung bình một năm là 1260mm. Mưa nhiều nhất từ tháng 6 đến tháng 9, chiếm 50% của lượng mưa cả năm.
  • Mùa mưa – từ cuối tháng 6 đến giữa tháng 7, có những lúc mưa kéo dài nhiều ngày.
  • Đặc điểm : Hàn Quốc ít xẩy ra động đất và có bão, mưa dông, bão tuyết, nhiệt độ cao vào mùa đông và rét đậm rét hại.
  • Bão : Hàng năm có khoảng 28 cơn bão được hình thành từ phía Bắc Thái Bình Dương, trong đó 2 hoặc 3 cơn bão để bộ vào Hàn Quốc và gây thiệt hại.
  • Mưa dông : thường xuất hiện vào mùa hè và đang có xu hướng tăng dần.
  • Lũ lụt : Mạc dù đã có hệ thống đập nhưng lũ lụt vẫn gây thiệt hại do mưa bão kéo dài.

 

 

 

 

16.Khí hậu Nhật Bản

Đặc điểm lớn nhất của khí hậu Nhật Bản là có bốn muà Xuân, Hạ, Thu, Đông rõ rệt Mùa xuân : từ tháng 3 – tháng. Mùa hạ: từ tháng 6 – tháng 8 Mùa thu : từ tháng 9 – tháng 11. Mùa đông: từ tháng 12 – tháng 2. Nhiệt độ mùa đông và mùa hạ chênh nhau tới trên 30 độ. Vào mùa hạ, với nhiệt độ và độ ẩm cao làm cho những người từ đại lục thấy khó chịu. Vào mùa xuân và mùa thu khí hậu rất thoải mái dễ chịu nhưng thời tiết cũng thường thay đổi. Vào đầu mùa hạ, ngoại trừ

Đặc điểm lớn nhất của khí hậu Nhật Bản là có bốn muà Xuân, Hạ, Thu, Đông rõ rệt

Mùa xuân : từ tháng 3 – tháng.

Mùa hạ: từ tháng 6 – tháng 8

Mùa thu : từ tháng 9 – tháng 11.

Mùa đông: từ tháng 12 – tháng 2.

Nhiệt độ mùa đông và mùa hạ chênh nhau tới trên 30 độ. Vào mùa hạ, với nhiệt độ và độ ẩm cao làm cho những người từ đại lục thấy khó chịu. Vào mùa xuân và mùa thu khí hậu rất thoải mái dễ chịu nhưng thời tiết cũng thường thay đổi. Vào đầu mùa hạ, ngoại trừ Hokkaido ra, có mưa nhiều từ tháng Sáu đến giữa tháng Bảỵ Mùa thu cũng tương đối có nhiều mưa. Hơn nữa từ giữa mùa hạ đến đầu mùa thu, có nhiều bão phát sinh ở vùng phía tây của Bắc Thái Bình Dương đổ bộ vào Nhật Bản, đôi khi gây ra nhiều thiệt hạị Ngoài ra các dãy núi chạy dọc chiều dài Nhật Bản phân chia đất nước thành hai phần: phần biển Nhật Bản và phần Bắc Thái Bình Dương. Vào mùa đông phần biển Nhật Bản có nhiều tuyết rơi cũng là một đặc điểm của khí hậu Nhật Bản.

Nhật Bản là quốc gia với hơn ba nghìn đảo trải dài dọc biển Thái Bình Dương của Châu Á. Các đảo chính chạy từ Bắc tới Nam bao gồm Hokkaidō, Honshū (đảo chính), Shikoku và Kyūshū. Quần đảo Ryukyu, bao gồm Okinawa, là một chuỗi các hòn đảo phía Nam Kyūshū. Cùng với nhau, nó thường được biết đến với tên gọi "Quần đảo Nhật Bản".

Khoảng 70%-80% diện tích Nhật Bản là núi, loại hình địa lý không hợp cho nông nghiệp, công nghiệp và cư trú. Nhật Bản là quốc gia có mật độ dân số lớn thứ 30 trên thế giới.

Các hoạt động núi lửa diễn ra thường xuyên nên quốc gia này có vô số suối nước nóng và các suối này đã và đang được phát triển thành các khu nghỉ dưỡng.

Khí hậu Nhật Bản phần lớn là ôn hòa, nhưng biến đổi từ Bắc vào Nam. Đặc điểm địa lý Nhật Bản có thể phân chia thành 6 vùng khí hậu chủ yếu:

Hokkaidō: vùng cực bắc có khí hậu ôn hòa với mùa đông dài và lạnh, mùa hè mát mẻ. Lượng mưa không dày đặc, nhưng các đảo thường xuyên bị ngập bởi những đống tuyết lớn vào mùa đông.

Biển Nhật Bản: trên bờ biển phía Tây đảo Honshū', gió Tây Bắc vào thời điểm mùa đông mang theo tuyết nặng. Vào mùa hè, vùng này mát mẻ hơn vùng Thái Bình Dương dù đôi khi cũng trải qua những đợt thời tiết rất nóng bức do hiện tượng gió Phơn.

Cao nguyên trung tâm: Một kiểu khí hậu đất liền điển hình, với sự khác biệt lớn về khí hậu giữa mùa hè và mùa đông, giữa ngày và đêm. Lượng mưa nhẹ.

Biển nội địa Seto: Các ngọn núi của vùng Chūgoku và Shikoku chắn cho vùng khỏi các cơn gió mùa, mang đến khí hậu dịu mát cả năm.

Biển Thái Bình Dương: Bờ biển phía Đông có mùa đông lạnh với ít tuyết, mùa hè thì nóng và ẩm ướt do gió mùa Tây Nam.

Quần đảo Tây Nam: Quần đảo Ryukyu có khí hậu cận nhiệt đới, với mùa đông ấm và mùa hè nóng. Lượng mưa nặng, đặc biệt là vào mùa mưa. Bão ở mức bình thường.

Nhiệt độ nóng nhất đo được ở Nhật Bản là 40,9 °C - đo được vào 16 tháng 8 năm 2007.

Mùa mưa chính bắt đầu từ đầu tháng 5 tại Okinawa; trên phần lớn đảo Honshū, mùa mưa bắt đầu từ trước giữa tháng 6 và kéo dài 6 tuần. Vào cuối hè và đầu thu, các cơn bão thường mang theo mưa nặng.

Nhật Bản là quê hương của chín loại sinh thái rừng, phản ánh khí hậu và địa lý của các hòn đảo. Nó trải dài từ những rừng mưa nhiệt đới trên quần đảo Ryukyu và Bonin tới các rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rụng trên các vùng khí hậu ôn hòa của các đảo chính, tới rừng ôn đới lá kim vào mùa đông lạnh trên các phần phía Bắc các đảo.

 

 

17.Khí hậu Đài Loan

Thiên nhiên: Formosa là tên mà người Bồ Đào Nha gọi Đài Loan khi họ đến đây vào thế kỷ 16 và thấy vẻ đẹp của hòn đảo xanh tươi.Khí hậu Đài Loan có 4 mùa, mùa xuân từ tháng 3 đến tháng 4, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9 nóng và ẩm ướt, mùa thu từ tháng 10 đến tháng 11, mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2. Đặc trưng cho khí hậu ở Đài Loan là vùng khí hậu cận nhiệt đới với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25 độ C đến 28 độ C.

Nếu bạn đến từ một quốc gia vĩ độ cao, bạn có thể bỏ áo khoác mùa đông của bạn sau khi đến Đài Loan và thưởng thức trong sự ấm áp dễ chịu của mặt trời. Nếu bạn muốn trải nghiệm những cảm giác vô tư của các hạt lành mạnh của mồ hôi chảy xuống trán của bạn, thì bạn nên đến các bãi biển tại Kending trong miền Nam Đài Loan, nơi nó được mùa hè quanh năm. Các đảo Đài Loan nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới, và nó được bao quanh bởi các đại dương; và gió biển, mà đó là lý do thời tiết ẩm ướt của Đài Loan, chắc chắn sẽ làm bạn hoàn toàn quên về nhà khô lạnh.

 

 

 

 

18.Khí hậu Lào

Nhờ vào độ cao, vĩ độ và ảnh hưởng của gió mùa mà Lào có nhiệt độ từ nhiệt đới đến cận nhiệt đới. Mùa mưa ở đây kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 với nhiệt độ từ 30oC trở lên. Ở những vùng núi như Xiêng Khoảng, nhiệt độ có thể xuống đến độ âm vào tháng 12 và tháng 1. Tháng 3 và tháng 4 là những tháng nóng nhất khi nhiệt độ lên đến 34oC. Những tháng mát mẻ nhất là từ tháng 11 đến tháng 2, tức là nửa đầu của mùa khô. Vào thời gian này, mực nước sông Mekong xuống rất thấp, để lộ ra những cù lao và những bờ cát ẩn mình dưới mặt nước trong suốt thời gian còn lại trong năm.

Lượng mưa ở Lào rất khác nhau tùy theo từng vùng trong nước. Tỉnh Luông Phrabang, một tỉnh miền núi phía bắc có lượng mưa hàng năm khoảng 1270mm, trong khi ở cao nguyên Bolovens phía nam là 2540mm.

Nhiều sự kiện văn hóa ở Lào gắn liền với mùa và khí hậu. Ví dụ trong lễ hộ Pháo Thăng thiên (Boun Bang Phay) và tháng 5, người Tây Tạng bắn lên trời những chiếc Pháo tự chế khổng lồ với hi vọng trời sẽ trút mưa xuống; và khi mùa gặt đã xong chính là lúc thích hợp nhất để người ta tổ chức đám cưới.

 

 

19.Khí hậu Thái Lan

Thái Lan có khí hậu nhiệt đới chia làm ba mùa rõ rệt, mùa nóng và khô ráo từ tháng 2 đến tháng 5 (nhiệt độ trung bình 34oC và ẩm độ 75%), mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10 đầy ánh nắng (nhiệt độ trung bình ban ngày 34oC và ẩm độ 87%), và mùa khí hậu mát mẻ từ tháng 11 đến tháng 1 (nhiệt độ trong khoảng 32oC đến dưới 20oC và ẩm độ thấp). Miền Bắc và Đông bắc lạnh hơn vào ban đêm. Miền Nam có nhiệtđộ của rừng mưa nhiệt đới với mức trung bình 28oC hầu như quanh năm. 

 

 20.Khí hậu Malaysia

Malaysia thuộc vùng khí hậu nhiệt đới; quanh năm nắng nóng, mưa nhiều.
Nhiệt độ trung bình giao động từ 24C đến 34C
Độ ẩm 70 - 90 %
Malaysia có hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Mùa khô từ tháng 6-7, mùa mưa từ tháng 10-12.
Khí hậu chịu ảnh hưởng bởi 2 loại gió mùa: gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam.
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 mm đến 4.000 mm

 

 

 

 

21.Khí hậu Singapore

Tổng diện tích chỉ có 648,1km2, trong đó diện tích đất liền là 585,4 km2, còn lại là phần diện tích của 63 hòn đảo nằm rải rác trong biên giới biển. Lượng mưa lớn và độ ẩm cao trong năm phản ánh đúng vị trí địa lý nằm sát với đường xích đạo của Singapore. Thông thường lượng mưa hàng năm là 2.346mm, tuy được phân bổ đều cho cả năm nhưng thường thì tập trung nhiều hơn trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, việc này có thể lý giải cho việc nhiệt độ từ tháng 12 đến tháng 1 thường thấp hơn nhiệt độ trung bình cả năm tuy nhiên cũng hiếm khi xuống thấp quá 20oC.

Dân cư Singapore có 77% là người gốc Hoa, còn lại là người gốc Malay, ấn, và các nước khác, phản ánh sự đa dạng về văn hoá của người Singapore. Là một đất nước phát triển hơi thiên về công nghệ thông tin và dịch vụ, tỷ lệ thất nghiệp của đất nước Singapore rất thấp – chỉ 3,2% - tạo điều kiện cho người dân có mức thu nhập bình quân hàng năm lên đến mức USD 25.490.
Khí hậu Singapore tương đối giống với khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới và nắng quanh năm. Với sự tác động của vùng duyên hải nên nhiệt độ Singapore hầu như duy trì ở mức độ từ 24oC và 32oC. Singapore có độ ẩm rất cao, khoảng 84,4%. Tháng 12 là tháng mưa liên tục, tháng 02 là tháng nắng suốt cả tháng, tháng 07 và tháng 08 là tháng nóng nhất với nhiệt độ cao đạt mức tối đa.

 

22.Khí hậu Úc

Châu Úc nằm ở Bán cầu Nam vì vậy các mùa của nó trái ngược với phí Bắc bán cầu. Khí hậu Úc ấm hơn Châu Âu và Châu Mỹ, Đặc biệt phía bắc có thời tiết nóng ẩm tương tự vùng Đông Nam Á và Thái Bình Dương.

Nước Úc chia ra làm 2 khu vực khí hậu: 40% của Châu Úc thuộc vùng nhiệt đới và phần còn lại thuộc vùng ôn đới.

- Vùng khí hậu nhiệt đới gồm 2 mùa: mùa nóng ẩm từ tháng 11 - tháng 4 và mùa khô từ tháng 5 - tháng 10.

- Vùng khí hậu ôn đới gồm 4 mùa: Mùa xuân (tháng 9 -11), Mùa hè (tháng 12 - 2), Mùa thu (tháng 3 - 5) và Mùa đông (tháng 6 - 8).

Nhiệt độ tháng Giêng (giữa mùa hè) ở các bang Queensland, Northen Territory và Western Australia trung bình khoảng 29oC vào ban ngày và 20oC vào ban đêm. Còn nhiệt độ tháng bảy (giữa mùa đông) ban ngày khoảng 22oC và ban đêm khoảng 10oC.

Ở các bang New South Wales, Victoria, Tasmania và South Australia vào tháng giêng nhiệt độ trung bình ban ngày là 28oC và ban đêm 16oC, còn tháng bảy là 15oC vào ban ngày và 7oC vào ban đêm.

 

 

 

 

 

KHÍ HẬU,THỜI TIẾT MỘT SỐ THÀNH PHỐ LỚN TRÊN THẾ GIỚI

 

1.Sydney-Australia

Sydney có cận nhiệt đới với những mùa hè ấm áp và với mùa đông mát mẻ, với lượng mưa trải đều trong năm. Thời tiết ôn hòa bởi ở gần đại dương, và các nhiệt độ khắc nghiệt hơn được ghi lại ở các vùng ngoại ô phía tây sâu trong lục địa. Tháng ấm nhất là tháng giêng, với nhiệt độ không khí trung bình trên bờ biển là 18,6–25,8°C và trung bình có 14.6 ngày trong năm nhiệt độ bên trên 30 °C. Nhiệt độ cao nhất được ghi lại là 45,3 °C vào ngày 14 tháng 1 năm 1939 vào cuối của một làn sóng nhiệt 4 ngày trên toàn quốc. Mùa đông hơi mát, với nhiệt độ ít khi nào xuống thấp hơn 5 °C trong các khu vực ven biển. Tháng lạnh nhất là tháng 7, với trung bình xê xích 8,0–16,2 °C. Nhiệt độ thấp nhất được ghi lại là 2,1 °C.

Lượng mưa được chia khá đều giữa mùa hèmùa đông, nhưng cao hơn một ít trong suốt nửa đầu của năm, khi gió phía tây thổi nhiều. Lượng mưa trung bình hàng năm, điều hòa ít biến động, là 1217.0 mm, rơi trên trung bình là 138,0 ngày trong 1 năm. Tuyết rơi lần cuối cùng ở khu vực thành phố Sydney là vào thập niên 1830.

Mặc dù thành phố không chịu bão nhiệt đới hay các trận động đất lớn, hiệu ứng El Niño đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định khuôn mẫu thời tiết của Sydney: hạn hán và cháy rừng một mùa, và mưa bão và lụt lội mùa còn lại, liên hệ với các pha trái ngược nhau của sự dao động. Rất nhiều khu vực của thành phố giáp với các khu rừng bụi rậm đã bị ảnh hưởng bởi cháy rừng, đáng kể nhất là trong năm 1994 và 2002 – những lần này thường xảy ra vào mùa xuân hay mùa hè. Thành phố cũng thường bị mưa đá và bão lớn. Một cơn bão như vậy xảy ra ở các vùng ngoại vi phía đông Sydney vào buổi tối 14 tháng 4 năm 1999, tạo ra các hạt mưa đá lớn với các hạt đường kính ít nhất 9 cm và kết quả là bảo hiểm tốn khoảng $1,5 tỉ trong dưới 1 giờ.

Các nghiên cứu gần đây bởi các khoa học gia nghiên cứu về khí hậu tại Đại học Macquarie cho rằng việc khai phá đất ở phía tây Sydney đã góp phần vào những thay đổi lớn trong khí hậu của thành phố.

Trong bảng dưới đây, các giá trị từng tháng là trung bình trên giá trị của từng ngày trong tháng đó.

 

 

 

 

 

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu Sydney

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Năm

Cao kỷ lục °C (°F)

45.3 (114)

42.1 (108)

39.8 (104)

33.9 (93)

30.0 (86)

26.9 (80)

25.9 (79)

31.3 (88)

34.6 (94)

38.2 (101)

41.8 (107)

42.2 (108)

45,3 (114)

Trung bình tối cao °C (°F)

25.9 (79)

25.7 (78)

24.7 (76)

22.4 (72)

19.4 (67)

16.9 (62)

16.3 (61)

17.8 (64)

19.9 (68)

22.1 (72)

23.6 (74)

25.2 (77)

21,7 (71)

Trung bình tối thấp °C (°F)

18.7 (66)

18.8 (66)

17.5 (64)

14.7 (58)

11.5 (53)

9.3 (49)

8.0 (46)

8.9 (48)

11.0 (52)

13.5 (56)

15.6 (60)

17.5 (64)

13,8 (57)

Thấp kỷ lục °C (°F)

10.6 (51)

9.6 (49)

9.3 (49)

7.0 (45)

4.4 (40)

2.1 (36)

2.2 (36)

2.7 (37)

4.9 (41)

5.7 (42)

7.7 (46)

9.1 (48)

2,1 (36)

Lượng mưa mm (inch)

102.0 (4)

117.9 (4.6)

129.4 (5.1)

126.4 (5)

120.7 (4.8)

130.6 (5.1)

97.3 (3.8)

81.2 (3.2)

69.1 (2.7)

77.6 (3.1)

83.1 (3.3)

77.9 (3.1)

1.212,5 (47,7)

 

 

 

 

 

2.Singapore city- Singapore

Singapore là một hòn đảo có hình dạng một viên kim cương bao quanh bởi nhiều đảo nhỏ khác. Có hai con đường nối giữa Singapore và bang Juhor của Malaysia — một con đường nhân tạo có tên Đường nối Johor-Singapor ở phía Bắc, băng qua eo biển Tebrau và chỗ nối thứ hai Tuas, một cầu phía Tây nối với Juhor. Đảo Jurong, Pulau Tekong, Pulau UbinSentosa là những đảo lớn nhất của Singapore, ngoài ra còn có nhiều đảo nhỏ khác. Vị trí cao nhất của Singapore là đồi Bukit Timah với độ cao 166 m.

Vùng thành thị trước đây chỉ tập trung ở khu vực phía Bắc Singapore bao quanh sông Singapore, hiện nay là trung tâm buôn bán của Singapore, trong khi đó những vùng còn lại rừng nhiệt đới ẩm hoặc dùng cho nông nghiệp. Từ thập niên 1960, chính phủ đã xây dựng nhiều đô thị mới ở những vùng xa, tạo nên một Singapore với nhà cửa san sát ở khắp mọi miền, mặc dù Khu vực Trung tâm vẫn là nơi hưng thịnh nhất. Ủy ban Quy hoạch Đô thị là một ban của chính phủ chuyên về các hoạt động quy hoạch đô thị với nhiệm vụ là sử dụng và phân phối đất hiệu quả cũng như điều phối giao thông. Ban đã đưa ra quy hoạch chi tiết cho việc sử dụng đất ở 55 khu vực.

Singapore đã mở mang lãnh thổ bằng đất lấy từ những ngọn đồi, đáy biển và những nước lân cận. Nhờ đó, diện tích đất của Singapore đã tăng từ 581,5 km² ở thập niên 1960 lên 697,25 km² ngày nay (xấp xỉ diện tích huyện Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh)), và có thể sẽ tăng thêm 100 km² nữa đến năm 2030.

Singapore có khí hậu xích đạo ẩm với các mùa không phân biệt rõ rệt. Đặc điểm của loại khí hậu này là nhiệt độ và áp suất ổn định, độ ẩm cao và mưa nhiều. Nhiệt độ thay đổi trong khoảng 22°C đến 31 °C (72°–88°F). Trung bình, độ ẩm tương đối khoảng 90% vào buổi sáng và 60% vào buổi chiều. Trong những trận mưa lớn kéo dài, độ ẩm tương đối thường đạt 100%. Nhiệt độ cao nhất và thấp nhất đã từng xuất hiện là 18,4 °C (65,1 °F) và 37,8 °C (100,0 °F).

Sự đô thị hóa đã làm biến mất nhiều cánh rừng mưa nhiệt đới một thời, hiện nay chỉ còn lại một trong số chúng là Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bukit Timah. Tuy nhiên, nhiều công viên đã được gìn giữ với sự can thiệp của con người, ví dụ như Vườn Thực vật Quốc gia. Không có nước ngọt từ sông và hồ, nguồn cung cấp nước chủ yếu của Singapore là từ những trận mưa rào được giữ lại trong những hồ chứa hoặc lưu vực sông. Mưa rào cung cấp khoảng 50% lượng nước, phần còn lại được nhập khẩu từ Malaysia hoặc lấy từ nước tái chế - một loại nước có được sau quá trình khử muối. Nhiều nhà máy sản xuất nước tái chế đang được đề xuất và xây dựng nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu.

 

 

 

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu Singapore

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Năm

Trung bình tối cao °C (°F)

29.9 (86)

31.0 (88)

31.4 (89)

31.7 (89)

31.6 (89)

31.2 (88)

30.8 (87)

30.8 (87)

30.7 (87)

31.1 (88)

30.5 (87)

29.6 (85)

30,9 (88)

Trung bình tối thấp °C (°F)

23.1 (74)

23.5 (74)

23.9 (75)

24.3 (76)

24.6 (76)

24.5 (76)

24.2 (76)

24.2 (76)

23.9 (75)

23.9 (75)

23.6 (74)

23.3 (74)

23,9 (75)

Lượng mưa mm (inch)

198 (7.8)

154 (6.1)

171 (6.7)

141 (5.6)

158 (6.2)

140 (5.5)

145 (5.7)

143 (5.6)

177 (7)

 

 

 

 

 

 

 

 

3.Hà Nội-Việt Nam

Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa. Thuộc vùng nhiệt đới, thành phố quanh nǎm tiếp nhận lượng bức xạ Mặt Trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao. Và do tác động của biển, Hà Nội có độ ẩmlượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một năm. Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh. Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 28,1 °C. Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là khí hậu của mùa đông với nhiệt độ trung bình 18,6 °C. Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4tháng 10, thành phố có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông.

Khí hậu Hà Nội cũng ghi nhận những biến đổi bất thường. Vào tháng 5 năm 1926, nhiệt độ tại thành phố được ghi lại ở mức kỷ lục 42,8 °C. Tháng 1 năm 1955, nhiệt độ xuống mức thấp nhất, 2,7 °C. Đầu tháng 11 năm 2008, một trận mưa kỷ lục đổ xuống các tỉnh miền Bắc và miền Trung khiến 18 cư dân Hà Nội thiệt mạng và gây thiệt hại cho thành phố khoảng 3.000 tỷ đồng.

 

 

 

 

 

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu Hà Nội

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Trung bình tối cao °C (°F)

19 (66)

19 (67)

22 (72)

27 (80)

31 (87)

32 (90)

32 (90)

32 (89)

31 (88)

28 (82)

24 (76)

22 (71)

Trung bình tối thấp °C (°F)

14 (58)

16 (60)

18 (65)

22 (71)

25 (77)

27 (80)

27 (80)

27 (80)

26 (78)

23 (73)

19 (66)

16 (60)

Lượng mưa mm (inch)

20.1 (0.79)

30.5 (1.20)

40.6 (1.60)

80 (3.15)

195.6 (7.70)

240 (9.45)

320 (12.6)

340.4 (13.4)

254 (10.0)

100.3 (3.95)

40.6 (1.60)

20.3 (0.80)

 

 

 

4.Thượng Hải-Trung Quốc

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu Thượng Hải (1971-2000)

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Năm

Trung bình tối cao °C (°F)

8.1 (47)

9.2 (49)

12.8 (55)

19.1 (66)

24.1 (75)

27.6 (82)

31.8 (89)

31.3 (88)

27.2 (81)

22.6 (73)

17.0 (63)

11.1 (52)

20,2 (68)

Trung bình tối thấp °C (°F)

1.1 (34)

2.2 (36)

5.6 (42)

10.9 (52)

16.1 (61)

20.8 (69)

25.0 (77)

24.9 (77)

20.6 (69)

15.1 (59)

9.0 (48)

3.0 (37)

12,9 (55)

Lượng mưa mm (inch)

50.6 (2)

56.8 (2.2)

98.8 (3.9)

89.3 (3.5)

102.3 (4)

169.6 (6.7)

156.3 (6.2)

157.9 (6.2)

137.3 (5.4)

62.5 (2.5)

46.2 (1.8)

37.1 (1.5)

1.164,5 (45,8)

 

 

 

 

5.Tokyo-Nhật Bản

Tokyo nằm ở vành đai khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa hè ẩm ướt và mùa đông dịu mát với những đợt rét. Lượng mưa bình quân là 1,380mm. Lượng tuyết ít nhưng vẫn thường xuyên diễn ra .Tokyo là một ví dụ điển hình cho loại khí hậu nhiệt đô thị đảo, dân số đông góp một phần quan trọng đến khí hậu thành phố. Tokyo được xem là "một ví dụ thuyết phục cho mối quan hệ giữa sự tăng trưởng đô thị và khí hậu". Tokyo cũng thường có bão hàng năm, nhưng phần lớn là bão yếu.

Tokyo từng hứng chịu các trận động đất vào năm 1703, 1782, 1812, 1855 và 1923. Trận động đất năm 1923 với cường độ 8,3 đã giết chết 142.000 người.

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu Tokyo, Nhật Bản (1971-2000)

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Năm

Trung bình tối cao °C (°F)

9.8 (50)

10.0 (50)

12.9 (55)

18.4 (65)

22.7 (73)

25.2 (77)

29.0 (84)

30.8 (87)

26.8 (80)

21.6 (71)

16.7 (62)

12.3 (54)

19,7 (67)

Trung bình tối thấp °C (°F)

2.1 (36)

2.4 (36)

5.1 (41)

10.5 (51)

15.1 (59)

18.9 (66)

22.5 (73)

24.2 (76)

20.7 (69)

15.0 (59)

9.5 (49)

4.6 (40)

12,5 (55)

Lượng mưa mm (inch)

48.6 (1.9)

60.2 (2.4)

114.5 (4.5)

130.3 (5.1)

128.0 (5)

164.9 (6.5)

161.5 (6.4)

155.1 (6.1)

208.5 (8.2)

163.1 (6.4)

92.5 (3.6)

39.6 (1.6)

1.466,7 (57,7)

 

 

 

 

 

 

 

6.Seoul-Hàn Quốc

Cũng giống như phần lớn các vùng khác ở Hàn Quốc, Seoul có khí hậu ôn hòakhí hậu lục địa, bất chấp việc Hàn Quốc bị vung quanh bởi ba mặt đều là biển. Mùa hè bình thường khí hậu nóng và ẩm, với mùa mưa kéo dài từ tháng 6 đến tháng 9. Tháng 8, tháng nóng nhất trong năm, có nhiệt độ trung bình từ 22 °C đến 30 °C (72 °F đến 86 °F) và cũng có thể nóng hơn. Mùa đông thường rất lạnh nếu so sánh với các vùng ở cùng vĩ độ, với nhiệt độ trung bình tháng giêng từ -10 °C đến 1 °C (19 °F đến 33 °F), mùa đông bình thường thì khô hơn rất nhiều so với mùa hè dù bình thường trong một năm ở Seoul có khoảng 28 ngày là có tuyết.

 

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu Seoul (1971-2000)

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Năm

Trung bình tối cao °C (°F)

1.6 (35)

4.1 (39)

10.2 (50)

17.6 (64)

22.8 (73)

26.9 (80)

28.8 (84)

29.5 (85)

25.6 (78)

19.7 (67)

11.5 (53)

4.2 (40)

16,9 (62)

Trung bình tối thấp °C (°F)

-6.1 (21)

-4.1 (25)

1.1 (34)

7.3 (45)

12.6 (55)

17.8 (64)

21.8 (71)

22.1 (72)

16.7 (62)

9.8 (50)

2.9 (37)

-3.4 (26)

8,2 (47)

Lượng mưa mm (inch)

21.6 (0.9)

23.6 (0.9)

45.8 (1.8)

77.0 (3)

102.2 (4)

133.3 (5.2)

327.9 (12.9)

348.0 (13.7)

137.6 (5.4)

49.3 (1.9)

53.1 (2.1)

24.9 (1)

1.344,3 (52,9)

 

 

 

 

 

 

 

 

7.Bắc Kinh-Trung Quốc

Khí hậu của Bắc Kinh là dạng khí hậu lục địa ẩm chịu ảnh hưởng của gió mùa, đặc điểm là mùa hè nóng và ẩm ướt do tác động của gió mùa Đông Á, mùa đông thì lạnh, khô và nhiều gió phản ánh ảnh hưởng của áp thấp vùng Siberi. Nhiệt độ cao ban ngày trung bình tháng Một là 1.6 °C (34.9 °F), trong khi thông số tương tự cho tháng Bảy 30.8 °C (87 °F). Lượng mưa hàng năm vào khoảng 580 mm (22.8 in), trong đó phần lớn mưa vào các tháng mùa hè. Nhiệt độ cao nhất từng đo được là 42 °C (108 °F) và thấp nhất là −27 °C (−17 °F).

 

 

8.Rome-Italia

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu sân bay Roma-Ciampino, gần trung tâm thành phố (1961–1990)

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Năm

Trung bình tối cao °C (°F)

11.8 (53)

13.0 (55)

15.2 (59)

18.1 (65)

22.9 (73)

27.0 (81)

30.4 (87)

30.3 (87)

26.8 (80)

21.8 (71)

16.3 (61)

12.6 (55)

20,5 (69)

Trung bình tối thấp °C (°F)

2.7 (37)

3.5 (38)

5.0 (41)

7.5 (46)

11.1 (52)

14.7 (58)

17.4 (63)

17.5 (64)

14.8 (59)

10.8 (51)

6.8 (44)

3.9 (39)

10,0 (50)

Lượng mưa mm (inch)

102.6 (4)

98.5 (3.9)

67.5 (2.7)

65.4 (2.6)

48.2 (1.9)

34.4 (1.4)

22.9 (0.9)

32.8 (1.3)

68.1 (2.7)

93.7 (3.7)

129.6 (5.1)

111.0 (4.4)

874,7 (34,4)

 

 

 

 

9.Berlin- Đức

Thành phố nằm trong vùng khí hậu ôn hòa. Nhiệt độ trung bình cả năm ở Berlin-Dalem là 9,2 °C và lượng mưa trung bình hằng năm là 579 mm.

Các tháng nóng nhất trong năm là tháng 7 và tháng 8 với nhiệt độ bình quân là 18,4 hay 17,8 °C, tháng lạnh nhất trong năm: tháng 1 và tháng 2, nhiệt độ trung bình là 0,5 và 1,2 độ Celsius.

Tháng 7 là tháng có mưa nhiều nhất, trung bình là 67 mm, tháng có mưa ít nhất là tháng 2, trung bình 36 mm.

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu Berlin

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Trung bình tối cao °C (°F)

3 (37)

4 (39)

9 (48)

13 (55)

19 (66)

22 (72)

24 (75)

24 (75)

19 (66)

13 (55)

7 (45)

4 (39)

Trung bình tối thấp °C (°F)

-2 (28)

-2 (28)

-1 (30)

4 (39)

9 (48)

12 (54)

14 (57)

14 (57)

11 (52)

6 (43)

2 (36)

0 (32)

Lượng mưa mm (inch)

42 (1.7)

33 (1.3)

41 (1.6)

37 (1.5)

54 (2.1)

69 (2.7)

56 (2.2)

58 (2.3)

45 (1.8)

37 (1.5)

44 (1.7)

55 (2.2)

 

 

 

 

10.Moscow-Liên Bang Nga

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu Moscow (1971–2000), records (1879–the present)

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Năm

Cao kỷ lục °C (°F)

8.6 (47)

8.3 (47)

17.5 (64)

28.0 (82)

33.2 (92)

34.7 (94)

36.5 (98)

36.8 (98)

32.3 (90)

24.0 (75)

12.6 (55)

9.6 (49)

36,8 (98)

Trung bình tối cao °C (°F)

-4.9 (23)

-3.5 (26)

2.2 (36)

10.8 (51)

18.2 (65)

22.1 (72)

23.2 (74)

21.3 (70)

15.1 (59)

8.1 (47)

0.6 (33)

-3.1 (26)

9,2 (49)

Trung bình tối thấp °C (°F)

-10.3 (13)

-9.9 (14)

-4.7 (24)

2.1 (36)

7.4 (45)

12.0 (54)

13.8 (57)

12.0 (54)

7.0 (45)

2.0 (36)

-3.7 (25)

-7.9 (18)

1,7 (35)

Thấp kỷ lục °C (°F)

-42.2 (-44)

-38.2 (-37)

-32.4 (-26)

-21.0 (-6)

-7.5 (19)

-2.3 (28)

1.3 (34)

-1.2 (30)

-8.5 (17)

-16.1 (3)

-32.8 (-27)

-38.8 (-38)

-42,2 (-44)

Lượng mưa mm (inch)

46 (1.8)

36 (1.4)

33 (1.3)

38 (1.5)

52 (2)

84 (3.3)

90 (3.5)

80 (3.1)

67 (2.6)

66 (2.6)

60 (2.4)

53 (2.1)

705 (27,

 

 

 

 

11.London-Vương Quốc Anh

Luân Đôn nằm trong vùng khí hậu ôn đới đại dương, giống như phần lớn đảo Anh, thành phố ít khi chứng kiến nền nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp. Mùa hè ở Luân Đôn có thời tiết ấm áp với nhiệt độ cao tháng Bảy là 22.8 °C (73.0 °F) và thấp là 14.0 °C (57.2 °F). Nhiệt độ có thể vượt mức 25 °C (77 °F) trong nhiều ngày nhưng hầu hết các năm thì nhiệt độ chỉ vượt ngưỡng 30 °C (86 °F) vài ngày. Nhiệt độ cao nhất từng được ghi nhận tại thành phố này là 38 °C (100 °F) vào năm 2003.

Mùa đông ở Luân Đôn lạnh nhưng hiếm khi xuống dưới mức đóng băng với nhiệt đô cao ban ngày vào khoảng 5 °C (41 °F) – 8 °C (46 °F), mùa xuân thì mát mẻ vào ban ngày và se lạnh vào buổi chiều. Nhiệt độ thấp nhất từng ghi nhận là −21.1 °C (−6 °F) vào tháng Một năm 1795. Mùa thu thời tiết thường mát và không ổn định do có sự đối lưu giữa luồng khí mát từ bắc cực và luồng khí ấm từ chí tuyến. Luân Đôn là một thành phố tương đối khô với lương mưa nhẹ khoảng 583.6 millimetres hàng năm.

Luân Đôn thường ít khi có tuyết, chủ yếu bởi nhiệt độ từ các khu vực xung quanh làm Luân Đôn ấm hơn khoảng 5 °C (9 °F) so với các vùng xung quanh. Tuy nhiên, những trận mưa tuyết thường diễn ra vài lần trong năm. Luân Đôn thường ít xảy ra thiên tai, nhưng một vài trận thiên tai cũng đã diễn ra, ví dụ như trận bão lớn năm 1987.

Vào nửa sau thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, Luân Đôn được biết đến là thành phố sương mù vì lượng sương mù và khói dày đặc. Sau một trận sương mù năm 1952, đạo luật làm sạch không khí được thông qua năm 1962, điều này đã làm giảm đáng kể ô nhiễm môi trường trong thành phố.

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu London (Greenwich)

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Năm

Trung bình tối cao °C (°F)

7.9 (46)

8.2 (47)

10.9 (52)

13.3 (56)

17.2 (63)

20.2 (68)

22.8 (73)

22.6 (73)

19.3 (67)

15.2 (59)

10.9 (52)

8.8 (48)

14,8 (59)

Trung bình tối thấp °C (°F)

2.4 (36)

2.2 (36)

3.8 (39)

5.2 (41)

8.0 (46)

11.1 (52)

13.6 (56)

13.3 (56)

10.9 (52)

8.0 (46)

4.8 (41)

3.3 (38)

7,2 (45)

Lượng mưa mm (inch)

51.9 (2)

34.0 (1.3)

42.0 (1.7)

45.2 (1.8)

47.2 (1.9)

53.0 (2.1)

38.3 (1.5)

47.3 (1.9)

56.9 (2.2)

61.5 (2.4)

52.3 (2.1)

54.0 (2.1)

583,6 (23)

 

 

 

 

12.Paris-Pháp

Paris có khí hậu ôn đới đại dương. Ảnh hưởng của đại dương chiếm ưu thế, thể hiện như: mùa hè mát, trung bình 18°C; mùa đông không quá lạnh, trung bình 6 °C; các mùa đều mưa nhiều và thời tiết thất thường. Lượng mưa trung bình ở Paris là 641 mm. Mưa tuyết không nhiều, chủ yếu vào những tháng lạnh nhất như tháng 1, tháng 2, nhưng đôi khi vào tận tháng 4. Tuy vậy khí hậu Paris cũng đôi khi đột biến. Nhiệt độ cao nhất ghi được tại đây là vào ngày 28 tháng 6 năm 1948, lên đến 40,4 °C. Còn nhiệt độ thấp nhất ghi lại được vào ngày 10 tháng 12 năm 1879, xuống tới -23,9 °C.Mùa hè năm 2003, cùng với châu Âu, Paris cũng phải chịu một trận nắng nóng lịch sử.

 

 

 

 

 

Nuvola apps kweather.png  Dữ liệu trạm khí tượng Paris-Montsouris 1961-1990

Tháng

 1

 2

 3

 4

 5

 6

 7

 8

 9

10

11

12

Năm

Nhiệt độ thấp nhất trung bình (°C)

2,0

2,6

4,5

6,7

10,1

13,2

15,2

14,8

12,6

9,4

5,2

2,9

8,3

Nhiệt độ trung bình (°C)

4,2

5,3

7,8

10,6

14,3

17,4

19,6

19,2

16,7

12,7

7,7

5,0

11,7

Nhiệt độ cao nhất trung bình (°C)

6,3

7,9

11,0

14,5

18,4

21,6

23,9

23,6

20,8

16,0

10,1

7,0

15,1

Lượng mưa trung bình (mm)

55.0

45.4

52.2

49.5

62.0

53.2

58.3

46.0

52.9

54.9

57.0

55.1

641.6

 

 

 

 

 

 

 

 

 

13.Ottawa-Canada

Ottawa có một khí hậu đại lục ẩm ướt (Koppen Dfb) với nhiệt độ cao nhất là 37.8 °C (100 °F) vào mùa hè năm 1986 và 2001, thấp nhất là -38.9 °C (-38 °F) vào ngày 29 tháng 12 năm 1933, và là thủ đô lạnh hàng thứ nhì trên thế giới (sau Ulaanbaatar, Mongolia). Với khí hậu đặc biệt này, Ottawa rất hãnh diện về các hoạt động hàng năm nhưng cũng có yêu cầu đa dạng về quần áo. Tuy nhiên vì khí hậu vào mùa hè rất ấm áp nên Ottawa chỉ xếp hạng thứ 7 trong các thủ đô lạnh nhất thế giới căn cứ vào nhiệt độ trung bình hàng năm, nhưng nếu dựa vào nhiệt độ trung bình của tháng 1 thì Ottawa xếp hạng 3 sau Ulaanbaatar, MongoliaAstana, Kazakhstan.

Tuyết và băng nước đá có ảnh hưởng lớn đến Ottawa vào mùa Đông. Lượng tuyết hàng năm tại Ottawa vào khoảng 235 cm (93 in). Ngày có nhiều tuyết rơi nhất được ghi lại là 4 tháng 3 năm 1947 với 73 cm (2.5 feet). Nhiệt độ trung bình tháng 1 là -10.8 °C (13 °F), ban ngày nhiệt độ trên 0 °C và ban đêm lạnh dưới -25 °C (-13 °F) vào mùa Đông. Mùa tuyết rơi hàng năm thay đổi thất thường. Thông thường tuyết bao phủ mặt đất từ giữa tháng 12 đến đầu tháng 4, nhưng cũng có năm tuyết chỉ rơi sau lễ Giáng sinh, nhất là những năm gần đây. Năm 2007 thật đáng chú ý vì mãi đến gần cuối tháng 1 mới có tuyết rơi. Những cơn gió lạnh cóng trung bình hàng năm là 51, 14 và 1 với những ngày nhiệt độ xuống dưới -20 °C (-4 °F), -30 °C (-22 °F) và -40 °C (-40 °F) theo thứ tự. Cơn gió lạnh nhất được ghi lại là -47.8 °C (-54.0 °F) vào ngày 8 tháng 1 năm 1968.

Ottawa và những nơi khác của Canada thường có những cơn mưa đóng băng. Trận bão đóng băng năm 1998 là một cơn bão lớn đã làm cúp điện và ảnh hưởng đến nền kinh tế địa phương.

Mùa hè thường ấm áp và ẩm ướt tại Ottawa mặc dù rất ngắn ngủi. Nhiệt độ trung bình cao nhất của tháng 7 là 26.5 °C (80 °F) với dòng không khí lạnh bất ngờ đến từ hướng Bắc đã hạ thấp độ ẩm ướt với nhiệt độ khoảng 30 °C (86 °F) hoặc cao hơn. Nhiệt độ cao nhất được ghi lại là 39.5 °C (103 °F) vào mùa hè năm 2005 ở vài địa điểm. Thời tiết nóng bức thường tăng thêm độ ẩm ướt đặc biệt là các khu vực gần sông ngòi. Ottawa hàng năm có 41, 12 và 2 ngày với độ ẩm ướt trên 30 °C (86 °F), 35 °C (95 °F) và 40 °C (104 °F) theo thứ tự. Ngày có độ ẩm ướt cao nhất 48 °C (118 °F) là 1 tháng 8 năm 2006.

 

 

 

14.Los Angeles-bang California Mỹ

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu Los Angeles (LAX)

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Năm

Trung bình tối cao °F (°C)

65.7 (19)

65.8 (19)

65.5 (19)

67.5 (20)

69.1 (21)

72.0 (22)

75.4 (24)

76.6 (25)

76.6 (25)

74.5 (24)

70.3 (21)

65.8 (19)

70,4 (21)

Trung bình tối thấp °F (°C)

47.8 (9)

49.3 (10)

50.5 (10)

52.9 (12)

56.3 (13)

59.5 (15)

62.8 (17)

64.2 (18)

63.1 (17)

59.2 (15)

52.9 (12)

47.8 (9)

55,5 (13)

Lượng mưa inch (mm)

2.4 (61.0)

2.5 (63.8)

2 (50.3)

0.7 (18.3)

0.1 (3.60)

0 (0.80)

0 (0.30)

0.1 (3.80)

0.3 (7.90)

0.3 (8.60)

1.8 (44.7)

1.7 (42.2)

12 (305,3)

 

 

 

 

 

15.New York-Bang New York-Mỹ

Theo phân loại khí hậu Köppen, New York có khí hậu bán nhiệt đới ẩm, trung bình có 234 ngày nắng trong năm. Đây là thành phố chính vùng cực bắc tại Bắc Mỹ có khí hậu bán nhiệt đới ẩm.

Mùa hè ở New York có đặc điểm là nóng và ẩm, nhiệt độ cao trung bình từ 26 – 29 °C (79 đến 84 °F) và thấp trung bình từ 17 – 21 °C (63 đến 69 °F). Tuy nhiên trung bình cũng có đến từ 16 đến 19 ngày nhiệt độ vượt trên 32 °C (90 °F) trong mỗi mùa hè và có thể vượt trên 38 °C (100 °F) cứ mỗi 4 đến 6 năm. Vào mùa đông, thời tiết lạnh và những cơn gió thổi ngoài biển có lúc làm giảm ảnh hưởng của Đại Tây Dương. Tuy nhiên, Đại Tây Dương giúp cho thành phố ấm vào mùa đông hơn các thành phố trong nội địa Bắc Mỹ nằm trên cùng vĩ tuyến như Chicago, PittsburghCincinnati. Nhiệt độ trung bình trong tháng 1, tháng lạnh nhất ở Thành phố New York, là 0 °C (32 °F). Tuy nhiên cũng có ít ngày, nhiệt độ mùa đông xuống hàng -12 đến hàng -6 °C (10 đến 20 °F) và cũng có ít ngày nhiệt độ lên cao từ 10 đến 15 °C (50 đến 60 °F). Mùa xuân và mùa thu, thời tiết khá thất thường, có thể lạnh cóng hoặc ấm mặc nhưng thường dễ chịu với độ ẩm ít.

New York có lượng mưa hàng năm khoảng 1.260 mm (49,7 inch), trải khá đều suốt năm. Tuyết rơi vào mùa đông trung bình khoảng 62 cm (24,4 in), nhưng thường khá biến đổi từ năm này sang năm khác và tuyết phủ mặt đất thường rất ngắn. Tuy hiếm gặp, nhưng đôi khi vùng New York cũng phải hứng chịu những cơn bão.

 

 

 

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu Thành phố New York - Công viên Trung tâm

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Năm

Cao kỷ lục °F (°C)

72 (22)

75 (24)

86 (30)

96 (36)

99 (37)

101 (38)

106 (41)

104 (40)

102 (39)

94 (34)

84 (29)

75 (24)

106 (41)

Trung bình tối cao °F (°C)

38 (3)

41 (5)

50 (10)

61 (16)

71 (22)

79 (26)

84 (29)

82 (28)

75 (24)

64 (18)

53 (12)

43 (6)

62 (17)

Trung bình tối thấp °F (°C)

26 (-3)

28 (-2)

35 (2)

44 (7)

54 (12)

63 (17)

69 (21)

68 (20)

60 (16)

50 (10)

41 (5)

32 (0)

48 (9)

Thấp kỷ lục °F (°C)

-6 (-21)

-15 (-26)

3 (-16)

12 (-11)

28 (-2)

44 (7)

52 (11)

50 (10)

39 (4)

28 (-2)

7 (-14)

-13 (-25)

-15 (-26)

Lượng mưa inch (mm)

4.13 (104.9)

3.15 (80)

4.37 (111)

4.28 (108.7)

4.69 (119.1)

3.84 (97.5)

4.62 (117.3)

4.22 (107.2)

4.23 (107.4)

3.85 (97.8)

4.36 (110.7)

3.95 (100.3)

49,7

 

 

 

 

16.Washington D.C.- Mỹ

Washington có khí hậu nửa nhiệt đới, ẩm ướt  đây là khí hậu đặc trưng của khu vực các tiểu bang giữa duyên hải Đại Tây Dương , có bốn mùa rõ rệt. Đặc khu nằm trong vùng chịu đựng nhiệt độ (Hardiness zone) cấp 8a gần trung tâm thành phố, và vùng chịu đựng nhiệt độ cấp 7b ở những nơi khác trong thành phố. Điều này chứng tỏ Washington, D.C. có một khí hậu ôn hòa. Mùa xuân và mùa thu khí hậu dịu, ít ẩm ướt trong khi mùa đông mang đến nhiệt độ khá lạnh và lượng tuyết rơi trung bình hàng năm là 16,6 in (420 mm). Nhiệt độ thấp trung bình vào mùa đông là quanh 30 °F (-1 °C) từ giữa tháng 12 đến giữa tháng 2. Những cơn bão tuyết gây ảnh hưởng cho Washington trung bình xảy ra cứ mỗi bốn đến sáu năm một lần. Những cơn bão mạnh nhất được gọi là "nor'easter" thường có đặc điểm là gió mạnh, mưa nhiều và đôi khi có tuyết. Những cơn bão này thường ảnh hưởng đến phần lớn vùng ven biển Đông Hoa Kỳ.

Mùa hè có chiều hướng nóng và ẩm, nhiệt độ trung bình hàng ngày trong tháng 7 và tháng 8 vào khoảng 80-89 °F (khoảng 26,7-31,7 °C). Sự kết hợp giữa nóng và ẩm trong mùa hè mang đến những cơn bão kèm sấm chớp rất thường xuyên. Một số cơn bão lớn đôi khi tạo ra lốc xoáy trong khu vực. Trong khi đó các cơn bão nhiệt đới (hurricane), hay tàn dư của nó, đôi khi hoành hành trong khu vực vào cuối hè và đầu thu. Thường thì chúng bị yếu dần khi đến Washington, một phần vì vị trí của thành phố nằm bên trong đất liền. Tuy nhiên lụt lội trên sông Potomac do sự kết hợp của thủy triều cao, sóng biển dâng lên cao lúc có bão được biết đến là đã nhiều lần gây thiệt hại tài sản nặng nề tại Georgetown.

Nhiệt độ cao nhất kỷ lục tại Washington, D.C. là 106 °F (41 °C) được ghi nhận vào ngày 20 tháng 7 năm 1930 và ngày 6 tháng 8 năm 1918, trong khi nhiệt độ thấp nhất kỷ lục là −15 °F (−26.1 °C) được ghi nhận vào trong trận bão tuyết ngày 11 tháng 2 năm 1899. Trung bình, mỗi năm thành phố có 36,7 ngày nóng trên 90 °F (32 °C), và 64,4 đêm dưới độ đóng băng.

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu Washington, D.C.

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Năm

Cao kỷ lục °F (°C)

79 (26)

84 (29)

93 (34)

95 (35)

99 (37)

102 (39)

106 (41)

106 (41)

104 (40)

96 (36)

86 (30)

79 (26)

106 (41)

Trung bình tối cao °F (°C)

42 (6)

47 (8)

56 (13)

66 (19)

75 (24)

84 (29)

88 (31)

86 (30)

79 (26)

68 (20)

57 (14)

47 (8)

66 (19)

Trung bình tối thấp °F (°C)

27 (-3)

30 (-1)

37 (3)

46 (8)

56 (13)

65 (18)

70 (21)

69 (21)

62 (17)

50 (10)

40 (4)

32 (0)

49 (9)

Thấp kỷ lục °F (°C)

-14 (-26)

-15 (-26)

4 (-16)

15 (-9)

33 (1)

43 (6)

52 (11)

49 (9)

36 (2)

26 (-3)

11 (-12)

-13 (-25)

-15 (-26)

Lượng mưa inch (mm)

3.2 (81.3)

2.6 (66)

3.6 (91.4)

2.8 (71.1)

3.8 (96.5)

3.1 (78.7)

3.6 (91.4)

3.4 (86.4)

3.8 (96.5)

3.2 (81.3)

3.0 (76.2)

3.0 (76.2)

39,1 (993,1)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KHÍ HẬU VIỆT NAM

 

 

Việt Nam nằm  hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới nửa cầu bắc,thiên về chí tuyến hơn xích đạo.Vị trí đó đã tạo cho Việt Nam một nền nhiệt độ khá cao.nhiệt độ trung bình năm từ 22 đến 27 độ.Hằng năm có khoảng 100 ngày mưa với lượng mưa trung bình từ 1500 đến 2000mm.Độ ẩm không khí trên dưới 80%.Số giờ nắng khoảng 1400-3000 giờ,nhiệt bức xạ trung bình năm là dưới 1 triệu kacl/m2.

Chế độ gió mùa cũng làm cho tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của thiên nhiên Việt Nam thay đổi.Nhìn chung,Việt Nam có một mùa nóng,mưa nhiều và một mùa tương đối lạnh và ít mưa.Trên nền chung đó,khí hậu của các tỉnh phía Bắc (từ đèo Hải Vân trở ra miền Bắc )thay đổi theo 4 mùa khá rõ rệt là xuân,hạ,thu,đông.Việt Nam chịu tác động của gió mùa đông bắc nên nhiệt độ chung bình thấp hơn nhiệt độ trung bình nhiều nước khác cùng vĩ độ như châu Á.So với các nước này thì ở Việt Nam nhiệt độvề mùa đông lạnh hơn và mùa hạ ít nóng hơn.

Do ảnh hưởng của gió mùa cũng như sự phức tạp của địa hình nên khí hậu của Việt Nam luôn luôn thay đổi trong năm,giữa năm này với năm khác và nơi này với nơi khác (từ bắc xuông nam,từ thấp lên cao).Khí hậu của Việt Nam cũng tạo ra những bất lợi về thời tiết như bão (trung bình một năm có 6-10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới,lũ lụt và hạn hán…)

 

 

I.Đặc trưng khí hậu Việt Nam

Căn cứ vào hệ thống phân tích phức tạp trong hoạt động của các hoàn lưu lớn (gió mùa,tín phong) cùng các hệ thống sơn văn lớn,người at chia khí hậu lãnh thổ Việt Nam ra thành 3 miền chính và một miền phụ là khí hậu biển Đông.

1.Miền khí hậu phía Bắc

Được xác định là bao gồm phần phía bắc lãnh thổ Việt Nam,tính từ Hoàng Sơn (đèo ngang) ở khoảng vĩ tuyến 18 độ bắc trở ra.Tại khu vực này thường xuyên một loại hình khí hậu đặc biệt:khí hậu nhiệt đới gió màu có mùa đông lạnh.

Mặc dù chỉ có 3 tháng nhiệt độ trung bình dưới 20 độ (tính cho các khu vực đồng bằng,ở các vùng núi cao có thể kéo dài hơn) nhưng cũng không có ít những ngày rét liên tục dưới 5 độ.Nhiệt độ thấp nhất ở vùng núi có thể xuống dưới OO ,tất nhiên các đỉnh núi cao trên dãy Phanxipang nhiệt độ còn thấp hơn thế nữa.Vào những ngày nhiệt độ xuống thấp nhất ở Sa Pa đã thấy có tuyết.

Ở đồng bằng lấy Hà Nội làm chuẩn nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất vào khoảng 16 đến 17 độ,nhiệt độ tối thấp xuống đến 2,6 độ.Biên độ nhiệt trung bình năm 14-160 như vậy là vượt giới hạn của miền nhiệt đới.

Có hai yếu tố ảnh hưởng đến đặc tính mùa đông của khí hậu phía bắc.Thứ nhất là trong mùa đông cũng xuất hiện nhiều đợt nắng ấm,đạt tỉ lệ gần 50% số ngày trong mùa.Thứ hai là tuy về nguyên tắc mùa khô nhưng vào cuối đông,sựu xâm nhập của gió màu cực đới thỉnh thoảng đem lại những ngày có mưa nhỏ,loại mưa phùn hay mưa bụi như vẫn quen gọi này đã làm cho mùa khô bị rút ngắn.Có thể coi thời gian từ cuối tháng 1 đến giữa tháng 3 là thời kỳ ẩm ướt nhất trong năm,là thời kỳ không có lợi cho con người nhưng có lợi cho thực vật và cây trồng.

Cũng như các miền khác,mùa hè miền Bắc là mùa mưa,kéo dài theo nguyên tắc từ tháng 4 đến tháng 10.Đây là màu có những nhiệt độ cao nhất trong năm:nhiệt độ tối cao trung bình lên tới 31 độ đến 32 độ,nhiệt độ tối cao tuyệt đối vượt mức 42 độ (Hà Nội:42,8 độ).Các tháng có mùa mưa lớn nhất là 7,8,9,mỗi tháng riêng ở Hà nội nhận được trên 30mm nước.Lượng mưa mùa mưa mùa mưa ở đây chiếm khoảng 80% lượng mưa trong năm và số ngày mưa chiếm 70% số ngày mưa trong năm.

Tuy nhiê,một trong những nét đặc thù của khí hậu miền bắc là tính theeisu ổn định của nó.mùa khô hay mùa mưa có thể bắt đầu hoặc kết thúc sớm hay muộn so với bình thường \.Trong mùa đông có thể coi là thời kỳ nắng ấm,trong mùa hè có thể có những ngày khô hạn \,đặc biệt à khi gió Tây thổi.Dông,bão,hội tụ nhiệt đới thường làm đảo lộn quy luật thông thường các yếu tố khí hậu,điều đó làm cho việc dự báo thời tiết trở nên khó khăn.

 

2.Miền khí hậu phía Nam

Bao gòm lãnh thổ sườn Tây dãy Trường Sơn,đông Nam Bộ và Đồng bằng Nam bộ .So với miền khí hậu phái bắc thì miền khí hậu phía Nam đơn giản hơn nhiều và đặc trưng cho khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình.

Do nằm ngoài ảnh hưởng của gió màu cực đới,lãnh thổ miền Nam quanh năm có nền nhiệt độ cao .Trên thực tế không có khái niệm mùa nhiệt ở đây.Nhiệt độ trung bình hàng năm ở vùng đồng bằng vào khoảng 26 đến 27 độ ,biên độ nhiệt giữa các tháng nóng nhất và lạnh nhất chỉ khoảng 3 đến 4 độ.

Sự phân biệt ra hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt hơn ở miền bắc.Trong mùa mưa (từ tháng 4-5 đến tháng 10-11) lượng mưa rơi chiếm đến 90% lượng mưa trong năm ,lượng mưa mùa khô chiếm khoảng 70%.Nhìn cung khí hậu miền Nam không biến động nhiều trong năm.Cũng có ít bão nhưng lại bị hạn hán đe dọa.

 

3.Miền khí hậu Trung và Nam Bộ

Đây là nơi chuyển tiếp giữa hai miền khí hậu nêu trên.Yếu tố ảnh hưởng to lớn với dải đất ven biển này là miền đông Trường Sơn và các hoành sơn.Dãy núi trưởng thành hoạt động như một vật cản đối với gió Tây Nam làm cho mùa mưa bị lệch đi so với toàn quốc,mùa khô cũng vậy.

Vào mùa hạ trong khi cả nước có mưa rơi lớn nhất thì cả dải ven biển từ nam đèo ngang cho tới Phan Thiết có thời tiết kho nóng nhất trong năm.Đây là ảnh hưởng của hiện tượng gió phơn loại gió nóng và khô thổi từ đỉnh núi xuống thung lũng hay đồng bằng do quá trình hun nóng đoạn nhiệt.Mưa chỉ tăng bắt đầu từ tháng 8 và đạt cực đại vào mùa đông tức là vào tháng 10-11,thời điểm cả nước đang là mùa khô,có khi kéo dài đến tháng 12-1.Các mùa mưa cũng là tháng có mưa bão lớn,lũ lụt xảy ra thường gây tàn phá nghiêm trọng.

Sự phân hóa nhiệt và mưa trên lãnh thổ Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ được thể hiện theo hai hướng từ bắc xuống nam từ đông sang tây.Nếu nư mùa đông,từ đòe Hải Vân trở ra đến đèo Ngang còn có thời tiết lạnh,nhiệt độ trung bình dưới 20 độ thì bắt đàu từ Quảng Nam-Đà Nẵng trở xuống phía Nam coi như ấm hoàn toàn.Đến Phú Yên-Khánh Hòa thì giống Nam Bộ.Chế độ mưa cũng giảm từ bắc xuống nam và thời gian xuất hiện mưa cực đại cũng muộn dần,cùng với sự muộn dần của bão.

Sự phân hóa nhiệt độ kể trên do ảnh hưởng của địa hình.Dải đất ven biển còn được điều hòa của biển nhưng lại chịu tác động mạnh của gió Tây.Dải đồi núi thấp phía trong đã có khí hậu khắc nghiệt hơn còn sườn đông Trường Sơn,sườn đón gió thì ấm hơn và mưa nhiều hơn cùng với sự giảm nhiệt độ theo độ cao.

 

 

4.Miền khí hậu biển đông

Đây là miền khí hậu tương đối đồng nhất hơn cả.Các đặc điểm của miền khí hậu này bắt nguồn từ đặc tính hải dương của nó.Biểu thị ở chỗ biên độ nhiệt trong năm không lớn.,giao động nhiệt giữa ngày đêm coi như không đáng kể dù là ở bắc hay nam biển đông.Độ ẩm không khí trong năm và dĩ nhiên gió mạnh hơn trên đất liền.Các cơ bão trước khi cập bờ lúc nào cũng đi vào biển đông trước tiên

 

5.Miền khí hậu Tây Nguyên

Khí hậu của Tây Nguyên chia làm 3 kiểu.Đầu tiên là kiểu khí hậu phía bắc Tây Nguyên (bao gồm Kon Tum,Gia Lai) có mùa lạnh và mùa nóng phân biệt rõ,biên độ nhiệt trung bình năm khoảng 3 độ.Lượng mưa hàng năm từ 2000 đến 3000mm,tập trung nhiều nhất trong năm khoảng 6-7 tháng (từ tháng 4 đến thán 10),trong đó lượng mưa tổng cộng như Plei Ku acao gấp 23 lần lượng mư atrong mùa khô (2571 mm so với 113mm).Sự biến động khí hậu về mặt không gian cũng rất đáng chú ý:Plei Ku chỉ cách Kon TuM 47km nhưng lượng mưa ở Kon Tum đã kém hơn Plei Ku  đến 800mm.Những sự biến động về nhiệt độ và lượng mưa trong năm như vậy có thể thấy ở Tây Nguyên.

Khí hậu Nam Tây Nguyên bao gồm Lâm Đồng và các khu vực phụ cận có đặc trưng là nền nhiệt độ thấp hơn so với các khu vực khác vì có độ cao địa hình .lượng mwua trung bình năm xấp xỉ Bắc Tây Nguyên,trong đó Bảo Lộc và Di Linh có lượng mưa trung bình cao hơn cả.

Khu vực Trung Tây Nguyên gồm Cao Nguyên Đắc Lắc và vùng thung lũng song Đà Rằng ,song Srepock có nền nhiệt cao hơn hẳn hai khu vực trước,lượng mư hằng năm nhỏ hơn và thường có nắng hạn vào mùa khô.Nhiều bằng chứng cho thấy rằng nhiệt độ ở Tây Nguyên nhất là ở Đắc Lắc hiện nay tăng cao hơn và lượng mưa vào màu mưa cũng ít hơn thời kỳ trước 1954.Đây là hậu quả của việc mất đi lớp phủ rừng qui mô lớn

 

Cụ thể:

1.Sa Pa-Lào Cai

Nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam, thị trấn Sa Pa ở độ cao 1.600 mét so với mực nước biển, cách thành phố Lào Cai 38 km và 376 km tính từ Hà Nội. Ngoài con đường chính từ thành phố Lào Cai, để tới Sa Pa còn một tuyến giao thông khác, quốc lộ 4D nối từ xã Bình Lư, Lai Châu. Mặc dù phần lớn cư dân huyện Sa Pa là những người dân tộc thiểu số, nhưng thị trấn lại tập trung chủ yếu nhữngngười Kinh sinh sống bằng nông nghiệp và dịch vụ du lịch.

Sa Pa có khí hậu mang sắc thái ôn đới và cận nhiệt đới, không khí mát mẻ quanh năm. Thời tiết ở thị trấn một ngày có đủ bốn mùa: buổi sáng là tiết trời mùa xuân, buổi trưa tiết trời như vào hạ, thường có nắng nhẹ, khí hậu dịu mát, buổi chiều mây và sương rơi xuống tạo cảm giác lành lạnh như trời thu và ban đêm là cái rét củamùa đông. Nhiệt độ không khí trung bình năm của Sa Pa là 15 °C. Mùa hè, thị trấn không phải chịu cái nắng gay gắt như vùng đồng bằng ven biển, khoảng 13 °C – 15 °C vào ban đêm và 20 °C – 25 °C vào ban ngày. Mùa đông thường có mây mù bao phủ và lạnh, nhiệt độ có khi xuống dưới 0 °C, đôi khi có tuyết rơi. Lượng mưa trung bình hàng năm ở đây khoảng từ 1.800 đến 2.200 mm, tập trung nhiều nhất vào khoảng thời gian từ tháng 5 tới tháng 8.

Thị trấn Sa Pa là một trong những nơi hiếm hoi của Việt Nam có tuyết. Trong khoảng thời gian từ1971 tới 2011, 15 lần tuyết rơi tại Sa Pa. Lần tuyết rơi mạnh nhất vào ngày 13 tháng 2 năm 1968, liên tục từ 3 giờ sáng đến 14 giờ cùng ngày, dày tới 20 cm.

Nuvola apps kweather.svg Weather-sleet.svg  Nhiệt độ và lượng mưa trung bình tại Sa Pa

Tháng

 1

 2

 3

 4

 5

 6

 7

 8

 9

10

11

12

Năm

Nhiệt độ trung bình (°C)

8

7

14

17

17

20

19

19

18

16

11

8

15

Lượng mưa trung bình (mm)

140

80

100

140

285

290

490

670

260

50

140

50

168

 

 

 

 

2.Hải Phòng-Hải Phòng

Thời tiết Hải phòng mang tính chất đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt nam: nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt. Nhiệt độ trung bình vào mùa hè là khoảng 32,5 °C, mùa đông là 20,3 °C.Cả năm là trên 23.9 °C. Lượng mưa trung bình năm là khoảng 1600 - 1800 mm. Độ ẩm trong không khí trung bình 85 - 86%.Thấp nhất vào tháng 12, đỉnh điểm vào tháng 2 ( 100% ).

Tuy nhiên, Hải Phòng có một chút khác biệt so với Hà Nội về mặt nhiệt độ và thời tiết. Do cạnh biển, thành phố này ấm hơn 1 °C vào mùa đông và mát hơn 1 đến 2 độ vào mùa hè.Ngoài ra, thành phố trồng rất nhiều cây nên không khí ở đây kể cả vào ngày trời nóng vẫn rất thoáng đãng và trong lành, các đường phố có nhiều bóng cây râm mát.

 

 

 

3.Vinh-Nghệ An

Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt và có sự biến động lớn từ mùa này sang mùa khác.

Nhiệt độ trung bình 24°C, nhiệt độ cao tuyệt đối 42.1°C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 4°C. Độ ẩm trung bình 85-90%. Số giờ nắng trung bình 1.696 giờ. Năng lượng bức xạ dồi dào, trung bình 12 tỷ Keal/ha năm, lượng mưa trung bình hàng năm 2.000mm thích hợp cho các loại cây trồng phát triển.

Có hai mùa gió đặc trưng: Gió Tây Nam - gió khô xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 9 và gió Đông Bắc - mang theo mưa phùn lạnh ẩm ướt kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau.

 

 

4.Huế-Thừa Thiên Huế

Thành phố Huế có sự ngoại lệ về khí hậu so với vùng Bắc Bộ và Nam Bộ, vì nơi đây khí hậu khắc nghiệt và có sự khác nhau giữa các miền và khu vực trong toàn tỉnh. Vùng duyên hải và đồng bằng có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, trời nóng và oi bức, có lúc lên tới 39,9ºC. Từ tháng 8 đến tháng 1 là mùa mưa và hay xảy ra bão lụt, nhiệt độ trung bình 19,7ºC, cũng có khi hạ xuống còn 8,8ºC, trời lạnh. Vào mùa này có những đợt mưa suốt ngày, kéo dài cả tuần lễ.

Vùng núi mưa nhiều, khí hậu mát mẻ, nhiệt độ dao động từ 9ºC đến 29ºC.

 

5.Đà Nẵng-Đà Nẵng

Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài.

Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9 °C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung bình 28-30 °C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18-23 °C. Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C.

Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình 85,67-87,67%; thấp nhất vào các tháng 6, 7, trung bình 76,67-77,33%.

Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình 550-1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình 23-40 mm/tháng.

Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 đến 165 giờ/tháng.

 

 

6.Đà Lạt-Lâm Đồng

Nằm ở độ cao 1.500 mét và được các dãy núi cùng quần hệ thực vật rừng, đặc biệt là rừng thông bao quanh, nên tuy ở trong vùng nhiệt đới gió mùa, Đà Lạt vẫn có một khí hậu miền núi ôn hòa và dịu mát quanh năm. Ở Đà Lạt có hai mùa rõ rệt: mùa mưa  mùa khô. Mùa mưa trùng với mùa gió mùa tây nam, bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10. Còn mùa khô trùng với mùa gió mùa đông bắc, kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau. Vào mùa khô, Đà Lạt chịu ảnh hưởng của khối không khí biển Đông, mang lại thời tiết nắng ấm, ít mây, không mưa, nhiệt độ hạ thấp về ban đêm và biên độ nhiệt lớn. Trong những tháng mùa mưa, gió mùa đông bắc hầu như không còn ảnh hưởng đến Đà Lạt, thay thế bởi khối không khí xích đạo từ phía nam tràn lên phía bắc. Gió mùa tây nam mang lại nguồn ẩm chủ yếu cho những trận mưa lớn và những đợt mưa kéo dài nhiều ngày. Mặc dù vậy, do ảnh hưởng của khối không khí nhiệt đới Thái Bình Dương, trong mùa mưa vẫn có những thời kỳ thời tiết tạnh ráo.

Nhiệt độ trung bình tháng ở Đà Lạt không bao giờ vượt quá 20°C, ngay cả trong những tháng nóng nhất. Tuy vậy, Đà Lạt cũng không phải là nơi có nhiệt độ trung bình tháng thấp, trong những tháng mùa đông, nhiệt độ trung bình tháng vẫn trên 14°C. Theo số liệu thống kê từ năm 1964 tới năm 1998, nhiệt độ trung bình năm ở Đà Lạt là 17,9°C, trong đó năm 1973 có nhiệt độ trung bình cao nhất lên đến 18,5°C, còn năm 1967 nhiệt độ trung bình xuống thấp nhất, 17,4°C. Nếu so sánh với Sa Pa, thị trấn nghỉ dưỡng ở miền Bắc nằm trên độ cao 1.581 mét, thì nhiệt độ trung bình ở Đà Lạt cao hơn 2,6°C. Biên độ nhiệt độ ngày đêm ở Đà Lạt rất lớn, trung bình năm đạt 11°C, cao nhất trong những tháng mùa khô, lên tới 13 – 14°C, và thấp nhất trong những tháng mùa mưa, chỉ khoảng 6 – 7°C. Ngược lại, biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm lại nhỏ, tháng ấm nhất và tháng lạnh nhất cũng chỉ chênh lệnh 3,5°C. Độ dài ngày trong các mùa ở Đà Lạt không có sự chênh lệch lớn, trung bình khoảng từ 11 đến ít hơn 12 giờ vào mùa đông và trên 12 giờ vào mùa hè. Tổng số giờ nắng trong năm ở đây tương đối cao, khoảng 2.258 giờ một năm, tập trung chủ yếu vào các tháng 12, 1, 2 và 3 của mùa khô. Tổng lượng bức xạ thu nhập ở Đà Lạt khoảng 140 kCalo/cm²/năm, nhiều nhất vào tháng 4 và ít nhất vào tháng 8. Nếu so với các vùng lân cận, lượng bức xạ Mặt Trời của Đà Lạt không cao, nhưng đây là nguồn năng lượng chủ yếu cho các quá trình trao đổi nhiệt, mang lại nền nhiệt độ thấp và tương đối ôn hòa.

Mùa mưa ở Đà Lạt thường bắt đầu vào cuối tháng 4, đầu tháng 5 và kết thúc vào khoảng cuối tháng 10, đầu tháng 11. Tuy hàng năm, thời điểm bắt đầu và kết thúc của mùa mưa có thể thay đổi, nhưng mùa mưa ở đây thường kéo dài khoảng hơn 6 tháng. Trung bình, một năm Đà Lạt có 161 ngày mưa với lượng mưa 1.739 mm, tập trung nhiều nhất vào ba tháng 7, 9 và 10, ba tháng có sự hoạt động mạnh của trường gió mùa tây nam. Nếu lấy trung bình từ tháng 5 tới tháng 10, tổng lượng mưa trong mùa mưa ở Đà Lạt chiếm đến gần 80% lượng mưa của cả năm. So với vùng đồng bằng, Đà Lạt có số ngày mưa trong năm nhiều hơn, nhưng lượng mưa lại thấp hơn. Ở Đà Lạt còn có một hiện tượng thời tiết đáng chú ý khác là sương mù, trung hình 80 đến 85 ngày trong một năm, nhưng xuất hiện nhiều nhất vào khoảng thời gian từ tháng 2 tới tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 10. Phổ biến hơn cả là loại sương mù bức xạ được hình thành khi mặt đất bị lạnh đi nhiều do bức xạ vào lúc trời quang, lặng gió. Sương mù dày ít xảy ra hơn, thường gặp vào tháng 9 và tháng 10, trung bình mỗi tháng có tới 4 đến 5 ngày sương mù dày.

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu Đà Lạt

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Năm

Trung bình tối cao°C

22.3

24.0

25.0

25.2

24.5

23.4

22.8

22.5

22.8

22.5

21.7

21.4

20,6

Trung bình tối thấp°C

11.3

11.7

12.6

14.4

16.0

16.3

16.0

16.1

15.8

15.1

14.3

12.8

14,3

Lượng mưa mm

11

24

62

170

191

213

229

214

282

239

97

36

1.739

 

 

 

 

7.Thành phố Hồ Chí Minh

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, Thành phố Hồ Chí Mình có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từtháng 12 tới tháng 4 năm sau. Trung bình, Thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới 270 giờ nắng một tháng, nhiệt đó trung bình 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống 13,8 °C. Hàng năm, thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới 28 °C. Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392 mm vào năm 1958. Một năm, ở thành phố có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9. Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Ðông Bắc. Các quận nội thành và các huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại.

Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Ðông Bắc. Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung bình 3,6 m/s, vào mùa mưa. Gió Gió Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2,4 m/s, vào mùa khô. Ngoài ra còn có gió tín phongtheo hướng Nam – Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, trung bình 3,7 m/s. Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão. Cũng như lượng mưa, độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa, 80%, và xuống thấp vào mùa không, 74,5%. Trung bình, độ ẩm không khí đạt bình quân/năm 79,5%

 

 

 

 

 

 

 

 

KHÍ TƯỢNG

 

1.Bão-áp thấp nhiệt đới

Bão và áp thấp nhiệt đới là một xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) có gió mạnh nhất vùng gần tâm mạnh cấp 6 trở lên (tức là trên 39km/h).

Bão và áp thấp nhiệt đới là một xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) có gió mạnh nhất vùng gần tâm mạnh cấp 6 trở lên (tức là trên 39km/h). Trong nghiệp vụ dự báo người ta phân biệt: Khi gió mạnh nhất vùng gần tâm XTNĐ mạnh cấp 6 – 7 (Tức là 10,8 – 17,2m/s) được gọi là áp thấp nhiệt đới (ATNĐ); Khi gió mạnh nhất vùng gần tâm XTNĐ mạnh từ cấp 8 trở lên (Tức là trên 17,2m/s) được gọi là bão.

* Vậy xoáy thuận nhiệt đới là gì? 

Xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) là một hệ thống khí áp thấp ở vùng nhiệt đới. Áp suất khí quyển (khí áp) trong XTNĐ thấp hơn rất nhiều so với xung quanh. Vùng có khí áp nhỏ nhất được gọi là vùng trung tâm. Ở Bắc Bán cầu XTNĐ có hoàn lưu gió xoáy vào tâm theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, ngược lại ở Nam Bán Cầu gió xoáy vào tâm XTNĐ theo hướng thuận chiều kim đồng hồ.

 

2.Mưa lớn

Hiện tượng mưa lớn là hệ quả của một số loại hình thời tiết đặc biệt như bão, áp thấp nhiệt đới hay dải hội tụ nhiệt đới, front lạnh, đường đứt... Đặc biệt khi có sự kết hợp của chúng sẽ càng nguy hiểm hơn gây nên mưa, mưa vừa đến mưa to, trong một thời gian dài trên một phạm vi rộng.

Theo “Qui định tạm thời về tổng kết các hiện tượng thời tiết nguy hiểm hàng năm” của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, căn cứ vào lượng mưa thực tế đo được trong 24 giờ tại các trạm quan trắc khí tượng bề mặt, trạm đo mưa trong mạng lưới KTTV mà phân định các cấp mưa khác nhau theo qui định của Tổ chức Khí tượng Thế giới.
Mưa lớn được chia làm 3 cấp:
- Mưa vừa: Lượng mưa đo được từ 16 - 50 mm/24h.
- Mưa to: Lượng mưa đo được từ 51 - 100 mm/24h.
- Mưa rất to: Lượng mưa đo được > 100 mm/24h.
Ngày có mưa lớn là ngày xảy ra mưa trong 24 giờ (từ 19 giờ ngày hôm trước đến 19 giờ ngày hôm sau) đạt cấp mưa vừa trở lên.
Trong các nghiên cứu về ảnh hưởng của mưa thì cấp mưa to 51 - 100 mm/24h bắt đầu có những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống con người.

 

 

3.Mưa đá

Mưa đá là hiện tượng mưa dưới dạng hạt hoặc cục băng có hình dáng và kích thước khác nhau do đối lưu cực mạnh từ các đám mây dông gây ra. Kích thước có thể từ 5 mm đến hàng chục cm, thường cỡ khoảng một vài cm, có dạng hình cầu không cân đối. Những hạt mưa đá thường rơi xuống cùng với mưa rào.

Mưa đá là hiện tượng mưa dưới dạng hạt hoặc cục băng có hình dáng và kích thước khác nhau do đối lưu cực mạnh từ các đám mây dông gây ra. Kích thước có thể từ 5 mm đến hàng chục cm, thường cỡ khoảng một vài cm, có dạng hình cầu không cân đối. Những hạt mưa đá thường rơi xuống cùng với mưa rào. Mưa đá thường kết thúc rất nhanh trong vòng 5 -10 phút, lâu nhất cho cả một vệt mưa cũng chỉ 20 - 30 phút Trong cơn dông mưa đá thường kèm theo gió rất mạnh, có khi là gió lốc kèm theo mưa đá, sức tàn phá hết sức khủng khiếp do gió mạnh và xoáy gây ra.

Ngoài gió rất mạnh ra thì bản thân những hòn mưa đá cũng có khi gây ra đổ nhà, tàn phá cây cối, thậm chí chết người. Vì vậy mưa đá được xếp vào những hiện tượng thời tiết nguy hiểm.

Mưa đá thường xảy ra ở vùng núi hay khu vực giáp biển, giáp núi (bán sơn địa), còn vùng đồng bằng ít xảy ra hơn. Vì vậy ở nước ta mưa đá có thể xảy ra ở khắp các vùng miền. và cả trong mùa hè. Riêng ở vùng núi phía bắc nước ta, từ tháng 1 đến tháng 5 hàng năm thường có mưa đá, nhiều nhất là từ tháng 3 đến tháng 5, mà nguyên nhân chủ yếu là các đợt front lạnh cực mạnh tràn về nhanh.

Khi chưa nhận được tin dự báo mưa đá bạn đọc vẫn có thể qua hiểu biết mà tự phòng tránh: Nếu thấy trời nổi dông gió, mây đen bao phủ bầu trời gần như kín tầm mắt, có dạng như bầu vú, rồi dông gió nổi lên mạnh, tạo ra tiếng "ù ù, ầm ầm" liên tục thì bạn hãy cảnh giác với mưa đá. Nếu tiếp đó lắc rắc vài hạt mưa rào, ta cảm thấy nhiệt độ không khí như lạnh đi, có thể mưa đá đã kéo đến. Hãy cùng nhau chiêm nghiệm, rất lợi ích và thú vị!.

 

4.Dông

Dông trong khí tượng được hiểu là hiện tượng khí tượng phức hợp gồm chớp và kèm theo sấm do đối lưu rất mạnh trong khí quyển gây ra. Nó cũng thường kèm theo gió mạnh, mưa rào, sấm sét dữ dội, thậm chí cả mưa đá, vòi rồng (ở vùng vĩ độ cao có khi còn có cả tuyết rơi).

Thuật ngữ "dông" tiếng Anh là "thunderstorm", từ điển khí tượng Trung Quốc dịch là "lôi bạo" (âm Hán-Việt) nghĩa là sấm dữ dội), còn trong dân gian ta "dông" là "trận gió to", không hoàn toàn trùng với thuật ngữ "dông" trong khí tượng.
Người La-mã xưa thì cho rằng dông sét là những trận chiến giữa thần sấm (Jupiter, còn thần thoại Hy lạp là thần Zuis) và thần lửa (Vulkan).
Dông được xếp vào thời tiết nguy hiểm vì hàng năm có nước sét đánh chết hàng nghìn người, gây ra hàng trăm vụ cháy rừng, cháy nhà, làm hư hỏng nhiều thiết bị máy móc, nhất là các thiết bị điện tử.

Dông ở nước ta có thể xảy ra quanh năm, nhưng vào tháng chính đông ở khu vực Bắc bộ nước ta dông rất ít, có năm gián đoạn đến dịp sang xuân. Dông thường sinh ra trong thời tiết nóng ẩm nên về mùa hè ở nước ta dông xảy ra thường xuyên hơn, thường vào buổi chiều hay chiều tối và được gọi là dông nhiệt. Đặc biệt trên các vùng núi hay sông hồ trong những tháng nóng ẩm, dông có thể xuất hiện nhiều và bất thường, lại hay kèm theo gió mạnh nên rất nguy hiểm cho tính mạng con người.

 

 

5.Tố,lốc,vòi rồng

Tố là hiện tượng gió tăng tốc đột ngột, hướng cũng thay đổi bất chợt, nhiệt độ không khí giảm mạnh, ẩm độ tăng nhanh thường kèm theo dông, mưa rào hoặc mưa đá.
Đôi khi có những đám mây kỳ lạ bỗng xuất hiện. Chân mây tối thẫm, bề ngoài tơi tả, mây bay rất thấp và hình thay đổi mau. Đó là những đám mây báo trước gió mạnh đột ngột, thường là Tố. Tố xảy ra khi không khí lạnh tràn vào vùng nóng và nâng không khí nóng lên đột ngột. Tố thường xảy ra trong một thời gian ngắn chừng vài phút. Vùng Tố là một dải dài và hẹp chuyển dịch với tốc độ khá lớn, tới cấp 10. Tố rất nguy hiểm và xảy ra đột ngột chưa dự đoán trước được.
    
Lốc là những xoáy trong đó gió trong hoàn lưu nhỏ cỡ hàng chục, hàng trăm mét. Lốc xoáy là những xoáy nhỏ cuốn lên, có trục thẳng đứng, thường xảy ra khi khí quyển có sự nhiễu loạn và về cơ bản là không thể dự báo được. Nguyên nhân sinh gió lốc là những dòng khí nóng bốc lên cao một cách mạnh mẽ. Trong những ngày hè nóng nực, mặt đất bị đốt nóng không đều nhau, một khoảng nào đó hấp thụ nhiệt thuận lợi sẽ nóng hơn, tạo ra vùng khí áp giảm và tạo ra dòng thăng. Không khí lạnh hơn ở chung quanh tràn đến tạo hiện tượng gió xoáy, tương tự như trong cơn bão. Tốc độ gió của lốc tăng mạnh đột ngột trong một thời gian rõ rệt.
    
Hai hiện tượng tố, lốc thường xảy ra nhanh, không lan rộng. Về định nghĩa chuyên ngành thì đây là hai hiện tượng khác nhau, nhưng khi thu thập số liệu từ nhiều nguồn khác nhau thì hai hiện tượng này thường được thống kê đan xen lẫn lộn. Do vậy hai hiện tượng này tạm ghép thành một hiện tượng (tố lốc).
    
Ở Việt Nam số liệu thống kê về vòi rồng rất ít, do vậy cơ sở dữ liệu và bản đồ về hiện tượng này chưa được xây dựng. Vòi rồng là hiện tượng gió xoáy rất mạnh, phạm vi đường kính rất nhỏ, hút từ bề mặt đất lên đám mây vũ tích, tạo thành hình như cái phễu di động, trông giống như cái vòi, nhưng từ trên bầu trời thò xuống nên dân ta "tôn kính" gọi là "vòi rồng" (mà không gọi là vòi voi chẳng hạn), chứ thực tế không có con rồng nào cả. Trên đường di chuyển nó có thể cuốn theo (rồi ném xuống ở một khoảng cách sau đó) hoặc phá huỷ mọi thứ, kể cả những nhà gạch xây không kiên cố, nên nó cũng là hiện tượng khí tượng đặc biệt nguy hiểm. Nhìn từ xa vòi rồng có thể có màu đen hoặc trắng, tuỳ thuộc những thứ mà nó cuốn theo. Vòi rồng xuất hiện ở trên đại dương thường hút nước biển lên cao tạo thành các cây nước (waterspouts). Rất thú vị là không phải chỉ có dân ta "tôn kính" gọi nó là vòi rồng mà cả ở Trung quốc người ta cũng gọi là vòi rồng (âm Hán-Việt là "lục long quyển"). Còn tiếng Anh thuật ngữ đó là "Tornado" có nguồn gốc từ tiếng Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha, đều có nghĩa là "quay" hay "xoáy" (gió xoáy).
    
Khủng khiếp hơn Tố là Vòi rồng. Một đám mây đen kịt đang trôi rất thấp, chợt từ chân mây thòi ra chiếc vòi đen khổng lồ từ từ hạ xuống mặt đất. Bụi, cát, đá bị cuốn lên nối với vòi mây, uốn éo, rít lên những tiếng ghê rợn. Đó là Vòi rồng. Vòi rồng là một xoáy khí nhỏ nhưng cực mạnh. Khi một khối không khí nóng, ẩm di chuyển ở dưới một khối không khí lạnh khô thì có khả năng làm xuất hiện những xoáy khí. Nếu xoáy khí này có áp suất trung tâm rất thấp nghĩa là vật chất trong tâm xoáy rất loãng thì không khí nóng, ẩm ở phía dưới bị hút lên tạo thành một cái vòi chuyển động xoáy rất mãnh liệt. Đó là nguyên nhân phát sinh vòi rồng. Vòi rồng nuốt chửng những vật nó gặp trên đường đi, cuốn chúng lên cao, mang đi xa rồi ném trả lại mặt đất ở rải rác các nơi. Vòi rồng là một luồng gió xoáy có sức phá hoại mãnh liệt. Tốc độ gió trong vòi rồng còn lớn hơn gió bão, có khi tới hàng trăm mét trong một giây. Vòi rồng phát triển từ một cơn dông, thường từ ổ dông rất mạnh hay siêu mạnh, nên ở đâu có dông dữ dội là ở đó có thể có vòi rồng, song cũng may là nó rất hiếm. Cũng có khi nó sinh ra từ một dải gió giật mạnh (được gọi những đường tố) hay từ một cơn bão. Người ta cho rằng khi không khí ở lớp bên trên lạnh đè lên lớp không khí nóng ở phía dưới, không khí nóng sẽ bị cưỡng bức chuyển động lên rất mạnh, thế nhưng khí vòi rồng xảy ra trên mặt nước thì thường lại không thấy đối lưu và cũng không thấy sự khác biệt nhiệt độ giữa các lớp. Vì vậy nguyên nhân vòi rồng con người vẫn chưa hoàn toàn hiểu được hết.
    
Ở nước ta, vòi rồng và tố thường xuất hiện vàc các tháng mùa hè. Năm nào cũng xảy ra hiện tượng này, song có năm nhiều, năm ít. Ở Bắc Bộ vòi rồng, tố không những xảy ra trong các tháng mùa hè, mà đặc biệt thường hay xảy ra vào các giai đoạn chuyển tiếp từ đông sang hè (tháng 4, tháng 5), mỗi khi có một đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới. Ở Nam Bộ số lần xảy ra vòi rồng ít hơn ở Bắc Bộ và Trung Bộ. 

 

 

 

6.Sương mù

Sương mù là hiện tượng hơi nước ngưng tụ thành các hạt nhỏ li ti trong lớp không khí sát mặt đất, làm giảm tầm nhìn ngang xuống dưới 1 km. Nó giống như mây thấp nhưng khác ở chỗ sương mù tiếp xúc trực tiếp với bề mặt đất, còn mây thấp không tiếp súc với bề mặt đất mà cách mặt đất một khoảng cách được gọi là độ cao chân mây. Chính vì thế người ta xếp sương mù vào họ mây thấp. Căn cứ vào nguyên nhân hình thành, sương mù được chia ra các loại khác nhau như: + Sương mù bức xạ hình thành khi mặt đất lạnh đi do bức xạ vào ban đêm trời quang mây, lặng gió; + Khi không khí ẩm di chuyển ngang qua nơi có bề mặt lạnh sẽ bị lạnh đi nên hình thành sương mù bình lưu; + Khí không khí lạnh di chuyển qua miền có mặt nước ấm hơn nhiều thì hơi nước bốc lên gặp lạnh nhanh chóng ngưng tụ thành sương mù bốc hơi. Ngoài ra còn sương mù do mưa, sương mù thung lũng, v.v...
Mù là hiện tượng tập hợp các hạt bụi, khói lơ lửng trong không khí, làm giảm tầm nhìn ngang. Mù mạnh có thể làm giảm tầm nhìn ngang xuống vài trăm mét, thậm chí hàng chục mét như sương mù mạnh. Mù thường do nguyên nhân địa phương như cháy rừng, môi trường ô nhiễm,...Sương mù và mù đều là hiện tương khí tượng nguy hiểm. Đặc biệt đối với giao thông vận tải đường bộ, đường sông, đường biển và hàng không, hàng năm sương mù đã gây ra những trở ngại và tổn thất không nhỏ.
     Sương mù ở nước ta thường xảy ra thường xuyên vào các tháng từ cuối mùa thu đến cuối mùa xuân, nhiều và mạnh nhất vào các tháng mùa đông. Ngày nay môi trường không khí càng ngày càng ô nhiễm nên sương mù và mù xảy ra nhiều hơn và cường độ mạnh hơn.

 

 

7.Sương muối

Sương muối là hiện tượng hơi nước đóng băng thành các hạt nhỏ và trắng như muối ngay trên mặt đất hay bề mặt cây cỏ hoặc các vật thể khác khi không khí trên đó ẩm và lạnh. Nó thường hình thành vào những đêm đông, trời lặng gió, quang mây, khi mà bức xạ là nguyên nhân chủ yếu của quá trình lạnh đi của không khí và các vật thể. Nên nhớ rằng nó không mặn mà chỉ trắng như muối, gần giống với lớp tuyết ở trong khoang lạnh của tủ lạnh.
    
Xem ra "màu trắng" của nó đã được thể hiện trong tên gọi sương muối ở nhiều thứ tiếng trên thế giới, như tiếng Anh "hoar frost", trong đó "hoar" là "trắng như tóc hoa râm"; tiếng Trung là "bạch sương", bạch là trắng, tiếng Pháp là "gelée blanche", "blanche" là trắng. Có nơi cho rằng có 2 loại sương muối: "hoar frost" và "rime", nhưng với "rime", không khí ẩm ban đầu ngưng kết thành các hạt nước, sau đó mới bị lạnh đi để trở thành các hạt băng. Sương muối là hiện tượng nguy hiểm đối với nhiều loại cây trồng và vật nuôi.
    
Ở nước ta sau khi không khí lạnh về, vùng núi Bắc bộ nằm sâu trong không khí lạnh, đêm trời quang mây, lặng gió, không khí ẩm đã lạnh lại bị bức xạ mất nhiệt nên tiếp tục lạnh, nhiệt độ không khí giảm nhanh dẫn đến hình thành sương muối. Sương muối thường hình thành khi nhiệt độ không khí <= 4oC (trong lều khí tượng ở độ cao 2m), khi ấy nhiệt độ bề mặt các vật thể hay cây cỏ ở mặt đất đã có thể xấp xỉ 0 oC, nhưng phải đủ ẩm mới hình thành được sương muối. Các vùng đồng bằng nước ta chỉ có sương giá (không phải sương muối), song nó cũng nguy hiểm đối với một số cây trồng nếu thời gian sương giá kéo dài.
    
Vào mùa thu, về đêm trời thường quang đãng, gió lặng, nhưng buổi sáng ta lại thấy những giọt nước long lanh đọng trên ngọn cỏ, lá cây. Đó là những hạt sương móc. Sương móc hình thành do sự ngưng hơi nước trên các vật ở gần sát mặt đất khi nhiệt độ các vật này giảm xuống dưới điểm sương của không khí. Trời quang, gió lặng chính là điều kiện thuận lợi cho sự hình thành sương móc.
    
Nếu nhiệt độ mặt đất giảm xuống 0oC hay thấp hơn, hơi nước sẽ ngưng kết thành thể rắn, xốp, có màu trắng như muối nên gọi là sương muối. Sương muối cũng là một loại thời tiết nguy hiểm vì nhiệt độ quá lạnh của nó làm chết cây trồng. Ở nước ta, hiện tượng sương muối thường xẩy ra trong các tháng mùa đông, nhất là vào các tháng 12, tháng 1 và tháng 2. Nơi hàng năm xuất hiện sương muối nhiều nhất là các tỉnh vùng núi Bắc Bộ, một số nơi trung du tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Bắc, Hòa Bình cũng có hiện tượng này. Thậm chí vùng núi Thanh Hóa và Tây Nghệ An (Nghệ Tĩnh) cũng có năm xuất hiện sương muối (như tháng 12 năm 1975). Các tỉnh Trung Trung Bộ trở vào đến Nam Bộ hầu như không có hiện tượng sương muối.

 

 

 

8.Gió khô nóng

 Trong khí tượng có hiện tượng gió vượt đèo được gọi là "Fơn" (foehn): từ bên kia núi gió thổi lên (anabatic wind), không khí bị lạnh dần đi rồi ngưng kết nên trút bớt ẩm nhưng cũng thu thêm nhiệt do ngưng kết toả ra, sau khi qua đỉnh gió thổi xuống (katabatic wind) bên này núi, nhiệt độ của nó tăng dần lên do quá trình không khí bị nén đoạn nhiệt, vì vậy đến chân núi bên này gió trở nên khô và nóng hơn. Núi càng cao chênh lệch nhiệt độ càng lớn. (thí dụ với dãy núi cao 3km, nhiệt độ không khí bên kia núi là 10oC, sang chân núi bên này nhiệt độ đã lên tới 18oC, theo Nicholas M. Short, NASA).
 Hiện tượng trên mỗi địa phương gọi mỗi tên khác nhau, “phơn” là tên gọi địa phương của thứ gió khô và nóng thổi trong các thung lũng của nước Áo và Thụy sĩ, ở phía bắc dãy núi An-pơ, ở tây nam nước Mỹ là "chinook", ở vùng giữa Alma-Ata và Frunze (Liên xô cũ) là "kastek", ở Việt Nam ta gọi là "gió Lào" (vì thổi từ Lào sang) hay gió tây khô nóng (gió có thể lệch tây). Gió khô nóng cũng là loại thời tiết nguy hiểm.
Gió ẩm, sau khi vượt qua một chướng ngại vật cao (dãy núi cao chẳng hạn) bị biến đổi tính chất, trở nên khô nóng hơn, và biến thành gió “phơn”. Quá trình biến đổi tính chất như trên của gió gọi là quá trình “phơn”.
 Vật chướng ngại càng cao thì quá trình “phơn” càng mạnh, ở mỗi miền trên thế giới, gió “phơn” có tên gọi khác nhau (gió Lào ở Việt Nam, gió Chi-nuc ở Mỹ và Canada, gió Xanta Ana ở Califoocnia…)
    
    Ở nước ta những nơi nào có gió “phơn” thổi?
    Nước ta có lắm núi, nhiều đồi, gió thổi qua các miền đồi núi dù cao hay thấp đều biến thành gió “phơn” cả.
    Đặc biệt ở một số miền núi, có những loại gió “phơn” nổi tiếng mà chúng ta đều biết, như gió Than Uyên thổi xuống cánh đồng Mường Than (huyện Than Uyên tỉnh Nghĩa Lộ, Tây Bắc), gió Ô quy hồ ở vùng Sapa. Nhưng điển hình nhất là gió Lào thổi trong một vùng rộng lớn về mùa hè từ Nghệ An đến cực Nam Trung bộ.
    
    Nguồn gốc của gió Lào là gì?
    Nguồn gốc của gió Lào chính là gió mùa mùa hè, mà thực chất là khối khí Ben-gan. Sau khi thổi qua lãnh thổ Campuchia và Lào, gió đã mất đi một phần hơi ẩm. Gặp dãy Trường Sơn, không khí bị đẩy lên cao và bị lạnh nên hầu hết hơi ẩm đều bị ngưng lại thành mưa trút xuống bên sườn phía Tây của dãy núi. Khi gió thổi sang bên sườn núi phía Việt Nam, gió trở nên khô và nóng, tức là “gió Lào”.
    Nhưng động lực chủ yếu sinh ra gió Lào là vùng áp thấp thường hình thành ở miền Hoa nam, có khi trung tâm áp thấp nằm ngay ở đồng bằng Bắc bộ. Vùng áp thấp có tác dụng “gọi gió” hay “hút gió” vượt qua dẫy Trường Sơn. Vùng áp thấp này càng sâu thì gió Lào càng thổi mạnh, và có trường hợp tỏa rộng ra Bắc bộ, lên tới vùng Việt Bắc.
    
    Trước khi gió Lào thổi thường có triệu chứng gì báo trước?
    Trước khi gió Lào thổi, bầu trời thường trong xanh, gió yếu hay lặng gió. Trên nền trời chỉ có một vài vệt mây li ti. Chân trời phía Tây thường có mù khô màu vàng da cam, khí quyển rất trong có thể nhìn thấy một thứ nóng làm cho da mặt hầm hập như trong cơn sốt nhẹ. Tiết trời rất khô. Đó là bối cảnh báo trước sau một thời gian ngắn sẽ có gió Lào.
    Đồng thời, nếu theo dõi diễn biến của các yếu tố khí tượng sẽ thấy như sau:
    - Gió đổi hướng, yếu dần, rồi quay ngược chiều kim đồng hồ, chứng tỏ có vùng áp thấp đang ngự trị.
    - Khí áp liên tục giảm xuống, khi nào mức giảm lớn nhất thì gió Lào sẽ thổi mạnh nhất.
    - Tầm nhìn xa rất tốt.
    
    Mùa gió Lào xảy ra vào thời gian nào?
    Theo quy luật, ở miền Trung bộ, mùa gió Lào thường bắt đầu từ hạ tuần tháng 4 đến trung tuần tháng 9, trong đó gió Lào thổi nhiều nhất vào tháng 6 và tháng 7, mỗi tháng trung bình có 7-10 ngày, trong đó 2-4 ngày gió Lào thổi mạnh. Gió Lào thường thổi thành từng đợt, đợt ngắn từ 2 đến 3 ngày, có đợt từ 10 đến 15 ngày, có đợt kéo dài tới 20-21 ngày.
    
    Gió Lào là một dạng thời tiết đặc biệt về mùa hè ở Trung Bộ Việt Nam. Gió Lào thổi theo hướng Tây nam. Trong một ngày, gió Lào thường bắt đầu thổi từ 8-9 giờ sang cho đến chiều tối, thổi mạnh nhất từ khoảng gần giữa trưa đến xế chiều. Có khi gió Lào thổi liên tục suốt cả ngày đêm, có đợt kéo dài trong 10 ngày đêm liền. Khi có gió Lào thổi, nhiệt độ cao nhất trong ngày thường vượt quá 37oC và độ ẩm nhất trong ngày thường giảm xuống dưới 50%. Gió tây thổi từ tây qua đông dãy Trường Sơn gây ra gió khô nóng chủ yếu ở khu vực miền Trung nước ta, thường xảy ra vào tháng 4, 5 và 6 hàng năm, thành từng đợt, kéo dài trong nhiều ngày. Thời tiết trong những ngày này rất khô, độ ẩm có khi xuống 30%, và nóng, nhiệt độ có khi lên tới 43oC, bầu trời không một gợn mây, trời nắng chói chang, gió lại thổi đều đều như quạt lửa, cây cỏ héo khô, ao hồ cạn kiệt, con người và gia súc bị ngột ngạt, rất dễ sinh hoả hoạn. Các nơi khác ở nước ta cũng có gió khô nóng, song mức độ thấp hơn so với Trung bộ, nên để định lượng hoá hiện tượng gió khô nóng các nhà khí tượng nước ta đưa ra chỉ tiêu: ngày có nhiệt độ >35oC, độ ẩm <= 55% được xem là ngày có gió khô nóng.

 

9.G mùa,không khí lạnh

a.Rét đậm,rét hại

Rét đậm xuất hiện khi nhiệt độ trung bình trong ngày dưới 15oC.

 

Rét hại xuất hiện khi nhiệt độ trung bình trong ngày dưới 13oC

 

Rét đậm, rét hại là kéo dài từ 3 ngày liên tiếp trở lên theo chỉ tiêu thống kê của nông nghiệp thì được gọi là một đợt rét đậm, rét hại.

 

Trong nông nghiệp, rét đậm và rét hại gây thiệt hại nhiều cho việc sản xuất; rét đậm có ảnh hưởng đến quá trình gieo mạ, còn rét hại làm cho cây quang hợp kém, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và có khả năng cây lúa bị chết khi rét hại kéo dài trên 3 ngày.

 

Rét đậm, rét hại thường hay xảy ra ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nước ta vào các tháng chính đông (tháng XII năm trước và tháng I, tháng II năm sau). Trong thời điểm rét đậm xuất hiện ở vùng trung du các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ thì ở miền núi phía bắc thường bị rét hại, thậm chí nhiệt độ có thể xuống thấp hơn nhiều có thể gây ra tuyết, băng giá, sương muối và ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp và vật nuôi.

 

 

 

b.Gió mùa,không khí lạnh

Không khí lạnh là hiện tượng thời tiết khi khối không khí rất lạnh từ lục địa Châu Á di chuyển xuống khu vực nước ta, nơi đang có khối không khí ấm, gây ra gió đông bắc mạnh trời trở rét và thời tiết xấu, thời gian đặc trưng là vào thời kỳ gió mùa mùa đông nên còn gọi là "gió mùa đông bắc". Khối không khí lạnh này có nguồn gốc cực đới, tràn qua lục địa Châu Á dưới dạng front lạnh, xuống đến nước ta trong nhiều trường hợp không còn thể hiện rõ tính chất điển hình của một front lạnh nên ta gọi chung là "không khí lạnh".
     Khi không khí lạnh tràn về, đẩy không khí nóng chuyển động lên cao, tạo thành một dải chuyển tiếp, người ta vẽ một đường phân cách giữa 2 khối không khí, khác nhau cơ bản về nhiệt độ và độ ẩm, được gọi là front lạnh (thuật ngữ này do Bjerknes (người Na-uy) đưa ra lần đầu vào lúc chiến tranh thế giới I đang đi đến hồi kết nên ông "lấy hứng" đặt là "front" (mặt trận) và được giữ nguyên trong mọi thứ tiếng).
     Gió mùa đông bắc là hiện tượng thời tiết đặc biệt nguy hiểm, vì khi nó tràn về ngoài khơi vịnh Bắc bộ gió có thể mạnh đến cấp 6 - 7, có thể đánh đắm tầu thuyền, đất liền gió cấp 4 - 5, có thể làm hư hại nhà cửa, cây cối, các công trình đang thi công trên cao, ...Đặc biệt những đợt mạnh còn gây ra mưa to, gió lớn, thậm chí dông, tố lốc, có khi cả mưa đá. Vào những tháng chính đông (tháng 12, tháng 1), đêm về trời quang mây, gây ra sương muối, băng giá, thậm chí có năm cả tuyết rơi trên vùng núi cao; nếu kéo dài còn gây rét đậm, rét hại không những đối với cây trồng, gia súc mà cả con người. Ở ta không khí lạnh thường từ tháng 9 -10 đến tháng 5 - 6 năm sau, nhưng mạnh nhất vào các tháng chính đông, ảnh hưởng trực tiếp là khu vực phía bắc, từ đèo Ngang trở ra, ít khi đến nam Trung bộ.

 

 

10.Lũ lớn

Lũ là hiện tượng nước sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó giảm dần. Trong mùa mưa lũ, những trận mưa từng đợt liên tiếp trên lưu vực sông, làm cho nước sông từng đợt nối tiếp nhau dâng cao, tạo ra những trận lũ trong sông, suối. Vào các tháng mùa mưa có các trận mưa lớn, cường độ mạnh, nước mưa tích luỹ nhanh, nếu đất tại chỗ đã no nước thì nước mưa đổ cả vào dòng chảy, dễ gây ra lũ. Khi lũ lớn, nước lũ tràn qua bờ sông (đê), chảy vào những chỗ trũng và gây ra ngập lụt trên một diện rộng. Lũ lớn và đặc biệt lớn nhiều khi gây ra những thiệt hại to lớn về người và của cải. Cha ông ta đã xếp lũ, lụt là một trong những loại thiên tai nguy hiểm nhất.
     Nước lũ do mưa (hay băng, tuyết ở những nước vùng vĩ độ cao) sinh ra nên mùa lũ thường đi đôi với mùa mưa. Mùa lũ ở Bắc bộ từ tháng 5-6 đến tháng 9-10, Bắc Trung bộ từ tháng 6-7 đến tháng 10-11, Trung và Nam Trung bộ: tháng 10-12, Tây nguyên: tháng 6-12, Nam bộ: tháng 7-12. Tuy vậy đầu mùa mưa cũng có thể có lũ sớm, như lũ "tiểu mãn", thường xảy ra vào "tiết tiểu mãn" (tháng 5) hàng năm ở vùng núi phía bắc nước ta. Song mùa lũ hàng năm cũng biến động cùng với mùa mưa, thậm chí sớm muộn 1-2 tháng so với trung bình nhiều năm.
     Ở sông Hồng đã xẩy ra hai trận lũ đặc biệt lớn vào tháng 8 năm 1945 và tháng 8 năm 1971, đã gây ra vỡ đê nhiều nơi. Trận lũ năm 1971 là trận lũ lớn nhất trong vòng 100 năm qua ở sông Hồng. Ngoài ra, còn có các trận lũ lớn xẩy ra vào các năm: 1913, 1915, 1917, 1926, 1964, 1968, 1969, 1970, 1986, 1996, 2002...
     Ở đồng bằng sông Cửu Long đã xẩy ra một số trận lũ lớn vào các năm: 1961, 1966, 1978, 1984, 1991, 1994, 1996, 2000, 2001…
     Ở miền Trung những trận lũ lụt lớn đã xẩy ra vào các năm: 1964, 1980, 1983, 1990, 1996, 1998, 1999, 2001, 2003…
     Một số biện pháp phòng chống lũ lụt lớn: trong phòng chống lũ, lụt nhằm giảm nhẹ thiệt hại người ta quy thành hai biện pháp, gồm: biện pháp công trình và biện pháp không công trình. Biện pháp công trình là nhằm thay đổi đặc tính của thiên tai như xây dựng các hồ chứa để điều tiết lũ, xây dựng các hệ thống đê ngăn lũ tràn vào đồng bằng, tu bổ bảo vệ đê điều, giải pháp phân, chậm lũ…. Biện pháp không công trình là nhằm thay đổi tác động của thiên tai như trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn để giảm thấp cường độ lũ lụt, xây nhà ở có khả năng chịu được nước lụt (chung sống với lũ)…

 

11.Lũ quét,sạt lở đất

Lũ lớn trên sông diễn biến chậm và thường xảy ra trên diện rộng và kéo dài, còn lũ quét là một hiện tượng thiên tai có tính chất và đặc điểm khác biệt là lũ diễn biến nhanh, mang tính bất thần và khốc liệt, mỗi trận xảy ra trên một diện hẹp và phạm vi tác động cũng hẹp hơn lũ sông. Nếu mưa lớn, nước mưa lại bị tích luỹ bởi các trướng ngại vật như đất đá, cây cối cho đến khi lượng nước vượt quá sức chịu đựng của vật chắn, phá vỡ vật chắn, ào xuống cấp tập (rất nhanh), cuốn theo đất đá, cây cối và quét đi mọi vật có thể quét theo dòng chảy thì được gọi là lũ quét (hay lũ ống), thường diễn ra rất nhanh, khoảng 3-6 giờ. Lũ quét xảy ra bất ngờ, nhanh, có sức tàn phá lớn ở các lưu vực nhỏ. Tiếng Anh lũ là flood, lũ quét là flash flood (flash là vụt hiện rồi tắt), tiếng Trung Quốc lũ là "hồng thuỷ", nghĩa là "nước lớn".
    Lũ lụt là hiện tương thuỷ văn đặc biệt nguy hiểm, nhất là lũ quét. Trong một số trường hợp nó có sức tàn phá khủng khiếp và trở thành thảm hoạ tự nhiên, như trận lũ quét năm 1998 ở thị xã Lai châu (cũ) đã xoá sổ cả bản Mường Lay và khu vực thị xã. Lũ thường xảy ra ở vùng núi, nơi có địa hình đồi núi cao xen kẽ với thung lũng và sông suối thấp.
     Lũ quét tạm thời có thể phân chia làm 3 loại: + Lũ gây ra do mưa địa phương, tập trung lớn ở các lưu vực tự nhiên (hầu như chưa có tác động của con người); + Lũ gây ra do mưa lớn trên các lưu vực đã chịu tác động mạnh của các hoạt động kinh tế của con người làm mất ổn định hay phá vỡ cân bằng sinh thái lưu vực (thay đổi lớp phủ, chế độ dòng chảy, lượng trữ hay các đặc tính lưu vực…); + Lũ gây ra do tháo, vỡ thình lình một lượng nước tích do vỡ đập chắn hay các đập giữ nước, các đập băng...
     Lũ quét thường gây hoạ cho các sông nhỏ và vừa nhưng ít đối với sông lớn. ở các lưu vực sông suối nhỏ miền núi, nới có điều kiện thuận lợi để hình thành lũ quét như: địa hình chia cắt, độ dốc lưu vực và độ dốc long sông/suối lớn, độ ổn định của lớp đất trên bề mặt lưu vực yếu do quá trình phong hóa mạnh, lớp phủ thực vật bị tàn phá… ở những nơi này, khi xẩy ra mưa lớn, tập trung trong một thời gian ngắn thì dễ xảy ra lũ quét.
    Lũ quét thường xẩy ra vào mùa lũ lớn như đã nói ở mục "Lũ lớn".

 

 

12.Hạn hán

Hạn là hiện tượng thời tiết khô không bình thường ở một khu vực do trong một thời gian dài không có mưa hay mưa không đáng kể. Song hạn không phải là hiện tượng thuần tuý vật lý, mà có sự tác động qua lại giữa nước tự nhiên với nhu cầu sử dụng nước của con người, vì thế định nghĩa chính xác về hạn là vấn đề phức tạp do phải cân nhắc rất nhiều mặt trong sự tương tác đó.
    
    Nói chung người ta chấp nhận 3 định nghĩa sau đây về hạn: 1) Hạn khí tượng: là một thời kỳ dài mưa ít hơn trung bình nhiều năm; 2) Hạn nông nghiệp: là hạn khi mà thiếu độ ẩm đối với một thời vụ hay thời kỳ sản xuất trung bình. Điều này xảy ra ngay cả khi mưa ở mức trung bình, nhưng lại do điều kiện đất hay kỹ thuật canh tác đòi hỏi tăng lên; 3) Hạn thuỷ văn: là khi nước dự trữ có thể dùng được trong các nguồn như tầng ngầm, sông ngòi, hồ chứa tụt xuống mức thấp hơn trung bình thống kê. Điều này cũng có thể xảy ra ngay cả khi mưa trung bình, nhưng sử dụng nước tăng lên, làm thu hẹp mức dự trữ nước.
     Về thuật ngữ thì nói "hạn" hay "hạn hán"? Tiếng Trung là "can hạn" hay "hạn" (âm Hán-Việt) nghĩa là "khô hạn" hay "hạn". Như vậy thuật ngữ "hạn" tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Hán, nên nói "hạn" hay "hạn hán" đều như nhau.
     Hạn là hiện tượng có hại, có khi dẫn đến thảm hoạ như đã từng xảy ra ở một số nước Châu Phi. Ở nước ta hạn xảy ra ở cả 3 miền, nhưng miền trung hạn nặng nhất, nhiều vùng đang có nguy cơ sa mạc hoá. Hãy bảo vệ rừng và sử dụng tài nguyên nước hợp lý !

Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đói nghèo dịch bệnh...

a.Hạn hán là gì?

Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đói nghèo dịch bệnh...

b. Những nguyên nhân nào gây ra hạn hán?

Nguyên nhân gây ra hạn hán có nhiều song tập trung chủ yếu là 2 nguyên nhân chính:

Nguyên nhân khách quan: Do khí hậu thời tiết bất thường gây nên lượng mưa thường xuyên ít ỏi hoặc nhất thời thiếu hụt.

- Mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể trong thời gian dài hầu như quanh năm, đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khô hạn và bán khô hạn. Lượng mưa trong khoảng thời gian dài đáng kể thấp hơn rõ rệt mức trung bình nhiều năm cùng kỳ. Tình trạng này có thể xảy ra trên hầu khắp các vùng, kể cả vùng mưa nhiều.

- Mưa không ít lắm, nhưng trong một thời gian nhất định trước đó không mưa hoặc mưa chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của sản xuất và môi trường xung quanh. Đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khí hậu gió mùa, có sự khác biệt rõ rệt về mưa giữa mùa mưa và mùa khô. Bản chất và tác động của hạn hán gắn liền với định loại về hạn hán.

Nguyên nhân chủ quan: Do con người gây ra, trước hết là do tình trạng phá rừng bừa bãi làm mất nguồn nước ngầm dẫn đến cạn kiệt nguồn nước; việc trồng cây không phù hợp, vùng ít nước cũng trồng cây cần nhiều nước (như lúa) làm cho việc sử dụng nước quá nhiều, dẫn đến việc cạn kiệt nguồn nước; thêm vào đó công tác quy hoạch sử dụng nước, bố trí công trình không phù hợp, làm cho nhiều công trình không phát huy được tác dụng... Vùng cần nhiều nước lại bố trí công trình nhỏ, còn vùng thiếu nước (nguồn nước tự nhiên) lại bố trí xây dựng công trình lớn. Cạnh đó, chất lượng thiết kế, thi công công trình chưa được hiện đại hóa và không phù hợp. Thêm nữa, hạn hán thiếu nước trong mùa khô (mùa kiệt) là do không đủ nguồn nước và thiếu những biện pháp cần thiết để đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng gia tăng do sự phát triển kinh tế-xã hội ở các khu vực, các vùng chưa có quy hoạch hợp lý hoặc quy hoạch phát triển không phù hợp với mức độ phát triển nguồn nước, không hài hoà với tự nhiên, môi trường vốn vẫn tồn tại lâu nay. Mức độ nghiêm trọng của hạn hán thiếu nước càng tăng cao do nguồn nước dễ bị tổn thương, suy thoái lại chịu tác động mạnh của con người.

c. Hạn hán được phân loại như thế nào?

Theo tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) hạn hán được phân ra 4 loại: hạn khí tượng, hạn nông nghiệp, hạn thuỷ văn và hạn kinh tế xã hội.

* Thế nào là hạn khí tượng?

Thiếu hụt nước trong cán cân lượng mưa, lượng bốc hơi, nhất là trong trường hợp liên tục mất mưa. Ở đây lượng mưa tiêu biểu cho phần thu và lượng bốc hơi tiêu biểu cho phần chi của cán cân nước. Do lượng bốc hơi đồng biến với cường độ bức xạ, nhiệt độ, tốc độ gió và nghịch biến với độ ẩm nên hạn hán gia tăng khi nắng nhiều, nhiệt độ cao, gió mạnh, thời tiết khô ráo.

* Thế nào là hạn nông nghiệp?

Thiếu hụt mưa dẫn tới mất cân bằng giữa hàm lượng nước thực tế trong đất và nhu cầu nước của cây trồng. Hạn nông nghiệp thực chất là hạn sinh lý được xác định bởi điều kiện nước thích nghi hoặc không thích nghi của cây trồng, hệ canh tác nông nghiệp, thảm thực vật tự nhiên... Ngoài lượng mưa ra, hạn nông nghiệp liên quan với nhiều điều kiện tự nhiên (địa hình, đất,...) và điều kiện xã hội (tưới, chế độ canh tác,...).

* Thế nào là hạn thuỷ văn?

Dòng chảy sông suối thấp hơn trung bình nhiều năm rõ rệt và mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất hạ thấp. Ngoài lượng mưa ra, hạn thuỷ văn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác: dòng chảy mặt, nước ngầm tầng nông, nước ngầm tầng sâu...

* Thế nào là hạn kinh tế xã hội?

Nước không đủ cung cấp cho nhu cầu của các hoạt động kinh tế xã hội.

* Hạn thuỷ văn được xác định như thế nào?

Hạn thuỷ văn được đặc trưng bằng sự suy giảm dòng chảy sông và thiếu hụt các nguồn nước mặt và nước ngầm. Các chỉ tiêu hạn thuỷ văn tiêu biểu bao gồm: Cán cân nước, hệ số khô, hệ số cạn, hệ số hạn.

Cán cân nước: W=G-L
Trong đó: 

W: Lượng nước có trong hệ thống
G: Lượng nước đến
L: Lượng nước tổn thất

- Chỉ số hạn:
Hệ số khô:

Trong đó:

Kkh: Hệ số khô
R: Lượng mưa
E: Lượng bốc hơi khả năng

Hệ số cạn

Trong đó:

Kc: Hệ số cạn
Qi: Lưu lượng thời đoạn i của năm j
Qj: Lưu lượng năm
Q0: Lưu lượng trung bình nhiều năm

Hệ số hạn

Trong đó:

Kh: Hệ số hạn
Có thể phân định 3 cấp hạn theo Kh
Hạn nhẹ: Kh<0,6
Hạn vừa: 0,6 <= Kh<= 1
Hạn nặng: Kh > 1

Theo chuyên gia hạn hán của tố chức Khí tượng thế giới, một vùng được coi là khô hạn khi lượng mưa cả năm không đến 250mm và là bán khô hạn khi lượng mưa đó không đến 500mm.

Để đánh giá mức độ khô hạn người ta còn dùng chỉ số cấp nước mặt SWSI. Chỉ số SWSI được tính với thời đoạn tháng và có giá trị trong khoảng từ -4,2 đến 4,2. Giá trị âm thể hiện mức độ thiếu nước, giá trị càng nhỏ mức độ khô hạn càng khốc liệt. Giá trị dương thể hiện tình trạng dư thừa nước.

Bảng phân cấp hạn theo SWSI

SWSI

Tình trạng cấp nước

>= -4

Hạn cực nặng

-4 ÷ -3

Hạn rất nặng

-2,9 ÷ -2

Hạn vừa

-1,9 ÷ -1

Hơi khô

-0,9 ÷ 0,9

Gần như bình thường

1 ÷ 1,9

Hơi ẩm

2 ÷ 2,9

Ẩm vừa

3 ÷ 4

Rất ẩm

>4

Cực ẩm

* Hạn hán được đặc trưng bằng gì?

Để mô tả khái quát tình hình chung về hạn hán trong các khu vực và diễn biến theo thời gian của chúng, người ta đã sử dụng chỉ số khô hạn các tháng và năm:

Ở đây:

Kt: chỉ số khô hạn tháng (năm)
Pt: Lượng bốc hơi theo Piche tháng (năm)
Rt: Lượng mưa tháng (năm)


* Thế nào là hạn tháng?

Hạn hán trong một tháng nào đó của 12 tháng trong chu kỳ năm được ký hiệu là H(th)t xảy ra khi:
R(th)t <= C(th)
Ở đây:

R(th)t: Lượng mưa tháng t
C(th): Tiêu chuẩn hạn của lượng mưa tháng

Với lượng mưa cả tháng bằng hoặc ít hơn 30mm mới được coi là tháng hạn. Như vậy tần suất hạn theo tháng ký hiệu là P(th) được xác định bằng:

Ở đây:

m(th): Số lần quan trắc được hạn tháng
n(th): Số lần quan trắc lượng mưa tháng

* Thế nào là hạn tuần?

Theo thông lệ, tuần là 10 ngày trong 20 ngày đầu của tháng và 10 hoặc 11 ngày cuối tháng, có khi là 8 hoặc 9 ngày đối với tháng 2. Hạn hán trong một tuần nào đó trong số 36 tuần của cả năm được ký hiệu là H(t)t xảy ra khi:

R(t)t <= Ct

Ở đây:

R(t)t: Lượng mưa tuần t
C(t): Tiêu chuẩn hạn của lượng mưa tuần

Cũng dựa trên kết quả thực nghiệm có thể chọn C(t) là 10mm.
Tương tự như tần suất hạn tháng, P(t) được gọi là tần suất hạn theo tuần được xác định bằng:

Ở đây:

m(t): Số lần quan trắc được hạn tuần.
n(t): Số lần quan trắc lượng mưa tuần.

Các nhóm khu vực về đặc trưng khô hạn phổ biến tại Việt Nam

Nhóm khu vực

Khu vực

Mùa khô hạn phổ biến

 Bắc bộ

Tây Bắc

XI-IV

Việt Bắc

XI - III

Đồng bằng Bắc Bộ

XI-III

Trung Bộ

Bắc Trung Bộ

IV-VIII

Nam Trung Bộ

II-VIII

Tây Nguyên

Tây Nguyên

XI-IV

 

Nam Bộ

Nam Bộ

XII - IV

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HỎI ĐÁP KHÍ TƯỢNG-THỦY VĂN

 

1.Nơi nóng nhất trên thế giới

Cho đến nay người ta đa tìm ra được nhiệt độ cao kỷ lục ở El Azizia ở Libya là 57,8oC vào ngày 13 tháng 9 năm 1992. Sau đó là đến nhiệt độ ở Thung lũng chết ở California – Mỹ là 56,60C vào ngày 10 tháng 7 năm 1913

 

2.Cấu trúc của mắt bão

Các thành phần chính của bão bao gồm các dải mưa ở rìa ngoài, mắt bão nằm ở chính giữa và thành mắt bão nằm ngay sát mắt bão.

 

BÃO CÓ CẤU TRÚC NHƯ THẾ NÀO?

 

Các thành phần chính của bão bao gồm các dải mưa ở rìa ngoài, mắt bão nằm ở chính giữa và thành mắt bão nằm ngay sát mắt bão.

Trong không gian ba chiều, bão là một cột xoáy khổng lồ, ở tầng thấp (khoảng 0 – 3km) không khí nóng ẩm chuyển động xoắn trôn ốc ngược chiều kim đồng hồ (ở Bắc Bán Cầu) hội tụ vào tâm, chuyển động thẳng đứng lên trên trong thành mắt bão và toả ra ngoài ở trên đỉnh theo chiều ngựơc lại. Ở chính giữa trung tâm của cơn bão không khí chuyển động giáng xuống, tạo nên vùng quang mây ở mắt bão.

Có thể mô phỏng sơ bộ cấu trúc các trường khí tượng trong bão như sau:

Tham gia chuyển động xoay trong bão là một khối không khí khổng lồ có phạm vi ngang khoảng 2001000km, phạm vi thẳng đứng lên đến lớp đỉnh tầng đối lưu (10 – 12km).

Giá trị khí áp nhỏ nhất tại tâm bão và tăng dần ra phía rìa bão.

Càng vào gần tâm, cường độ gió bão càng mạnh, khu vực tốc độ gió mạnh nhất cách tâm bão khoảng vài trục km. Vào vùng mắt bão gió đột ngột yếu hẳn, tốc độ gió gần bằng không. Khi qua khỏi vùng mắt bão gió lại đột ngột mạnh lên nhưng có hướng ngược lại, đây chính là tính chất ảnh hưởng nguy hiểm nhất của bão.

Nếu nhìn từ trên cao xuống (ảnh mây bão chụp từ vệ tinh) mây bão có dạng gần tròn, hình xoáy trôn ốc ngược chiều kim đồng hồ (ở Bắc Bán Cầu):

 

 

 

 

Cấu trúc mây bão chủ yếu là hệ thống mây đối lưu, dòng thăng tập trung ở dải mây này, tốc độ dòng thăng trong bão rất lớn và có thể lên cao đến 10km, tạo thành cột không khí chuyển động xoáy rất mạnh và hình thành khối mây bão khổng lồ. Đến một độ cao nào đó dòng không khí thổi ngang từ thành mắt bão ra xung quanh tạo nên những màn mây mỏng toả ra rất xa ngoài vùng bão. Xung quanh mắt bão có mây bão dạng thành gần như thẳng đứng làm thành hình vành khăn (Thành mắt bão).

Do ở mắt bão có chuyển động giáng, nhiệt độ không khí trong mắt bão lớn hơn xung quanh rất nhiều, vì thế người ta nói bão có lõi nóng.

 

 

3.Bão áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng tới Việt Nam như thế nào?

Trong các bản tin bão có nhắc đến các khu vực chịu ảnh hưởng của bão, chúng ta không nên nhầm lẫn giữa bão ảnh hưởng và bão đổ bộ.

Khi một khu vực nào đó được xem là bị ảnh hưởng của bão, người ta căn cứ vào tốc độ gió mạnh và hiện tượng thời tiết nguy hiểm (cụ thể là mưa to đến rất to) ở khu vực đó khi bão đổ bộ hoặc ngay cả khi bão mới đến gần bờ biển của khu vực đó.

Bão, ATNĐ ảnh hưởng đến Việt Nam được chia thành 2 loại: ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp:

1/ ảnh hưởng trực tiếp:

Bao gồm tất cả các cơn bão và ATNĐ có tâm đi vào đất liền hoặc không đi vào đất liền nước ta nhưng trực tiếp gây ra gió mạnh từ cấp 6 trở lên.

2/ ảnh hưởng gián tiếp

: Bao gồm tất cả các cơn bão và ATNĐ khi tới gần bờ biển nước ta đã suy yếu nhiều nên khi tâm đi vào đất liền hoặc chuyển hướng đi hướng khác, hoặc tan rã ngay tại chỗ và chỉ gây ra gió yếu (cấp 5) và gây mưa to đến rất to trên diện rộng

 

 

4.Vì sao bão có tên và chúng được đặt tên như thế nào

Các cơn bão có thể kéo dài hàng tuần hoặc lâu hơn, và trên cùng một khu vực, cùng một thời gian có thể có 2, 3 cơn bão, thậm chí có thể nhiều hơn. Vì vậy người ta đặt tên cho các cơn bão để tránh nhầm lẫn trong việc đưa ra các thông tin về từng cơn bão.

Trong thời gian xảy ra chiến tranh Thế giới thứ II, các nhà Khí tượng Lục quân và Hải Quân Mỹ đã dùng tên của phụ nữ để đặt tên cho các cơn bão.

Các cơn bão ở đông bắc Thái Bình Dương được đặt theo tên phụ nữ từ năm 1959 – 1960. Năm 1978 sử dụng cả tên nữ giới và nam giới.

Ở vùng bắc Ấn Độ Dương, các cơn bão nhiệt đới không được đặt tên. Ở tây nam Ấn Độ Dương bão bắt đầu được đặt tên từ 1960.

Ở vùng Australia và nam Thái Bình Dương, bão bắt đầu được đặt tên (theo tên phụ nữ) từ năm 1964, 10 năm sau đó thì sử dụng cả tên nam giới.

Các cơn bão trên khu vực Tây bắc Thái Bình Dương (Việt Nam trực thuộc khu vực này) được đặt tên theo tên phụ nữ chính thức bắt đầu từ năm 1945, và đến năm 1979 thì bắt đầu sử dụng cả tên của Nam giới. Các cơn bão đang hình thành ở khu vực này sẽ được Trung tâm Bão nhiệt đới Tokyo thuộc cơ quan khí tượng nhật bản đặt tên.

Từ ngày 1/1/2000 các cơn bão ở Tây bắc Thái Bình dương được đặt tên theo danh sách các tên mới và rất khác nhau. Các tên mới được bổ sung gồm các tên của khu vực Châu Á, được lấy từ 14 nước và vùng lãnh thổ là thành viên của uỷ ban bão của Tổ chức Khí tượng Thế giới. Mỗi thành viên cung cấp 10 tên, tạo thành danh sách 140 tên bão.

Danh sách các tên mới có hai sự khác biệt với trước đây là:

Thứ nhất

: Rất ít tên bão là tên riêng của người mà phần lớn là tên các loài hoa, các động vật, các loài chim, các loài cây cỏ và thậm chí tên các món ăn.

Thứ hai

Danh sách tên bão không được sắp sếp theo thứ tự các chữ cái mà sắp sếp theo thứ tự chữ cài của tên các nước đóng góp tên.

Danh sách tên bão trên khu vực Tây bắc Thái Bình Dương và biển đông

(Sử dụng từ ngày 1/1/2000)

 

List I

Damrey, Longwang, Kirogi, Kai-tak, Tembin, Bolaven, Chanchu, Jelawat, Ewiniar, Bilis, Kaemi, Prapiroon, Maria, Saomai, Bopha, Wukong, Sonamu, Shanshan, Yagi, Xangsane, Bebinca, Rumbia, Soulik, Cimaron, Chebi, Durian, Utor, Trami

List II

Kong-rey, Yutu, Toraji, Man-yi, Usagi, Pabuk, Wutip, Sepat, Fitow, Danas, Nari, Vipa, Francisco, Lekima, Krosa, Haiyan, Podul, Lingling, Kajiki, Faxai, Vamei, Tapah, Mitag, Hagibis, Noguri, Ramasoon, Chataan, Halong

List III

Nakri, Fengshen, Kalmaegi, Fung-wong, Kammuri, Phanfone, Vongfong, Rusa, Sinlaku, Hagupit, Changmi, Megkhla, Higos, Bavi, Maysak, Haishen, Pongsona, Yanyan, Kujira, Chan-hom, Linfa, Nangka, Soudelor, Imbudo, Koni, Hanuman, Etau, Vamco

 

 

 

 

Nước/
Lãnh thổ

Tên bão

Cambodia 

Damrey

Kong-rey

Nakri

Krovanh

Sarika

China 

Longwang

Yutu

Fengshen

Dujuan

Haima

DPR Korea

Kirogi

Toraji

Kalmaegi

Maemi

Meari

HK, China

Kai-Tak

Man-yi

Fung-wong

Choi-wan

Ma-on

Japan 

Tenbin

Usagi

Kanmuri

Koppu

Tokage

Lao PDR

Bolaven

Pabuk

Phanfone

Ketsana

Nock-ten

Macau 

Chanchu

Wutip

Vongfong

Parma 

Muifa

Malaysia 

Jelawat

Sepat

Rusa

Melor

Merbok

Micronesia 

Ewinlar

Fitow

Sinlaku

Nepartak

Nanmadol

Philippines 

Bilis

Danas

Hagupit

Lupit

Talas

RO Korea

Gaemi

Nari

Changmi

Sudal

Noru

Thailand 

Prapiroon

Wipha

Mekkhala

Nida

Kulap

U.S.A. 

Maria

Francisco

Higos

Omais

Roke

Vietnam 

Saomai

Lekima

Bavi

Conson

Sonca

Cambodia 

Bopha

Krosa

Maysak

Chanthu

Nesat

China 

Wukong

Haiyan

Haishen

Dianmu

Haitang

DPR Korea

Sonamu

Podul

Pongsona

Mindule

Nalgae

HK, China

Shanshan

Lingling

Yanyan

Tingting

Banyan

Japan 

Yagi

Kaziki

Kujira

Kompasu

Washi

Lao PDR

Xangsane

Faxai

Chan-hom

Namtheun

Matsa

Macau 

Bebinca

Vamei

Linfa

Malou

Sanvu

Malaysia 

Rumbia

Tapah

Nangka

Meranti

Mawar

Micronesia 

Soulik

Mitag

Soudelor

Rananin

Guchol

Philippines 

Cimaron

Hagibis

Imbudo

Malakas

Talim

RO Korea

Chebi

Noguri

Koni

Megi

Nabi

Thailand 

Durian

Rammasun

Morakot

Chaba

Khanun

U.S.A. 

Utor

Chataan

Etau

Aere

Vicete

Vietnam 

Trami

Halong

Vamco

Songda

Saola

 

Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Trung Ương sẽ chọn lọc ra 10 cái tên để nộp cho Uỷ ban bão theo đó các cơn bão mà nước Việt Nam chúng ta đặt tên đều bắt nguồn từ các địa danh nổi tiếng,các động vật quí hiếm.Sau khi đưa 10 tên đề cử.Uỷ ban bão sẽ lấy một số lượng tên nhất định ví dụ Việt Nam có 10 tên bão thì Uỷ ban bão sẽ lấy khoảng 7 đến 8 tên và tương tự như vậy với các nước khác ở khu vực ổ bão Thái Bình Dương (14 nước).Sau khi đxa chọn lọc được tên Uỷ ban bão sẽ lập ra 1 cái list gồm tất cả các tên bão được chọn,theo vị trí A fa B của từng nước.Cơn bão nào phát sinh đầu tiên trong mùa mưa bão ở Thái Bình Dương thì sẽ lấy cái tên đứng đầu tiên trong list được chọn.Tương tự các cơn bão sau,ví dụ cơn bão thứ 2 phát sinh sẽ ứng với tên thứu 2 trong list.

(Nguồn:Chương trình Những người săn bão kênh VTC14)

 

 

 

5.Tại sao bão lại xuất hiện vào mùa hè và mùa thu?

Thời gian chính trong năm có bão hoạt động là vào mùa hè và mùa thu: từ tháng 6 – tháng 10 (ở Bắc bãn cầu) và tháng 12 – tháng 3 năm sau (ở Nam Bán Cầu). Bão xuất hiện nhiều nhất vào mùa hè và mùa thu vì vào thời gian này có đầy dủ các điều kiện thuận lợi nhất cho sự hình thành và phát triển của bão: Nhiệt độ nước biển cao (ít nhất là 26oC), Khí quyển vùng nhiệt đới khá thuận lợi cho sự phát triển đối lưu (tức hình thành dông), và chuyển động xoáy qui mô lớn xảy ra khá mạnh mẽ (trong rãnh gió mùa hoặc sóng đông)

Người ta cho rằng bão hoạt động nhiều nhất vào thời kỳ có bức xạ mặt trời lớn nhất (cuối tháng 6 đối vời vùng nhiệt đới Bắc Bán Cầu và cuối tháng 12 đối với vùng nhiệt đới Nam Bán Cầu), nước biển cần một thời gian khá dài (nhiều tuần) để đạt được nhiệt độ nớng nhất. Cùng thời gian này hoàn lưu khí quyển vùng nhiệt đới cũng hoạt động mạnh mẽ nhất (và khá thuận lợi cho sự hình thành và phát triển bão và áp thấp nhiệt đới). Vào thời gian này, vùng biển nhiệt đới và hoàn lưu khí quyển tương tự với chu trình hàng ngày của nhiệt độ không khí bề mặt – nhiệt độ cao nhất vào khoảng quá trưa, và bức xạ mặt trời lớn nhất vào buổi trưa.

 

 

 

6.Tại sao bão áp thấp nhiệt đới có thể hình thành?

Bão có thể được xem như một cỗ máy, nó cần có không khí nóng và ẩm làm nguồn năng lượng. Không khí nóng, ẩm này bị lạnh đi khi bốc lên trong mây đối lưu, trong các dải mưa và trong thành mắt bão. Hơi nước trong mây ngưng tụ thành các giọt nước, giải phóng ẩn nhiệt, bắt đầu cho quá trình bốc hơi, ẩn nhiệt được giải phóng này cung cấp năng lượng để hình thành hoàn lưu xoáy thuận, mặc dù thực tế bão sử dụng rất ít lượng nhiệt được giải phóng này để giảm khí áp bề mặt và tăng tốc độ gió.

Vào năm 1948, nhà khí tượng Erik palmen đã tìm ra rằng, bão và áp thấp nhiệt đới chỉ có thể hình thành và phát triển khi nhiệt độ nước biển đạt ít nhất 26 - 27oC. Giá trị nhiệt độ 26 - 27oC có liên quan đến độ ổn định của khí quyển ở các vĩ độ nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chỉ với nhiệt độ cao hơn 26,5oC thì đối lưu sâu mới có thể xảy ra được, còn nếu nhiệt độ thấp hơn 26,5oC thì không khí khá ổn định và không xảy ra dông.

 

 

7.Điều kiện hình thành bão?

Bão là một xoáy thuận nhiệt đới được cấu trúc bởi khối khí nóng ẩm với dòng thăng rất mạnh xung quanh mắt bão, tạo hệ thống mây, mưa xoáy vào vùng trung tâm bão. Năng lượng bão là ẩn nhiệt ngưng kết của lượng hơi nước khổng lồ bốc hơi từ mặt biển, ngoài ra bão hình thành đòi hỏi không khí có tầng kết bất ổn định đảm bảo cho sự hình thành đối lưu sâu và dông. Bão chỉ có thể hình thành khi có đủ 3 điều kiện: Nhiệt, ẩm và động lực để tạo xoáy.

Nhà khí tượng Erik palmen đã tìm ra ràng bão chỉ có thể hình thành trên biển trong dải vĩ độ 5 - 20ovĩ hai bên xích đạo có nhiệt độ cao (từ 26 – 27oC trở lên) - đảm bảo cung cấp đủ lượng hơi nước khổng lồ bốc hơi mạnh từ mặt biển để cung cấp năng lượng ngưng kết cho bão hình thành và lực coriolis dủ lớn để tạo xoáy, tạo điều kiện thuận lợi cho bão hình thành. Sở dĩ bão không thể hình thành trong giải 0 – 5ovĩ về hai phía của xích đạo vì ở đó lực coriolis quá nhỏ, không đủ để tạo xoáy.

 

 

 

8.Mắt bão là gì?

Mắt bão là khu vực có khí áp nhỏ nhất trong bão, gần như lặng gió, quang mây, và có nhiệt độ cao hơn vùng xuong quanh (do sự đốt nóng dòng không khí thăng lên), mắt bão có đường kính khoảng 30 – 60km.

  

 

 

 

 

9.Bốc hơi là gì?

Bốc hơi nước là một quá trình nước chuyển từ thể lỏng sang thể hơi hoặc khí (theo Khí tượng Khí hậu học, Hà Nội năm 1964). Bốc hơi nước là đoạn đường đầu tiên trong vòng tuần hoàn nước trong khí quyển chuyển từ thể lỏng thành hơi nước:

Bốc hơi nước là một quá trình nước chuyển từ thể lỏng sang thể hơi hoặc khí (theo Khí tượng Khí hậu học, Hà Nội năm 1964). Bốc hơi nước là đoạn đường đầu tiên trong vòng tuần hoàn nước trong khí quyển chuyển từ thể lỏng thành hơi nước:

Hình:Vòng tuần hoàn nước trong khí quyển

- Đơn vị đo lượng bốc hơi: là lớp nước đo bằng milimét (mm), bốc hơi vào không khí trên một đơn vị diện tích mặt thoáng (1m2).

Ví dụ: lượng bốc hơi ngày 1/1/2006 là 5mm; có nghĩa là lượng nước với bề mặt thoáng diện tích 1m2 tại độ cao 2m (độ cao lều quan trắc) bốc hơi vào khí quyển trong ngày 1/1/2006 (24 giờ) là 5mm nước.

- Khả năng bốc hơi: là lượng nước mà có thể bốc hơi trong điều kiện khí hậu thực tế của một nơi. Nó phụ thuộc vào nhiệt độ, gió, độ ẩm, lớp phủ thực vật...

 

 

 

 

 

 

 

10.Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự bốc hơi nước là gì?

Bốc hơi trong khí quyển phụ thuộc vào 3 điều kiện chính: nhiệt độ, gió, độ ẩm.

- Nhiệt độ: là năng lượng cần thiết cho sự bốc hơi xuất hiện. Năng lượng này được sử dụng để bẻ gãy những liên kết giữa các phân tử nước, nó là nguyên nhân tại sao nước có thể dễ dàng bốc hơi tại điểm sôi (212°F, 100°C) nhưng bốc hơi rất chậm tại điểm đóng băng. Quá trình bốc hơi tiêu thụ nhiệt năng lấy từ môi trường, đó là nguyên nhân tại sao khi nước bốc hơi từ da của bạn làm bạn mát. Trong khí quyển độ bốc hơi phụ thuộc vào nhiệt độ không khí và nhiệt độ mặt đệm.

- Độ ẩm tương đối: độ ẩm tương đối của không khí (là tỷ lệ khối lượng hơi nước trong 1m3 không khí) cũng là một trong những nhân tố tác động tới sự bốc hơi. Khi độ ẩm tương đối không khí đạt 100%, tức là ở trạng thái bão hoà hơi nước, bốc hơi không thể tiếp tục diễn ra. Độ ẩm càng nhỏ, bốc hơi càng diễn ra mạnh mẽ.

- Gió và sự chuyển động đối lưu của không khí: những nơi có gió và chuyển động đối lưu mạnh mẽ thì sẽ có lượng bốc hơi và thoát hơi nuớc cao hơn. Điều này có mối quan hệ với độ ẩm tương đối; vì nếu không có gió, không khí môi trương xung quanh không lưu thông, làm cho độ ẩm gia tăng, không tạo điều kiện thuận lợi cho sự bốc hơi và ngược lại.

- Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng làm ảnh hưởng đến sự bốc hơi như: độ ẩm của đất, kiểu của thảm thực vật...; thực vật ở những vùng khô cằn như cây xương rồng và những loại cây giữ nước, sự thoát hơi nước của chúng ít hơn những cây ở những vùng khác. Ở những nơi có mật độ thảm thực vật mà cao thì có nghĩa là tỷ lệ thoát hơi nước của thực vật cũng giảm theo

 

 

 

11.Vòng tuần hoàn của hơn nước khí quyển diễn ra như thế nào?

Bốc hơi nước từ các đại dương là con đường chính để nước được luân chuyển vào trong khí quyển. Diện tích rất lớn của các đại dương (trên 70% diện tích bề mặt của Trái Đất được bao phủ bởi các đại dương) đã cung cấp những cơ hội lớn cho quá trình bốc hơi diễn ra.

Bốc hơi nước từ các đại dương là con đường chính để nước được luân chuyển vào trong khí quyển. Diện tích rất lớn của các đại dương (trên 70% diện tích bề mặt của Trái Đất được bao phủ bởi các đại dương) đã cung cấp những cơ hội lớn cho quá trình bốc hơi diễn ra. Trên phạm vi toàn cầu tổng lượng nước bốc hơi bằng tổng lượng giáng thủy. Mặc dù vậy, tỉ lệ giữa lượng nước bốc hơi và lượng giáng thuỷ biến đổi theo vùng địa lý. Thông thường trên các đại dương lượng bốc hơi nhiều hơn lượng giáng thủy, trong khi đó trên mặt đất, lượng giáng thủy vượt quá lượng bốc hơi. Phần lớn lượng nước bốc hơi từ các đại dương rơi ngay trên đại dương qua quá trình giáng thủy. Chỉ khoảng 10% của nước bốc hơi từ các đại dương được vận chuyển vào đất liền và rơi xuống thành giáng thuỷ. Khi bốc hơi, một phân tử nước tồn tại trong khí quyển khoảng 10 ngày.

 

12.Tác dụng của bốc hơi nước?

Bốc hơi nước từ các đại dương là con đường chính để nước được luân chuyển vào trong khí quyển. Diện tích rất lớn của các đại dương (trên 70% diện tích bề mặt của Trái Đất được bao phủ bởi các đại dương) đã cung cấp những cơ hội lớn cho quá trình bốc hơi diễn ra.

Bốc hơi nước từ các đại dương là con đường chính để nước được luân chuyển vào trong khí quyển. Diện tích rất lớn của các đại dương (trên 70% diện tích bề mặt của Trái Đất được bao phủ bởi các đại dương) đã cung cấp những cơ hội lớn cho quá trình bốc hơi diễn ra. Trên phạm vi toàn cầu tổng lượng nước bốc hơi bằng tổng lượng giáng thủy. Mặc dù vậy, tỉ lệ giữa lượng nước bốc hơi và lượng giáng thuỷ biến đổi theo vùng địa lý. Thông thường trên các đại dương lượng bốc hơi nhiều hơn lượng giáng thủy, trong khi đó trên mặt đất, lượng giáng thủy vượt quá lượng bốc hơi. Phần lớn lượng nước bốc hơi từ các đại dương rơi ngay trên đại dương qua quá trình giáng thủy. Chỉ khoảng 10% của nước bốc hơi từ các đại dương được vận chuyển vào đất liền và rơi xuống thành giáng thuỷ. Khi bốc hơi, một phân tử nước tồn tại trong khí quyển khoảng 10 ngày.

có nhiều nắng nhiệt độ cao), nhiều gió thuận lợi cho sự bốc hơi.

 

13.Lũ được phân theo cấp độ lướn của đỉnh lũ như

Lũ được phân cấp theo độ lớn của đỉnh lũ như thế nào ?

Căn cứ vào độ lớn đỉnh lũ trung bình nhiều năm, có thể chia ra các cấp lũ như sau (hình 10):

-         Lũ nhỏ là lũ có mực nước đỉnh lũ thấp hơn đỉnh lũ trung bình nhiều năm;

-         Lũ vừa là lũ có mực nước đỉnh lũ đạt mức đỉnh lũ trung bình nhiều năm;

-         Lũ lớn là lũ có mực nước đỉnh lũ cao hơn mức đỉnh lũ trung bình nhiều năm;

-         Lũ đặc biệt lớn là lũ có đỉnh cao hiếm thấy trong các thời kỳ quan trắc;

-         Lũ lịch sử là lũ có đỉnh cao nhất trong các thời kỳ quan trắc và điều tra khảo sát.

 

 

 

14.Lũ tiểu mãn

Lũ tiểu mãn là loại lũ do mưa rào vào khoảng tiết tiểu mãn (cuối tháng 5) hàng năm gây ra. Lũ tiểu mãn thường không lớn nhưng là nguồn cung cấp nước rất quan trọng cho sản xuất, các hồ chứa và đặc biệt là các hồ chứa thuỷ điện, vì vào thời kỳ này thường nắng nóng, mưa ít, nguồn nước các hồ chứa đã cạn kiệt. Tuy vậy, cũng có khi lũ tiểu mãn khá lớn, gây ra những thiệt hại đáng kể (trận lũ tháng 5/1986) ở Trung Bộ.

 

15.Lũ trên các sông lớn

Lũ ở hạ du các sông lớn thường lên từ từ, cường suất lũ lên bằng khoảng vài centimét đến vài chục centimét trong một giờ. Thời gian một trận lũ kéo dài từ vài ngày cho đến vài tháng.

 

16.Tốc độ nước lũ

Tốc độ nước lũ là tốc độ chảy của nước lũ trong sông, có đơn vị là m/s. Tốc độ nước lũ thường khác nhau giữa các sông và giữa các trận lũ. Trên các sông suối vừa và nhỏ miền núi, có độ dốc lòng sông lớn, tốc độ nước lũ lớn nhất có thể đạt tới hơn 5m/s; nhưng ở sông lớn vùng đồng bằng, tốc độ nước lũ tương đối nhỏ chỉ khoảng 2-3 m/s.

 

17.Cường suất lũ

Cường suất lũ là sự biến đổi của mực nước trong một đơn vị thời gian, thường lấy đơn vị là cm/giờ, m/giờ, cm/ngày hoặc m/ngày. Cường suất lũ trên các sông ở vùng núi có thể lên đến 2-5 m/h, ở đồng bằng hạ lưu các sông, khoảng 10 - 20cm/h. Lũ trên thuộc sông Cửu Long loại “lũ hiền từ” nhất ở nước ta, với cường suất trung bình chỉ 3-4cm/ngày, lớn nhất cũng chỉ 20-40cm/ngày.

 

 

 

18.Biên độ mực nước lũ

Biên độ mực nước lũ: là chênh lệch mực nước giữa mực nước đỉnh với mực nước khi lũ bắt đầu lên (D H). Biên độ lũ trên các sông miền núi có thể đạt 10-20 mét, cá biệt, có nơi đạt trên 25 mét (Lai Châu), ở vùng đồng bằng thường từ 3-8 mét.

 

 

19.Lưu lượng nước

Lưu lượng nước là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang sông trong một đơn vị thời gian (1 giây), được ký hiệu là Q và đơn vị là m3/s hoặc l/s.

 

 

 

 

20.Câu trả lời về lũ

a. Lũ là gì ?

là hiện tượng nước sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó giảm dần

b. Mực nước là gì ?

Mực nước là độ cao của mặt nước trong sông so với độ cao chuẩn quốc gia (mực nước trung bình trạm Hòn Dấu), được ký hiệu là H và đơn vị là cm (centimét) hoặc m (mét).

 

c. Lưu lượng nước là gì ?

Lưu lượng nước là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang sông (hình 5) trong một đơn vị thời gian (1 giây), được ký hiệu là Q và đơn vị là m3/s hoặc l/s.

                            

d. Chân lũ lên là gì ?

Chân lũ lên là mực nước (Hcl) hay lưu lượng (Qcl) khi lũ bắt đầu lên (hình 6).

 

e. Đỉnh lũ là gì ?

Đỉnh lũ là mực nước (Hđ) hay lưu lượng nước (Qđ) cao nhất trong một trận lũ.

 

f. Chân lũ xuống là gì ?

Chân lũ xuống là mực nước (Hcx) hay lưu lượng nước (Qcx) xuống thấp thấp nhất hoặc xấp xỉ mực nước chân lũ lên.

 

g. Thời gian lũ lên là gì ?

Thời gian lũ lên là khoảng thời gian từ khi lũ bắt đầu lên đến đỉnh lũ.

 

h. Thế nào là thời gian của một trận lũ ?

Thời gian của một trận lũ là khoảng thời gian từ khi lũ bắt đầu lên đến khi hết lũ.

i. Lượng lũ là gì ?

Lượng lũ là tổng lượng nước của một trận lũ hoặc trong một khoảng thời gian nào đó của trận lũ. Lượng lũ được ký hiệu là W và có đơn vị là m3.

 

k. Mô đun đỉnh lũ là gì ?

Mô đun đỉnh lũ là lượng nước lũ lớn nhất được sinh ra trên 1 km2 diện tích lưu vực sông trong một đơn vị thời gian (1 giây), thường có đơn vị là l/s.km2 hoặc m3/s.km2.

 

l. Tốc độ nước lũ là gì ?

Tốc độ nước lũ là tốc độ chảy của nước lũ trong sông, có đơn vị là m/s. Tốc độ nước lũ thường khác nhau giữa các sông và giữa các trận lũ. Trên các sông suối vừa và nhỏ miền núi, có độ dốc lòng sông lớn, tốc độ nước lũ lớn nhất có thể đạt tới hơn 5m/s; nhưng ở sông lớn vùng đồng bằng, tốc độ nước lũ tương đối nhỏ chỉ khoảng 2-3 m/s.

 

 

 

14. Lũ trên các sông suối vừa và nhỏ diễn ra như thế nào ?

Lũ trên các sông suối vừa và nhỏ ở miền núi thường lên xuống nhanh, tốc độ chảy lớn và thời gian một trận lũ ngắn, thường chỉ kéo dài không quá 2-3 ngày. Thời gian lũ lên, từ vài giờ cho đến 10-15 giờ, còn thời gian lũ xuống từ một đến vài ngày .

 

15. Ở nước ta, mùa lũ phân bố như thế nào ?

Mùa lũ trên các sông Bắc Bộ đến Nam Trung Bộ có xu hướng xuất hiện muộn dần từ Bắc vào Nam

-         Bắc Bộ: từ tháng 6 đến tháng 10;

-         Bắc Trung Bộ (từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh):  từ tháng 7 đến tháng 11;

-         Trung và Nam Trung Bộ (từ Quảng Bình đến Ninh Thuận): từ tháng 9 đến tháng 12;

-         Bình Thuận, Nam Bộ và Tây Nguyên: từ tháng 6 đến tháng 11.  

 

 

16. Thế nào là lũ chính vụ ?

Lũ chính vụ là lũ xuất hiện vào giữa mùa lũ, thường là lũ lớn nhất trong năm nên dễ gây ngập lụt, làm thiệt hại đáng kể về người và của cải. Trên các sông Bắc Bộ, lũ chính vụ thường vào các tháng 7, 8; các sông Trung Bộ, thường vào tháng 10, 11; các sông Nam Bộ, Tây Nguyên, thường vào tháng 9, 10.

 

17. Thế nào là lũ cuối vụ ?

Lũ cuối vụ là lũ xảy ra vào cuối mùa lũ, thường không lớn. Tuy vậy, cũng có năm, có nơi lũ cuối vụ là lũ lớn nhất trong năm. Lũ trên các sông Bắc Bộ, Nam Bộ có thể xuất hiện muộn, vào tháng 11; ở Trung Bộ và Tây Nguyên vào tháng 12 hoặc tháng 1 năm sau.

 

II. CÁC CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI VỀ  LỤT, ÚNG

 

18. Lụt là gì?

Lụt là hiện tượng ngập nước của một vùng lãnh thổ do lũ gây ra. Lụt có thể do lũ lớn, nước lũ tràn qua bờ sông (đê) hoặc làm vỡ các công trình ngăn lũ vào các vùng trũng; có thể do nước biển dâng khi gió bão làm tràn ngập nước vùng ven biển (hình 11).

 

 

19. Úng là gì?

Úng là hiện tượng ngập do nước mưa gây ra.

 

 

20. Nước dâng do bão là gì ?

Nước dâng do bão là sự dâng lên của mực nước biển khi có bão so với bình thường. Bão càng mạnh và xảy ra vào thời kỳ triều cường thì làm nước dâng càng cao. Ở vùng biển từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế, nước dâng có thể lên tới 3 – 4m. Gió mạnh, nước dâng thường gây sạt lở, vỡ đê biển và làm giảm khả năng thoát lũ, gia tăng diện ngập lụt và kéo dài thời gian ngập lụt khi xảy ra lũ lớn trên sông.

 

III. CÁC CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI VỀ  LŨ QUÉT

21. Lũ quét là gì?

Lũ quét là một loại lũ lớn, xảy ra bất ngờ trên các sông suối miền núi, duy trì trong một thời gian ngắn (lên nhanh và xuống nhanh), dòng chảy xiết có hàm lượng chất rắn cao và có sức tàn phá lớn

 

 

22. Nguyên nhân sinh ra lũ quét là gì?

Hai nguyên nhân chính gây ra lũ quét là: 1- Mưa lớn với cường độ cao .

Lưu vực có sườn núi dốc, địa hình bị chia cắt và lớp phủ thực vật thưa bị phá huỷ bừa bãi

 

23. Lũ quét thường xảy ra ở đâu và khi nào?

Nơi sinh lũ quét thường ở thượng nguồn các sông nhánh, lưu vực nhỏ, có độ dốc lớn, mặt đệm bị huỷ hoại năng.

Lũ quét thường xảy ra trong thời gian ngắn (3-6h), vào ban đêm, trong các tháng đầu mùa lũ (tháng VI, VII ở Bắc Bộ, Tây Nguyên, tháng IX, X ở Trung Bộ).

 

24. Đặc điểm chính của lũ quét là gì ?

Chứa lượng vật rắn rất lớn: Lũ quét thường có tỷ lệ vật chất rắn rất lớn, thường chiếm 3-10%, thậm chí trên 10% và trở thành dạng lũ bùn đá, rất hay xảy ra ở nước ta (Hình 24).

Lũ quét có sức tàn phá rất lớn, gây thiệt hại lớn về người và tài sản.Vì vậy, động lực của nó rất lớn, sức tàn phá lớn (hình 25).

 

 

 

25. Có các dạng lũ quét nào?

Có 6 dạng lũ quét sau:

1- Lũ quét sườn dốc: là lũ quét phát sinh chủ yếu do mưa lớn đột ngột xuất hiện trên lưu vực có sườn dốc cao, độ dốc lớn và hình dạng thích hợp cho mạng sông suối tập trung nước nhanh. Lũ xảy ra trong thi gian ngắn (thường vào đêm và sáng), có tốc độ lớn, quét mọi thứ trên đường đi.

 

2- Lũ quét nghẽn dòng: do vỡ các đập tạm thời do cây cối, rác, bùn cát và các vật thể khác làm nghẽn dòng sông, suối do mưa lớn gây ra.

 

- Lũ quét nghẽn dòng là loại hình lũ miền núi thường phát sinh từ các khu vực có nhiều trượt lở ven sông, suối. Đó là các khu vực đang có biến dạng mạnh, sông suối đào xẻ lòng dữ dội, mặt cắt hẹp, sườn núi rất dốc. Do mưa lớn kéo dài, dòng suối đột nhiên bị tắc nghẽn, nước sông suối dâng cao ngập một vùng rộng lớn thường là các vùng lòng chảo, những thung lũng. Khi dòng lũ tích tụ đến mức đập chắn bị mất ổn định và vỡ, lượng nước tích lại trong vùng lòng chảo khi bị nghẽn dòng được giải phóng đột ngột tạo thành sóng lũ lớn cho phía hạ lưu.

4- Lũ bùn đá là dòng lũ đậm đặc bùn đá, cuộn chảy với động năng lớn. Lượng bùn đá trong dòng lũ chủ yếu do sạt lở núi cung cấp. Một phần bùn đá được lấy từ vật liệu có sẵn trong lòng suối (Hình 28). Đây là loại lũ quét đặc biệt nguy hiểm, thường gây nhiều thương vong lớn.

5- Lũ quét vỡ đập, đê, hồ chứa: là lũ do vỡ hồ, đập, đê hoặc công trình thuỷ điện, thuỷ lới gây ra. Lũ quét dạng này có sức tàn phá rất lớn trong khu vực rộng (Hình 29).

6- Lũ quét hỗn hợp là tổ hợp bất lợi giữa nhiều dạng thiên tai như sạt lở đất, lũ quét sườn dốc, lũ bùn đá. Đây là dạng lũ thường xảy ra nhiều ở vùng núi nước ta  và chúng có sức tàn phá mạnh, trong khu vực rộng.

 

 

26. Trượt lở là gì và thường xảy ra ở đâu?

Trượt lở là hiện tượng mất ổn định và dịch chuyển sườn dốc, mái dốc, gây mất ổn định công trình, vùi lấp người và tài sản, phá hoại diện tích canh tác và môi trường sống, có thể dẫn tới những thảm hoạ lớn cho con người và xã hội. Các loại hình trượt lở thường gặp nhất bao gồm: trượt lở, sạt lở, sụt lở, lở đá.

- Trượt lở đất: Xảy ra nhiều ở các sườn đồi núi dốc, đường giao thông, hệ thống đê đập, các bờ mỏ khai thác khoáng sản, các hố đào xây dựng công trình... Đây là loại hình tai biến thường có qui mô từ trung bình tới lớn, phạm vi phát triển rộng, diễn biến từ rất chậm (2- 5cm/năm) gây chủ quan cho con người, tới cực nhanh (lớn hơn 3m/s) làm cho con người không đối phó kịp. Đất đá trượt lở từ vài chục vạn m3 tới 1 - 2 triệu m3, trườn đi xa tới 0,5 - 1 km, đủ lớn để chặn dòng sông suối, dòng nước, tạo nên lũ quét vỡ dòng, đặc biệt nguy hiểm cho các cụm dân cư ở hạ du.

 

- Sạt lở đất thường xảy ra tại các thung lũng và triền sông, dọc các bờ biển bị xói lở (Hình 32). Trong quá trình sạt lở, có sự đan xen giữa hiện tượng dịch chuyển trượt, hiện tượng sụp đổ. Hiện tượng sạt lở thường được báo trước bằng các vết nứt sụt ăn sâu vào đất liền và kéo dài theo bờ sông, bờ biển (Hình 33). Diễn biến phá hoại của sạt lở nhanh và đột ngột. Sạt lở bờ thường có xu hướng tái diễn nhiều năm, phạm vi ảnh hưởng rộng, đe doạ phá hỏng cả cụm dân cư, đặc biệt là các cụm dân cư kinh tế lâu năm ở các vùng đồng bằng, ven biển.

 

 

 

- Sụt lở đất hay xảy ra ở các tuyến đường giao thông, các tuyến đê (Hình 34 và 35). Sụt lở đất ở các triền đồi núi thường làm mất một phần mặt đường hoặc cả đoạn đường đồi núi phá hoại cả một tuyến đường, gây ách tắc vận chuyển và hệ quả kinh tế xã hội nghiêm trọng.

- Lở đá: Là hiện tượng các tảng đá, mất gắn kết với cả khối, sụp đổ và lăn xuống vùng thấp. Đá lở thường xảy ra trên các tuyến đường giao thông miền núi, trên các sườn dốc và lân cận một số khu dân cư (Hình 36).

 

 

27.Mây phóng xạ là gì?

Bộ Quốc phòng Mỹ và Liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) dùng thuật ngữ "mây phóng xạ" để chỉ khí nóng, hơi nước, khói, bụi và các sản phẩm của phản ứng phân hạch hạt nhân được tạo ra sau vụ nổ bom nguyên tử. Thuật ngữ này cũng được dùng cho các sự cố trong nhà máy điện hạt nhân, mặc dù các lò phản ứng không phát nổ giống như bom nguyên tử.

Trên thực tế tỷ lệ các chất đồng vị phóng xạ trong đám vật chất phát sinh từ vụ nổ của bom hạt nhân hoàn toàn khác với vụ nổ của lò phản ứng.

Theo từ điển Khoa học và Công nghệ McGraw-Hill, mây phóng xạ là thuật ngữ dùng để chỉ một lượng không khí và hơi nước mang theo các chất phóng xạ từ vụ nổ hoặc sự cố hạt nhân.

Các nguyên tố hóa học có thể có một hoặc nhiều đồng vị. Các đồng vị có số nguyên tử và số proton trong hạt nhân nguyên tử giống nhau song số neutron của chúng khác nhau nên số khối cũng khác. Chúng được gọi là "đồng vị" vì nằm cùng vị trí trong bảng tuần hoàn hóa học.

Hạt nhân nguyên tử gồm hai loại: ổn định và không ổn định. Phân rã phóng xạ hay phân rã hạt nhân là hiện tượng hạt nhân nguyên tử không ổn định tự biến đổi và phát ra các bức xạ hạt nhân để đạt tới trạng thái ổn định. Các nguyên tử có tính phóng xạ (không ổn định) được gọi là các đồng vị phóng xạ, còn các đồng vị không có tính phóng xạ được gọi là đồng vị bền. Chẳng hạn, nguyên tố Carbon (C) có hai đồng vị phóng xạ là C-12 và C-13, một đồng vị phóng xạ là C-14.

Tia phóng xạ là các dòng hạt chuyển động nhanh phát ra từ các chất phóng xạ trong quá trình phân rã hạt nhân. Chúng có thế là chùm các hạt mang điện dương (như hạt alpha, hạt proton) hay mang điện âm (như electron) hay không mang điện (như hạt neutron, hạt gamma, hạt neutrino).

Một số người cũng chưa hiểu tại sao người dân Trung Quốc đổ xô đi mua muối chứa i-ốt do lo ngại mây phóng xạ từ nhà máy điện hạt nhân Fukushima I, trong khi báo chí Nhật Bản đưa tin các chuyên gia phát hiện đồng vị phóng xạ i-ốt bên ngoài nhà máy. Tại sao người dân Trung Quốc muốn đưa muối i-ốt vào cơ thể họ trong khi nguyên tố này cũng có thể tồn tại trong mây phóng xạ?

Nguyên tố i-ốt có tới 37 đồng vị, trong đó chỉ có I-127 là đồng vị ổn định. Muối chứa I-127 và những viên nén i-ốt kali (KI) có thể được dùng để rửa trôi đồng vị phóng xạ I-131, một sản phẩm phụ của phản ứng phân hạch hạt nhân, trong cơ thể người. Như vậy có nghĩa là người ta dùng đồng vị bền duy nhất của i-ốt để ngăn chặn tác động của đồng vị phóng xạ i-ốt.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÌM HIỂU VỀ CÁC LOẠI THIÊN TAI (SÓNG THẦN,ĐỘNG ĐẤT,NÚI LỬA,...)

 

 

1.Động đất

Động đất hay địa chấn là một sự rung chuyển hay chuyển động lung lay của mặt đất. Động đất thường là kết quả của sự chuyển động của các phay (geologic fault) hay những bộ phận đứt gãy trên vỏ của Trái Đất hay các hành tinh cấu tạo chủ yếu từ chất rắn như đất đá. Tuy rất chậm, mặt đất vẫn luôn chuyển động và động đất xảy ra khi ứng suất cao hơn sức chịu đựng của thể chất trái đất. Hầu hết mọi sự kiện động đất xảy ra tại các đường ranh giới của các đĩa kiến tạo chia ra quyển đá của trái đất (các nhà khoa học thường dùng dữ kiện về vị trí các trận động đất để tìm ra những ranh giới này). Những trận động đất xảy ra tại ranh giới được gọi là động đất xuyên đĩa và những trận động đất xảy ra trong một đĩa (hiếm hơn) được gọi là động đất trong đĩa.


Đặcđiểm:

Động đất xảy ra hằng ngày trên trái đất, nhưng hầu hết không đáng chú ý và không gây ra thiệt hại. Động đất lớn có thể gây thiệt hại trầm trọng và gây tử vong bằng nhiều cách. Động đất có thể gây ra đất lở, đất nứt, sóng thần, nước triều giả, đê vỡ, và hỏa hoạn. Tuy nhiên, trong hầu hết các trận động đất, sự chuyển động của mặt đất gây ra nhiều thiệt hại nhất. Phần lớn các động đất được nhiều trận động đất nhỏ hơn đi trước hay sau lần động đất chính; những trận này được gọi là dư chấn. Năng lực của động đất được trải dài trong một diện tích lớn, và trong các trận động đất lớn có thể trải hết toàn cầu. Các nhà khoa học thường có thể định được điểm mà các sóng địa chấn được bắt đầu. Điểm này được gọi là tiêu điểm. Phóng điểm trên mặt đất từ điểm này được gọi là chấn tâm.

Nhiều động đất, đặc biệt là những trận xảy ra dưới đáy biển, có thể gây ra sóng thần, có thể vì đáy biển bị biến thể hay vì đất lở dưới đáy biển gây ra.

Có bốn loại sóng địa chấn được tạo ra cùng lúc. Tuy nhiên, chúng có vận tốc khác nhau và có thể cảm nhận được theo thứ tự sau: sóng P, sóng S, sóng Love, và cuối cùng là sóngRayleigh.

ĐộRichter:

1–2 trên thang Richter: Không nhận biết được
2–4 trên thang Richter: Có thể nhận biết nhưng không gây thiệt hại
4–5 trên thang Richter: Mặt đất rung chuyển, nghe tiếng nổ, thiệt hại không đáng kể
5–6 trên thang Richter: Nhà cửa rung chuyển, một số công trình có hiện tượng bị nứt
6–7 trên thang Richter: Nhà cửa bị hư hại nhẹ.
7–8 trên thang Richter: Mạnh, phá hủy hầu hết các công trình xây dựng thông thường, có vết nứt lớn hoặc hiện tượng sụt lún trên mặt đất.
8–9 trên thang Richter: Nhà cửa đổ nát, nền đất bị nứt đến 1m, sụp đổ lớn ở núi kèm theo thay đổi địa hình trên diện tích rộng.
>9 trên thang Richter: Rất hiếm khi xảy ra

Các thang đo khác:

• Thang độ lớn mô men (Mw)
• Thang Rossi-Forel (viết tắt là RF)
• Thang Medvedev-Sponheuer-Karnik (viết tắt là MSK)
• Thang Mercalli (viết tắt là MM)
• Thang Shindo của cơ quan khí tượng học Nhật Bản
• Thang EMS98 tại châu Âu

Nguyên nhân:

• Nội sinh: liên quan đến vận động phun trào núi lửa, vận động kiến tạo ở các đới hút chìm, các hoạt động đứt gãy.
• Ngoại sinh: Thiên thạch va chạm vào Trái Đất, các vụ trượt lở đất đá với khối lượng lớn.
• Nhân sinh: Hoạt động làm thay đổi ứng suất đá gần bề mặt hoặc áp suất chất lỏng, đặc biệt là các vụ thử hạt nhân dưới lòng đất.

Ngoài ra còn phải kể đến hoạt động âm học, đặc biệt là kỹ thuật âm thanh địa chấn.

Nên làm gì khi có động đất:

Động đất là một thiên tai không thể dự báo trước được, cho nên những người sống ở một nơi gần những nơi thường có động đất không thể tránh nó được. Tuy nhiên, có một số điều ta có thể làm để trước, trong lúc, và sau động đất để tránh thương tích và thiệt hại do động đất gây ra.

Trước động đất:

• Những vật dụng trong nhà nên được đứng vững chắc. Những thứ như tivi, gương, máy tính, v.v. nên được dán chặt vào tường để khi lung lay cũng không rớt xuống đất gây ra thương tích. Tranh, gương, v.v. nên được đặt xa giường ngủ.
• Đặt các đồ đạc nặng trong nhà như kệ sách, tủ chén, v.v. xa khỏi các cửa và những nơi thường lui tới để khi chúng ngả vẫn không làm chướng ngại lối ra. Chúng cũng nên được dính chặt vào tường.
• Vật dụng nhà bếp nên được dính chặt vào mặt đất, tường, hay mặt bàn.
• Những vật nặng hay dễ bể nên để gần mặt đất.
• Tại một nơi dễ đến, dự trữ nước uống, đồ ăn đóng hộp, đèn pin, pin, rađiô, băng, thuốc men. Thay đổi chúng thường xuyên khi hết hạn.
• Chọn một nơi tụ họp gia đình nếu mọi người không ở cùng nơi khi động đất xảy ra.

Trong lúc động đất:

• Nếu động đất xảy ra trong lúc trong nhà, chui xuống một gầm bàn lớn hay giường nếu nó có thể chịu được nhiều vật rớt. Như thế khi nhà sập vẫn có khí thở. Nếu bàn chuyển động, đi theo bàn.
• Nếu không có gầm bàn thì tìm góc phòng hay cửa mà đứng. Tránh cửa kính.
• Tránh xa những vật có thể rơi xuống.
• Che mặt và đầu để khỏi bị các mảnh vụn trúng.
• Nếu điện cúp, dùng đèn pin. Đừng dùng nến hay diêm vì chúng có thể gây hỏa hoạn.
• Nếu động đất xảy ra trong lúc ở ngoài đường, tránh xa các tòa nhà và dây điện. Tìm chỗ trống mà đứng.
• Nếu động đất xảy ra trong lúc lái xe, ngừng xe ở lề đường. Tránh các cột điện, dây điện, và đường cầu.

Sau động đất:

• Kiểm tra thử có ai bị thương không. Đừng di chuyển người bị thương trừ khi họ ở gần dây điện hay những nguy hiểm khác. Gọi cấp cứu nếu có người tắt thở. Nếu bị nhà sập, gây tiếng động để kêu cứu.
• Chuẩn bị cho các trận dư chấn, những trận động đất gây ra bởi trận động đất vừa xảy ra. Tuy chúng nhỏ hơn, chúng vẫn có thể gây ra thương tích.
• Mở rađiô để xem có tin tức khẩn cấp không.
• Động đất có thể làm đứt dây điện, gas, hay nước. Nếu ngửi thấy có mùi hôi, mở cửa sổ và tắt đường gas, đừng tắt mở máy nào hết, và ra ngoài. Thông báo các nhà chức trách.
• Đến nơi đã chọn để tụ họp và tính đầy đủ.

 

 

 

2.Sóng thần

Các trận sóng thần có thể hình thành khi đáy biển, đột ngột bị biến dạng theo chiều dọc, chiếm chỗ của lượng nước nằm trên nó. Những sự di chuyển lớn theo chiều dọc như vậy của vỏ Trái Đất có thể xảy ra tại các rìa mảng lục địa. Những trận động đất do nguyên nhân va chạm mảng đặc biệt hay tạo ra các cơn sóng thần. Khi một mảng đại dương va chạm với một mảng lục địa, đôi khi nó làm rìa mảng lục địa chuyển động xuống dưới. Cuối cùng, áp suất quá lớn tác dụng lên rìa mảng khiến nó nhẩy giật lùi lại (snaps back) tạo ra các đợt sóng chấn động vào vỏ Trái Đất, khiến xảy ra cơn địa chấn dưới lòng biển, được gọi là động đất tại đáy biển.

Những vụ lở đất dưới đáy biển (thỉnh thoảng xảy ra vì nguyên nhân động đất) cũng như những vụ sụp đổ của núi lửa cũng có thể làm chấn động cột nước khiến trầm tích và đá trượt xuống theo sườn núi rơi xuống đáy biển. Tương tự như vậy, một vụ phun trào núi lửa mạnh dưới biển cũng có thể tung lên một cột nước để hình thành sóng thần. Các con sóng được hình thành khi khối lượng nước bị dịch chuyển vị trí chuyển động dưới ảnh hưởng của trọng lực để lấy lại thăng bằng và tỏa ra trên khắp đại dương như các gợn sóng trên mặt ao.

Trong thập kỷ 1950 người ta đã khám phá ra rằng những cơn sóng thần lớn có thể xuất hiện từ các vụ lở đất, hoạt động phun trào núi lửa và các vụ va chạm thiên thạch. Những hiện tượng đó khiến một lượng nước lớn nhanh chóng bị chuyển chỗ, khi năng lượng từ một thiên thạch hay một vụ nổ chuyển vào trong nước nơi xảy ra va chạm. Các cơn sóng thần với xuất hiện từ những nguyên nhân đó, khác với những trận sóng thần do động đất gây ra, thường nhanh chóng tan rã và hiếm khi lan tới những bờ biển quá xa vì diện tích xảy ra sự kiện nhỏ. Các hiện tượng đó có thể gây ra các cơn sóng địa chấn lớn chỉ trong một khu vực, như vụ lở đất ở Vịnh Lituya tạo ra một sóng nước ước tính tới 50-150 m và tràn tới độ cao 524 m trên các ngọn núi ở đó. Tuy nhiên, một vụ lở đất cực lớn có thể gây ra một trận sóng thần cực lớn gây ảnh hưởng trên toàn bộ đại dương.

 

 

Đặc điểm:

Sóng thần diễn biến rất khác biệt tùy theo kiểu sóng: chúng chứa năng lượng cực lớn, lan truyền với tốc độ cao và có thể vượt khoảng cách lớn qua đại dương mà chỉ mất rất ít năng lượng. Một trận sóng thần có thể gây ra thiệt hại trên bờ biển cách hàng nghìn cây số nơi nó phát sinh, vì thế chúng ta có thể có nhiều tiếng đồng hồ chuẩn bị từ khi nó hình thành tới lúc ập vào một bờ biển, nó xuất hiện một thời gian khá dài sau khi sóng địa chấn hình thành từ nơi xảy ra sự kiện lan tới. Năng lượng trên mỗi mét dài trong sóng tỷ lệ với nghịch đảo của khoảng cách từ nguồn phát.

Thậm chí một trận sóng thần riêng biệt có thể liên quan tới một loạt các đợt sóng với những độ cao khác nhau. Ở vùng nước rộng, các cơn sóng thần có chu kỳ rất dài (thời gian để đợt sóng sau tới vị trí một điểm sau đợt sóng trước), từ nhiều phút tới nhiều giờ, và chiều dài sóng dài lên tới hàng trăm kilômét. Điều này rất khác biệt so với các con sóng hình thành từ gió bình thường trên mặt đại dương, chúng thường có chu kỳ khoảng 10 giây và chiều dài sóng 150 mét.

Chiều cao thực của một đợt sóng thần trên đại dương thường không tới một mét. Điều này khiến những người ở trên tàu giữa đại dương khó nhận ra chúng. Bởi vì chúng có chiều dài sóng lớn, năng lượng của một cơn sóng thần điều khiển toàn bộ cột nước, hướng nó xuống phía đáy biển. Các cơn sóng đại dương ở vùng nước sâu thường xuất hiện do chuyển động của nước tính từ bề mặt đến một độ sâu bằng một nửa chiều dài sóng. Điều này có nghĩa rằng sự di chuyển của sóng bề mặt đại dương chỉ đạt tới độ sâu khoảng 100 m hay ít hơn. Trái lại, những cơn sóng thần hoạt động như những con sóng vùng nước nông giữa biển khơi (bởi chiều dài của chúng ít nhất lớn gấp 20 lần chiều sâu nơi chúng hoạt động), bởi sự phân tán chuyển động của nước ít xảy ra nơi nước sâu.

Con sóng đi qua đại dương với tốc độ trung bình 500 dặm một giờ[1]. Khi tiến tới đất liền, đáy biển trở nên nông và con sóng không còn di chuyển nhanh được nữa, vì thế nó bắt đầu "dựng đứng lên"; phần phía trước con sóng bắt đầu dựng đứng và cao lên, và khoảng cách giữa các đợt sóng ngắn lại. Tuy một người ở ngoài đại dương có thể không nhận thấy dấu hiệu sóng thần, nhưng khi vào bờ nó có thể đạt chiều cao một tòa nhà sáu tầng hay hơn nữa. Quá trình dựng đứng lên này tương tự như khi ta vẩy một chiếc roi da. Khi sóng tiến từ phía cuối ra đầu roi, cùng một lượng năng lượng phân bố trong khối lượng vật liệu ngày càng nhỏ, khiến chuyển động trở nên mãnh liệt hơn.

Một con sóng trở thành một con "sóng nước nông" khi tỷ lệ giữa độ sâu mặt nước và chiều dài sóng của nó rất nhỏ, và bởi vì sóng thần có chiều dài sóng rất lớn (hàng trăm kilômét), các cơn sóng thần hoạt động như những cơn sóng nước nông ngay bên ngoài đại dương. Những con sóng nước nông di chuyển với tốc độ bằng căn bậc hai của tích giữa gia tốc trọng trường (9.8 m/s2) và chiều sâu nước. Ví dụ, tại Thái Bình Dương, với độ sâu trung bình 4000 m, một cơn sóng thần di chuyển với tốc độ khoảng 200 m/s (720 km/h hay 450 dặm/giờ) và mất ít năng lượng, thậm chí đối với những khoảng cách lớn. Ở độ sâu 40 m, tốc độ sẽ là 20 m/s (khoảng 72 km/h hay 45 dặm/giờ), nhỏ hơn tốc độ trên đại dương nhưng rõ ràng con người không thể chạy nhanh hơn tốc độ này.

Sóng thần lan truyền từ nguồn phát (tâm chấn), vì thế những bờ biển trong vùng bị ảnh hưởng bởi chấn động thường lại khá an toàn. Tuy nhiên, các cơn sóng thần có thể gây nhiễu xạ xung quanh các mảng lục địa (như thể hiện trong hoạt hình này).

Đặc trưng riêng của điều kiện địa lý địa phương có thể dẫn tới hiện tượng triều giả hay sự hình thành các đợt sóng dừng, có thể gây thiệt hại lớn hơn trên bờ biển. Ví dụ, cơn sóng thần lan tới Hawaii ngày 1 tháng 4, 1946 có thời gian ngắt quãng mười lăm phút giữa các đợt sóng. Chu kỳ cộng hưởng tự nhiên của Vịnh Hilo là khoảng mười ba phút. Điều đó có nghĩa mỗi đợt sóng tiếp theo trùng pha với chuyển động của Vịnh Hilo, tạo ra một đợt triều giả trong vịnh. Vì thế, Hilo bị thiệt hại nặng nền nhất so với tất cả các địa điểm khác tại Hawaii, đợt sóng thần/triều giả có độ cao lên tới 14 m giết hại 159 người.

Sóng biển được chia làm 3 loại, căn cứ vào độ sâu :

  • Tầng nước sâu
  • Tầng nước trung bình
  • Tầng nước nông

Dù được tạo ra ở tầng nước sâu (khoảng 4000 m dưới mực nước biển), sóng thần được xem là sóng ở tầng nước nông. Khi sóng thần tiến vào tầng nước nông gần bờ, khoảng thời gian của nó không đổi, nhưng chiều dài sóng thì giảm liên tục, điều này làm cho nước tích tụ thành một mái vòm khỏng lồ, gọi là hiệu ứng "bị cạn".

Những dấu hiệu sau đây thường báo trước một cơn sóng thần :

  • Cảm thấy động đất.
  • Các bong bóng chứa khí gas nổi lên mặt nước làm ta có cảm giác như nước đang bị sôi.
  • Nước trong sóng nóng bất thường.
  • Nước có mùi trứng thối (khí hyđro sulfua) hay mùi xăng, dầu.
  • Nước làm da bị mẩn ngứa.
  • Nghe thấy một tiếng nổ như là:

- tiếng máy nổ của máy bay phản lực

- hay tiếng ồn của cánh quạt máy bay trực thăng, hay là

- tiếng huýt sáo.

  • Biển lùi về sau một cách đáng chú ý.
  • Vệt sáng đỏ ở đường chân trời.

Sóng thần không thể được dự đoán một cách hoàn toàn chính xác, nhưng có những dấu hiệu có thể báo trước một đợt sóng thần sắp xảy ra, và nhiều hệ thống đang được phát triển và được sử dụng để giảm thiểu những thiệt hại do sóng thần gây ra.

Ở những khoảnh khắc khi lưỡi đợt sóng thần là vùng lõm của nó, nước biển sẽ rút khỏi bờ với khoảng cách bằng nửa chu kỳ sóng trước khi đợt sóng tràn tới. Nếu đáy biển có độ nghiêng thấp, sự rút lui này có thể lên tới hàng trăm mét. Những người không nhận thức được về sự nguy hiểm có thể vẫn ở lại trên bãi biển vì tò mò, hay để nhặt những con cá trên đáy biển lúc ấy đã trơ ra.

 

Dấu hiệu cảnh báo sóng thần tại đập ngăn nước ở Kamakura, Nhật Bản, 2004. Ở thời Muromachi, một cơn sóng thần đã tràn vào Kamakura, phá hủy những ngôi nhà gỗ nơi đặt pho tượng Phật A di đà tại Kotokuin. Từ ấy, bức tượng được đặt ngoài trời.

Ở những khoảnh khắc khi lưỡi sóng của cơn sóng thần đạt mức đỉnh lần thứ nhất, những đợt sóng tiếp theo có thể khiến nước dâng cao hơn. Một lần nữa, việc hiểu biết về hoạt động của sóng thần rất quan trọng, để có thể nhận thức rằng khi mực nước rút xuống lần đầu tiên, nguy hiểm chưa hề qua. Ở những vùng bờ biển có độ cao thấp, một trận động đất mạnh là dấu hiệu cảnh báo chính rằng một cơn sóng thần có thể đã được tạo ra.

Những vùng có nguy cơ sóng thần cao có thể sử dụng những hệ thống cảnh báo sóng thần để xác định và cảnh báo người dân trước khi sóng đi tới đất liền. Tại một số cộng đồng ở bờ biển phía tây nước Mỹ, vốn có nguy cơ đối mặt với các cơn sóng thần Thái Bình Dương, những dấu hiệu cảnh báo hướng dẫn người dân đường thoát hiểm khi một cơn sóng thần tràn tới. Các mô hình máy tính có thể dự đoán phỏng chừng khoảng thời gian tràn tới và sức mạnh của sóng thần dựa trên thông tin về sự kiện gây ra nó và hình dạng của đáy biển (bathymetry) và vùng đất bờ biển (địa hình học).

Một trong những dấu hiệu cảnh báo sớm nhất là từ những loài động vật ở gần. Nhiều loài vật cảm giác được sự nguy hiểm và bỏ chạy lên vùng đất cao trước khi những con sóng tràn tới. Vụ động đất Lisbon là trường hợp đầu tiên được ghi lại về hiện tượng đó tại Châu Âu. Hiện tượng này cũng đã được nhận thấy tại Sri Lanka trong trận Động đất Ấn Độ Dương 2004 .Một số nhà khoa học có thể suy luận rằng các loài vật có thể có một khả năng cảm nhận được sóng hạ âm Rayleigh waves từ một trận động đất nhiều phút hay nhiều giờ trước khi một cơn sóng thần tấn công vào bờ (Kenneally)

Trong khi vẫn chưa có khả năng ngăn chặn sóng thầm, tại một số quốc gia thường phải hứng chịu thảm họa thiên nhiên này, một số biện pháp đã được tiến hành nhằm giảm thiệt hại do sóng thần gây ra. Nhật Bản đã áp dụng một chương trình lớn xây dựng các bức tường chắn sóng thần với chiều cao lên tới 4.5 m (13.5 ft) trước những vùng bờ biển nhiều dân cư sinh sống. Những nơi khác đã xây dựng các cửa cống và kênh để dẫn dòng nước từ những cơn sóng thần đi hướng khác. Tuy nhiên, hiệu quả của chúng vẫn còn là một vấn đề tranh cãi, bởi vì các cơn sóng thần thường cao hơn tường chắn. Ví dụ, đợt sóng thần tràn vào đảo Hokkaido ngày 12 tháng 7, 1993 tạo ra những đợt sóng cao tới 30 m (100 ft) - tương đương một tòa nhà 10 tầng. Thị trấn cảng Aonae đã được trang bị một bức tường chắn sóng thần bao kín xung quanh, nhưng các cơn sóng đã tràn qua tường và phá hủy toàn bộ cấu trúc xây dựng bằng gỗ trong vùng. Bức tường có thể có tác dụng trong việc làm chậm và giảm độ cao sóng thần nhưng nó không ngăn cản được tính phá hủy và gây thiệt hại nhân mạng của sóng thần.

Những hiệu ứng của một cơn sóng thần có thể giảm bớt nhờ những yếu tố thiên nhiên như cây trồng dọc bờ biển. Một số vị trí trên đường đi của cơn sóng thần Ấn Độ Dương 2004 hầu như không bị thiệt hại gì nhờ năng lượng sóng thần đã bị một dải cây như dừađước hấp thụ. Một ví dụ khác, làng Naluvedapathy tại vùng Tamil Nadu Ấn Độ bị thiệt hại rất ít khi những con sóng thần tan vỡ trong khu rừng 80.244 cây được trồng dọc bờ biển năm 2002 để được ghi tên vào Sách kỷ lục Guinness. Những nhà môi trường đã đề xuất việc trồng cây dọc theo những vùng bờ biển có nguy cơ sóng thần cao. Tuy có thể mất vài năm để cây lớn đạt tới kích cỡ cần thiết, những công cuộc trồng rừng như vậy có thể mang lại những công cụ hữu hiệu, rẻ tiền cũng như có tác dụng lâu dài trong việc ngăn chặn sóng thần hơn những biện pháp đắt tiền, gây hại đến môi trường như các bức tường chắn sóng.

 

 

 

 

 

3.Bão từ

Bão từ hay còn gọi là bão địa từ trên Trái Đất là những thời kỳ mà kim la bàn dao động mạnh. Nguyên nhân gây ra bão từ là do dòng hạt mang điện phóng ra từ các vụ bùng nổ trên Mặt Trời (gió Mặt Trời) tác dụng lên các đường cảm ứng từ của Trái Đất. Trên một số hành tinh khác trong hệ Mặt Trời, nhất là các hành tinh có từ quyển (như Sao Thổ]) cũng có hiện tượng tương tự.

Các quá trình được miêu tả như sau:

  1. Các dòng hạt mang điện phóng ra từ Mặt Trời sinh ra một từ trường, có độ lớn vào khoảng 6.10-9 tesla.
  2. Từ trường này ép lên từ trường Trái Đất làm cho từ trường nơi bị ép tăng lên.
  3. Khi từ trường Trái Đất tăng lên, từ thông sẽ biến thiên và sinh ra một dòng điện cảm ứng chống lại sự tăng từ trường của Trái Đất (theo định luật Lenz).
  4. Dòng điện cảm ứng này có thể đạt cường độ hàng triệu ampe chuyển động vòng quanh Trái Đất và gây ra một từ trường rất lớn tác dụng lên từ trường Trái Đất.
  5. Hiện tượng này tiếp diễn làm cho từ trường Trái Đất liên tục biến thiên và kim la bàn dao động mạnh.

Nếu hướng của từ trường trong tầng điện ly hướng về phía Bắc, giống như hướng của từ trường Trái Đất, bão địa từ sẽ lướt qua hành tinh của chúng ta. Ngược lại, nếu từ trường hướng về phía Nam, ngược với hướng từ trường bảo vệ của Trái Đất, các cơn bão địa từ mạnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới Trái Đất. Mặc dù khí quyển Trái Đất chặn được các dòng hạt năng lượng cao đến từ Mặt Trời này (gồm electronproton), song các hạt đó làm xáo trộn từ trường của hành tinh, cụ thể là quyển từ, có thể gây ra rối loạn trong liên lạc vô tuyến hay thậm chí gây mất điện.

Các vụ phun trào khí và nhiễm điện từ Mặt Trời được xếp theo 3 cấp: C là yếu, M là trung bình, X là mạnh. Tùy theo cấp cao hay thấp mà ảnh hưởng của nó lên từ trường Trái Đất gây ra bão từ nhiều hay ít. Bão từ được xếp theo cấp từ G1 đến G5, G5 là cấp mạnh nhất. Theo nhiều nghiên cứu thì hiện nay các cơn bão từ xuất hiện nhiều hơn và mạnh hơn, điều này cho thấy rằng Mặt Trời đang ở vào thời kỳ hoạt động rất mạnh.

Thời kỳ có bão từ là thời kỳ rất nguy hiểm cho người có bệnh tim mạch bởi vì từ trường ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động của các cơ quan trong hệ tuần hoàn của con người. Ngoài ra từ trường của Trái Đất cũng giúp cho một số loài động vật thực hiện một số chức năng sống của chúng như là chức năng định hướng do đó bão từ cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến sự sống của các loài này.

 

 

4.El Nino

El Nino (phát âm như "eo ni-nhô") là hiện tượng trái ngược với La Nina (tiếng Tây Ban Nha: El NiñoLa Niña), là một trong những hiện tượng thời tiết bất thường gây thảm họa cho con người từ hơn 5000 năm nay. Ngày nay, hiện tượng El Nino xuất hiện thường xuyên hơn và sức tàn phá của nó cũng mãnh liệt hơn.

El Niño trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là "đứa trẻ", chỉ đến Chúa hài đồng. Cứ trung bình 3-10 năm, ngư dân vùng biển tại Peru phát hiện ra nước biển ấm dần lên vào mùa đông, khoảng vài tuần trước Lễ Giáng Sinh. Đây chính là một nghịch lý, nhưng nó vẫn tồn tại có chu kì và kéo theo hiện tượng hơi nước ở biển bốc lên nhiều hơn, tạo ra những cơn mưa như thác đổ. Và ngư dân đã gọi hiện tượng này là El Niño để đánh dấu thời điểm xuất phát của nó là gần Giáng Sinh.

Trong khí tượng học người ta còn gọi hiện tượng El Nino là Dao động phương Nam (Southern oscillation). Ngày nay, khoa học đã chứng minh được rằng hiện tượng El Nino có ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu và thuật ngữ El Nino dùng để chỉ hiện tượng nước biển nóng lê.

Mưa bão, lụt lội, đó là các hiện tượng dễ thấy nhất của El Nino. Lý do là dòng nước ấm ở phía đông Thái Bình Dương chạy dọc theo các nước Chile, Peru... đã đẩy vào không khí một lượng hơi nước rất lớn. Hậu quả là các quốc gia ở Nam Mỹ phải hứng chịu một lượng mưa bất thường, có khi lượng mưa lên đến 15 cm mỗi ngày. Điều bất ngờ là những cơn gióThái Bình Dương tự dưng đổi hướng vào thời điểm có El Nino. Chúng thổi ngược về phía đông thay vì phía tây như thời tiết mỗi năm. Những cơn gió này có khả năng đưa mây vượt qua Nam Mỹ, đến tận Romania, Bulgaria, hoặc bờ biển Đen của Nga. Như vậy, một vùng rộng lớn của tây bán cầu bị El Nino khống chế. Năm 1997, toàn vùng này bị thiệt hại ước tính 96 tỷ USD do mưa bão, lũ lụt từ El Nino gây ra. Ngược lai, hiện tượng khô hạn lại xảy ra trên các quốc gia thuộc đông bán cầu. Do mây tập trung vào một khu vực có mật độ quá cao, do đó, phần còn lại của thế giới phải hứng chịu đợt hạn hán nghiêm trọng. Các nước thường xuyên chịu ảnh hưởng khô hạn do El Nino gây ra có thể kể: Úc, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam... Đợt hạn hán gần đây nhất ở Úc đã làm hàng triệu con kangaroo, cừu, ... chết vì khát. Bang New South Wales suốt chín tháng không có mưa, hồ nước ngọt Hinze (bang Queensland) cạn kiệt. Tại Thái Lan, hơn một triệu gia đình bị thiếu nước trầm trọng.

El Nino không phải là hiện tượng do con người tạo ra, mà chính là thiên nhiên. Vì sao lại xuất hiện dòng nước ấm đột ngột ở phía đông Thái Bình Dương để khởi đầu hiện tượng El Nino? Một trong những nguyên nhân lớn gây ra hiện tượng El Nino là sự thay đổi hướng gió, tuy nhiên đến nay các nhà khoa học vẫn chưa có lời giải đáp hoàn toàn thống nhất. Những nguyên nhân khác bao gồm sự thay đổi áp suất không khí, Trái Đất nóng dần lên, hay cả các cơn động đất dưới đáy biển.

Các nhà khoa học đã đề ra ba giải pháp đối phó với hiện tượng này:

  • Khai thác tất cả tiềm lực văn minh nhân loại để dự báo thời điểm chính xác xuất hiện, dự báo đường đi và sức công phá.
  • Không làm các công việc tiếp tay cho El Nino như phá rừng, thải khí cácbonic vào không khí, vì El Nino càng mạnh mẽ hơn nếu mặt đất thiếu cây xanh hay để xảy ra hiện tượng nhà kính.
  • Chuẩn bị những điều kiện tối thiểu để sống chung với El Nino, ví dụ như xây nhà phao tránh lũ (đối với vùng lũ lụt) hay dự trữ nước (đối với vùng khô hạn)...

Không phải El Nino lúc nào cũng gây tai họa cho con người. Cách đây hơn 5000 năm, khi mà hiện tượng này mới được ngư dân Peru phát hiện thì El Nino đồng nghĩa với "tin mừng". Vì nước biển lúc ấy tăng lên đủ ấm để vi sinh vật phát triển. Chúng là thức ăn cho biển. Nhờ thế nền đánh bắt cá của các nước ven biển Nam Mỹ phát triển mạnh. Nếu năm nào mà hiện tượng El Nino không làm cho nhiệt độ nước biển tăng lên quá cao thì năm đó sẽ có mùa cá bội thu.

 

 

 

5.La Nina

La Nina là một hiện tượng trái ngược lại với hiện tượng El Nino. Hiện tượng La Nina thường bắt đầu hình thành từ tháng ba đến tháng sáu hằng năm, và gây ảnh hưởng mạnh nhất vào cuối năm cho tới tháng hai năm sau. La Nina sẽ xảy ra ngay sau khi hiện tượng El Nino kết thúc.Hiện tượng La Nina thuộc dòng biển lạnh làm lạnh nhiệt độ của những vùng mà nó đi qua.

Trong tiếng Tây Ban Nha, La Nina còn có nghĩa là "bé gái" để biểu thị sự trái ngược lại với hiện tượng El Nino. La Nina còn được gọi với cái tên El Viejo hay Anti-El Nino.

 

 

6.Núi lửa

Núi lửanúi có miệng ở đỉnh, qua đó, từng thời kỳ, các chất khoáng nóng chảy với nhiệt độ và áp suất cao bị phun ra ngoài. Núi lửa phun là một hiện tượng tự nhiên trên Trái Đất hoặc các hành tinh vẫn còn hoạt động địa chấn khác, với các vỏ thạch quyển di chuyển trên lõi khoáng chất nóng chảy. Khi núi lửa phun, một phần năng lượng ẩn sâu trong lòng hành tinh sẽ được giải phóng.

Trên thế giới, Indonesia, Nhật BảnMỹ được xem là ba nước có nhiều núi lửa đang hoạt động nhất, theo thứ tự giảm dần về mức độ hoạt động.

Phân loại núi lửa:

Theo hình thức hoạt động, núi lửa được chia thành 3 loại:

  • Núi lửa hoạt động
  • Núi lửa đang ngủ
  • Núi lửa đã tắt

 

Hai núi lửa Bromo và Semeru đang bốc khói tại đảo Java, Indonesia.

Hầu hết núi lửa và động đất xảy ra dọc theo ranh giới của hàng chục mảng thạch quyển khổng lồ trôi nổi trên bề mặt Trái Đất. Một trong những vành đĩa nơi động đất và phun trào núi lửa xảy ra nhiều nhất là quanh Thái Bình Dương, thường được gọi là Vành đai núi lửa Thái Bình Dương. Nó gây ra các vụ chấn động và nung nóng trải dài từ Nhật Bản tới AlaskaNam Mỹ.

Vào năm 2000, các nhà khoa học đã ước tính ít nhất 500 triệu người sống gần khu vực núi lửa hoạt động, tương đương với dân số toàn thế giới vào đầu thế kỷ 17.

Trong 500 năm qua, có ít nhất là 300.000 người đã chết vì núi lửa. Từ năm 1980 đến 1990, núi lửa đã làm thiệt mạng ít nhất 26.000 người.

 

Núi lửa đang hoạt động lớn nhất thế giới hiện nay đang nằm ở châu Mỹ. Đó là núi lửa Mauna Loa, cao 4.171 mét so với mực nước biển. Núi lửa Mauna Loa ở quần đảo Hawaii, giữa Thái Bình Dương. Mauna Loa có đường kính vĩ đại 100 km. Ngoài 4.171 mét trên mực nước biển, chân núi nằm ở sâu hơn 5.000 mét dưới lòng Thái Bình Dương. Vì vậy, chiều cao thực sự của núi lửa đang hoạt động lớn nhất thế giới là trên 9.000 mét. Với chiều cao đó nó thậm chí còn cao hơn đỉnh núi Everest.

Hiện tại (2010) Việt Nam không có núi lửa nào đang phun. Tuy nhiên trong lịch sử, cùng với vận động vỏ Trái Đất trong khu vực (Đông Dương, Đông Nam Á) đã có nhiều đợt núi lửa phun trào còn để lại vết tích trong kiến trúc địa lý.Ngày 15 tháng 2 năm 1923, cù lao Hòn thuộc Phan Thiết đã xảy ra động đất làm rung chuyển nhà cửa, kéo dài 1 tuần; thủy thủ trên tàu Vacasamaru của Nhật phát hiện một đám khói đen dựng đứng, kèm theo một cột hơi dày đặc bốc cao hơn 2.000 m cùng với những tiếng nổ mạnh phát ra từng đợt. Đến ngày 20 tháng 3 cùng năm, động đất và núi lửa phun lại xảy ra lần nữa.

Mặt Trăng của Trái Đất hiện không quan sát thấy núi lửa nào lớn đang hoạt động.[4] Núi lửa Tvashtar trên vệ tinh Io của sao Mộc là một trong những núi lửa còn hoạt động lớn nhất hệ Mặt Trời và do đó, lớn nhất vũ trụ hiện quan sát được.

Núi lửa và động đất:

Những trận động đất thường để lại các dư chấn, có thể gây ra sóng thần.Động đất có thể làm dịch chuyển các mảng địa chất gây nên các vụ phun trào núi lửa .

Quan sát từ thực địa nhiều vùng và suy luận rằng: Núi lửa, động đất, đứt gẫy đều do sự hoạt động của các khối xâm nhập nông á núi lửa trẻ.Quan sát thấy núi lửa luôn nằm tại giao điểm của 4 đứt gẫy. Do đó có thể nói: Núi lửa sinh ra động đất và đứt gẫy. Đến lượt mình, các đứt gẫy lại tạo điều kiện cho núi lửa chui ra mặt đất tại điểm yếu nhất của vỏ quả đất: nơi giao điểm của 4 đứt gẫy. Động đất sẽ có cường độ mạnh nhất tại giao điểm của 4 đứt gẫy và trên nóc của các khối xâm nhập nông á núi lửa trẻ giàu quặng kim loại. Nhờ đó có thể dùng các phương pháp địa vật lý hàng không ( từ và trọng lực hàng không bằng máy bay và vệ tinh) để xác định tâm của các khối xâm nhập nông á núi lửa - cũng đồng thời là tâm chấn động đất đã xảy ra hoặc có thể tái hoạt động.

 

 

7.Nhật thực

Nhật thực xảy ra khi Mặt Trăng đi qua giữa Trái ĐấtMặt Trời và che khuất hoàn toàn hay một phần Mặt Trời khi quan sát từ Trái Đất. Điều này chỉ có thể xảy ra tại thời điểm sóc trăng non được quan sát thấy từ Trái Đất, khi Mặt Trời và Mặt Trăng giao hội. Nhật thực toàn phần được nhiều người coi là một hiện tượng thiên nhiên đặc biệt nhất mà người đó có thể quan sát được. Dĩ nhiên, nhật thực chỉ có thể quan sát thấy tại các vùng trên Trái Đất đang là ban ngày.

Có bốn kiểu nhật thực:

  • Nhật thực toàn phần xảy ra khi Mặt Trời bị Mặt Trăng che lấp hoàn toàn. Đĩa Mặt Trời phát sáng bị che khuất bởi vành tối của Mặt Trăng, và có thể quan sát thấy vầng hào quang nhạt bên ngoài là ánh sáng đến từ vành đai nhật hoa của Mặt Trời (xem hình trên). Trong thời gian xảy ra bất kỳ một lần nhật thực nào, nhật thực toàn phần chỉ có thể được quan sát thấy từ một dải hẹp trên bề mặt Trái Đất. Tại một điểm cố định, nhật thực toàn phần chỉ kéo dài vài phút (tối đa 7 phút). Ví dụ nhật thực toàn phần ở Việt Nam vào năm 1995 chỉ kéo dài gần 2 phút.
  • Nhật thực hình khuyên xảy ra khi Mặt Trời và Mặt Trăng nằm chính xác trên một đường thẳng, nhưng kích cỡ biểu kiến của Mặt Trăng nhỏ hơn kích cỡ biểu kiến của Mặt Trời. Vì thế Mặt Trời vẫn hiện ra như một vòng đai rực rỡ bao quanh Mặt Trăng.
  • Nhật thực lai là một kiểu trung gian giữa nhật thực toàn phần và nhật thực hình khuyên. Ở một số điểm trên Trái Đất, nó được quan sát thấy là nhật thực toàn phần; ở những nơi khác nó lại là nhật thực hình khuyên. Thuật ngữ chung cho nhật thực toàn phần, hình khuyên hay nhật thực lai là nhật thực trung tâm.
  • Nhật thực một phần xảy ra khi Mặt Trời và Mặt Trăng không nằm chính xác trên cùng một đường thẳng, và Mặt Trăng chỉ che khuất một phần của Mặt Trời. Hiện tượng này thường được quan sát thấy ở nhiều nơi trên Trái Đất bên ngoài đường đi của nhật thực trung tâm. Tuy nhiên, một số kiểu nhật thực chỉ có thể được quan sát thấy như là nhật thực một phần, bởi vì đường trung tâm không bao giờ giao nhau với bề mặt của Trái Đất.

Ngày 1 tháng 8 năm 2008, vào lúc 16 giờ đến 18 giờ 30 tại Việt Nam có thể quan sát thấy nhật thực một phần

Lý do để một số lần nhật thực là nhật thực toàn phần hay kiểu hình khuyên phụ thuộc vào quỹ đạo hình elíp của Mặt Trăng quanh Trái Đất. Một trong những sự trùng hợp đáng lưu tâm nhất trong tự nhiên là (i) Mặt Trời nằm cách xa khoảng 400 lần so với khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trăng, và (ii) Mặt Trời cũng có đường kính lớp gấp khoảng 400 lần so với Mặt Trăng. Vì thế, khi quan sát từ Trái Đất, Mặt Trời và Mặt Trăng có vẻ có cùng kích thước trên bầu trời - khoảng 1/2 độ nếu đo góc. Bởi vì quỹ đạo của Mặt Trăng quanh Trái Đất là hình elíp chứ không phải là hình tròn, vì vậy, ở một số khoảng thời gian Mặt Trăng ở xa hơn và lúc khác nó lại ở gần Trái Đất hơn so với khoảng cách trung bình.

Nhật thực xảy ra khi Mặt Trăng ở gần Trái Đất nhất (gần điểm cận địa), thì nó đủ lớn để che khuất hoàn toàn cả đĩa sáng của Mặt Trời, và là nhật thực toàn phần. Khi nó ở xa Trái Đất nhất, (gần điểm viễn địa), nó xuất hiện nhỏ hơn và không thể che khuất hoàn toàn Mặt Trời. Trong trường hợp đó vẫn còn lại một annulus (hay vòng nhẫn) nhỏ của đĩa sáng Mặt Trời vẫn không bị che khuất. Vì vậy sinh ra thuật ngữ "nhật thực hình khuyên". Nhật thực hình khuyên thường xảy ra hơn so với nhật thực toàn phần bởi vì nói chung Mặt Trăng nằm xa Trái Đất ở khoảng cách ít khi che khuất hoàn toàn được Mặt Trời. Tỷ lệ giữa kích thước biểu kiến của Mặt Trăng và của Mặt Trời được gọi là độ lớn của nhật thực.

Thuật ngữ

Vì hiện tượng này xảy ra đối với Mặt Trời (nhật) và người xưa khi thấy hiện tượng Mặt Trăng che khuất Mặt Trời nên cho rằng Mặt Trăng đã "ăn" (thực) Mặt Trời. Do đó, hiện tượng này được gọi là "nhật thực", một từ Hán-Việt có nghĩa là "ăn Mặt Trời".

Quan sát nhật thực:

Nhìn trực tiếp vào quyển sáng của Mặt Trời (đĩa sáng của chính Mặt Trời), thậm chí chỉ trong vòng vài giây, có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho võng mạc mắt, bởi vì số lượng lớn những tia bức xạ nhìn thấy và không nhìn thấy được ra quyển sáng này phát ra. Tổn thương có thể dẫn tới giảm thị lực vĩnh viễn, thậm chí gây mù loà. Võng mạc không nhạy cảm với cảm giác đau, và những hậu quả khi võng mạc bị tổn thương có thể chưa xuất hiện trong nhiều giờ đồng hồ, vì thế chúng ta không nhận biết được sự thương tổn đang diễn ra.

Ở các điều kiện thông thường, Mặt Trời quá sáng tới mức rất khó nhìn trực tiếp vào đó, vì thế thông thường con người không có xu hướng nhìn vào Mặt Trời ở mức có thể gây hại cho mắt. Tuy nhiên, trong khi xảy ra nhật thực, khi đa phần Mặt Trời bị che khuất, mọi người cảm thấy dễ dàng hơn và cũng thường cố sức quan sát hiện tượng. Không may thay, nhìn vào Mặt Trời khi nhật thực đang diễn ra cũng nguy hiểm như khi nhìn trực tiếp vào nó, ngoại trừ chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn khi Mặt Trời bị che khuất "toàn bộ", (toàn bộ chỉ xuất hiện khi đĩa Mặt Trời bị che khuất hoàn toàn— nó không xảy ra trong nhật thực hình khuyên). Quan sát đĩa Mặt Trời thông qua bất kỳ một hình thức trợ giúp quang học nào (ống nhòm, kính thiên văn, hay thậm chí là một kính ngắm quang học máy ảnh) thậm chí còn nguy hiểm hơn, dù chỉ cần nhìn bằng mắt thường cũng đã dễ dàng gây thương tổn.

Quan sát nhật thực toàn phần và nhật thực hình khuyên:

Theo dõi Mặt trời trong khi nhật thực một phần hay hình khuyên(và khi nhật thực toàn phần xảy ra mà chúng ta đang đứng ở ngoài bóng đen) yêu cầu chúng ta phải có thiết bị bảo vệ mắt đặc biệt, hoặc các cách theo dõi gián tiếp.

Đĩa mặt trời có thể xem bằng cách sử dụng những thiết bị lọc để ngăn chặn ảnh hưởng có hại của bức xạ Mặt trời. Kính râm là không đủ an toàn, vì chúng không ngăn chặn được các bức xạ của tia hồng ngoại nguy hiểm và không nhìn thấy, đủ để gây ra hỏng mắt. Bạn chỉ được dùng những bộ lọc ánh sáng mặt trời được thiết kế và được chứng nhận để xem trực tiếp đĩa Mặt trời.

Cách an toàn nhất để xem đĩa Mặt trời là cách quan sát gián tiếp. Điều này có thể thực hiện được bằng cách đưa hình ảnh của đĩa Mặt trời lên trên một tờ giấy trắng hoặc tấm bìa trắng bằng cách dùng một cặp kính hiển vi (che thấu kính của một chiếc), một kính viễn vọng, hoặc một tấm bìa cứng khác có khoan một lỗ nhỏ (đường kính khoảng 1mm), thường được gọi là lỗ châm kim. Hình ảnh nhận được này của Mặt trời có thể xem được một cách an toàn. Kỹ thuật này có thể được sử dụng để quan sát các vết mặt trời, cũng như là các nhật thực. Tuy vậy, cần phải cẩn thận phòng ngừa không cho ai được nhìn trực tiếp qua thấu kính. (kính thiên văn, lỗ kim, v.v...)

Quan sát đĩa Mặt trời trên một màn hình video (của một máy quay phim hoặc một máy quay phim kỹ thuật số) là an toàn, mặc dù chính thiết bị lại có thể bị hư hại do ánh sáng trực tiếp của Mặt trời. Nhìn qua ô nhìn thấu kính của các máy trên lại không an toàn.

Các phòng bị an toàn như trên áp dụng cho việc quan sát mặt trời bất kỳ lúc nào trừ quá trình nhật thực toàn phần (xem dưới đây).

Một cách khác để quan sát các hiện tượng trên một cách an toàn là bạn hãy sử dụng một thau nước sạch , đổ đầy nước vào bên trong và nhìn qua nó , bạn có thể thấy được . Thứ 2 là hãy dùng tấm chắn mà thợ hàn thường dùng để nhin thì cũng rất hiệu quả , mà không phải lo ngại về việc mắt bị tổn thương do các tia hồng ngoại gây ra .

 

 

 

Quan sát trong thời gian nhật thực toàn phần:

Trái ngược với những nhận định thông thường, quan sát giai đoạn toàn phần của một nhật thực toàn phần bằng mắt thường, kính hiển vi hay kính thiên văn là an toàn cho mắt, khi hình Mặt Trời hoàn toàn bị Mặt Trăng che lấp; thực tế đây là một hình ảnh rất tuyệt mỹ và đặc sắc, đồng thời nếu xem nó qua bộ lọc thì rất tối. Nhật hoa sẽ được thấy rõ, và thậm chí cả...

Dự đoán nhật thực:

Trong khi xảy ra nhật thực, bằng mắt thường ta có thể quan sát thấy một số hiện tượng đặc biệt. Thông thường, các đốm ánh sáng đi xuyên qua các khe nhỏ giữa tán lá, có hình tròn. Đó là những hình ảnh của Mặt Trời. Trong nhật thực một phần, các đốm sáng có hình một phần của Mặt Trời, như trong hình ảnh.

Nhật thực trước bình minh hay sau hoàng hôn:

Có thể quan sát thấy một vụ nhật thực đạt tới mức toàn bộ (hay nếu là nhật thực một phần, gần toàn bộ) trước bình minh hay sau hoàng hôn từ một vị trí đặc biệt. Khi hiện tượng này xảy ra một thời gian ngắn ngay trước bình minh hay hoàng hôn, bầu trời sẽ trở nên tối hơn bình thường. Lúc ấy, một vật thể — đặc biệt một hành tinh (thường là Sao Thuỷ) — có thể được quan sát thấy gần điểm mọc hay lặn của mặt trời trên đường chân trời nơi không thể nhìn thấy được nếu không xảy ra nhật thực.

Sự xảy ra đồng thời của nhật thực và sự vượt ngang qua của một hành tinh

Trên nguyên tắc, việc xảy ra đồng thời của nhật thực và sự lướt qua của một hành tinh là có thể. Nhưng các hiện tượng đó cực kỳ hiếm bởi thời gian diễn ra của chúng rất ngắn. Lần xảy ra đồng thời hai hiện tượng nhật thực và sự lướt qua của Sao Thuỷ sẽ diễn ra ngày 5 tháng 7 năm 6757, và nhật thực với sự lướt qua của Sao Kim sẽ diễn ra ngày 5 tháng 4 năm 15232.

Chỉ 5 giờ sau khi Sao Kim lướt qua bề mặt Mặt Trời ngày 4 tháng 6 năm 1769 đã xảy ra một vụ nhật thực toàn phần, có thể quan sát thấy từ Bắc Mỹ, Châu Âu và ở Bắc Á là nhật thực một phần. Đây là khoảng thời gian chênh lệch nhỏ nhất giữa hai hiện tượng trong quá khứ lịch sử.

Hiện tượng thường xảy ra hơn —nhưng vẫn khá hiếm— là sự giao hội của bất cứ hành tinh nào (đặc biệt không chỉ riêng Sao Thủy và Sao Kim) tại thời điểm diễn ra nhật thực toàn phần, khi xảy ra hiện tượng đó hành tinh sẽ được quan sát thấy ở rất gần Mặt Trời đang bị che khuất, mà nếu không xảy ra nhật thực nó sẽ chìm khuất trong ánh sáng chói của Mặt Trời. Thời trước, một số nhà khoa học — gồm cả Albert Einstein — đã ủng hộ giả thuyết rằng có thể có một hành tinh thậm chí còn ở gần Mặt Trời hơn Sao Thuỷ; cách duy nhất để xác định sự tồn tại của nó là tiến hành quan sát trong thời gian diễn ra nhật thực toàn phần. Khi không thể tìm thấy hành tinh này qua các lần quan sát nhật thực, khả năng về sự tồn tại của nó đã bị loại bỏ.

 Nhật thực do các vệ tinh nhân tạo

Các vệ tinh nhân tạo cũng có thể đi vào vị trí giữa Trái Đất và Mặt Trời. Nhưng không một vệ tinh nào đủ lớn để có thể gây ra sự che khuất (thực). Ví dụ, ở độ cao của Trạm vũ trụ quốc tế, một vật thể cần có chiều rộng 3,35 km để có thể che khuất toàn bộ Mặt Trời. Điều này có nghĩa là cùng lắm bạn chỉ có thể thấy hiện tượng [lướt] ngang qua, nhưng rất khó quan sát thấy các sự kiện đó, bởi vì vùng quan sát được rất nhỏ. Thông thường, vệ tinh đi ngang qua bề mặt Mặt Trời chỉ mất khoảng một giây. Giống như hiện tượng lướt qua của hành tinh nó không thể gây hiện tượng che tối

Nhật thực và nguyệt thực

Nhật thực ít có khả năng quan sát thấy hơn nguyệt thực, mặc dù trên thực tế tần suất nhật thực nhiều hơn. Lý do: nhật thực chỉ có thể quan sát thấy từ một bộ phận nhỏ dân cư sống tại các khu vực bóng Mặt Trăng quét qua, còn nguyệt thực có thể được quan sát thấy bởi toàn bộ dân cư sống tại bán cầu đêm.

Các nhật thực trong quá khứ và tương lai

Dù hầu như mỗi năm đều có một lần nhật thực toàn phần có thể quan sát thấy từ một địa điểm nào đó trên Trái Đất, một số vụ nhật thực có điều kiện quan sát thuận lợi hơn so với số khác. Các lần nhật thực có đường che khuất toàn bộ lướt qua các vùng đông dân cư thường được dân chúng chú ý quan sát.

Xem Danh sách các lần nhật thực để biết những lần nhật thực đã xảy ra trong quá khứ và sẽ xuất hiện trong tương lai.

Mở rộng

Khái niệm "nhật thực" có thể được mở rộng ra ra không chỉ cho việc ánh sáng Mặt Trời chiếu xuống Trái Đất bị che khuất, mà có thể là hiện tượng ánh sáng từ một ngôi sao tỏa sáng nào đó (định tinh) chiếu xuống một hành tinh đang quay trong quỹ đạo bị chi phối của nó, bị che khuất bởi một thiên thể nào đó. Kính thiên văn Hubble đã ghi được hình ảnh nhật thực khi vệ tinh Ariel bay qua phía trước sao Thiên Vương và phủ bóng xuống bề mặt hành

 

 

8.Nguyệt thực

Nguyệt thựchiện tượng thiên văn khi Mặt Trăng đi vào hình chóp bóng của Trái Đất, đối diện với Mặt Trời.

Trên tất cả các điểm nằm ở bán cầu quay về Mặt Trăng đều có thể nhìn thấy nguyệt thực.

Nguyệt thực bán phần khó nhìn thấy bằng mắt thường do ánh chói của Mặt Trời giảm thiểu.

Khi nguyệt thực toàn phần diễn ra, tia Mặt Trời trước khi đến được Mặt Trăng đã chiếu vào chóp bóng của Trái Đất và bị khí quyển Trái Đất khúc xạ. Các tia sáng bước sóng ngắn đã bị cản lại hết, chỉ còn các tia có bước sóng dài (đỏ, cam) xuyên qua, do đó, Mặt Trăng thường hiện ra dưới màu đỏ nhạt.

Thời gian tối đa của nguyệt thực toàn phần: 104 phút (trường hợp thường hay tái diễn); nguyệt thực từng phần: 6 giờ.

Màu vàng bên trái là mặt trời, ở giữa là trái đất, bên phải là mặt trăng đang di chuyển vào bóng của trái đất

 

 

 

 

 

 

 

9.Mưa sao băng

Nguyên lý xuất hiện mưa sao băng cũng giống như nguyên lý xuất hiện Sao băng. Điểm khác nhau là mưa sao băng là hiện tượng Trái Đất trong quá trình chuyển động trên quỹ đạo gặp phải một đám đông bụi vũ trụ.

Mưa sao băng hầu như xuất hiện vào những thời điểm giống nhau trong một năm. Nguyên nhân do các hạt bụi vũ trụ phân bố theo quỹ đạo hình elip và quay quanh Mặt Trời theo chu kì nhất định. Nếu quỹ đạo của Trái Đất cắt ngang quỹ đạo của một đám bụi vũ trụ nào đó thì it nhất mỗi năm vào đúng thời điểm nhất định, Trái Đất sẽ một lần xuyên qua lớp bụi vũ trụ đó và xảy ra hiện tượng mưa sao băng trong thời gian đó.

Khi trái đất bay vào vùng có nhiều thiên thạch thì sẽ thường xuyên xảy ra hiện tượng mưa sao băng hơn.

Các trận mưa sao băng điển hình trong năm

Tên chính thức của chúng được International Astronomical Union đặt ra.[1]

Mưa sao băng

Thời gian

Vật thể gốc

Quadrantids

Đầu tháng 1

The same as the parent object of minor planet 2003 EH1, and perhaps comets C/1490 Y1 and C/1385 U1

Lyrids

Cuối tháng 4

Sao chổi Thatcher

Pi Puppids (periodic)

Cuối tháng 4

Sao chổi 26P/Grigg-Skjellerup

Eta Aquariids

Đầu tháng 5

Sao chổi 1P/Halley

Arietids

Giữa tháng 6

Sao chổi 96P/Machholz, Marsden và nhóm sao chổi Kracht comet groups complex 

June Bootids (periodic)

Cuối tháng 6

Sao chổi 7P/Pons-Winnecke

Southern Delta Aquariids

Cuối tháng 7

Sao chổi 96P/Machholz, Marsden and Kracht comet groups complex 

Alpha Capricornids

Cuối tháng 7

Sao chổi 169P/NEAT

Perseids

Giữa tháng 8

Sao chổi 109P/Swift-Tuttle

Kappa Cygnids

Giữa tháng 8

Minor planet 2008 ED69

Aurigids (periodic)

Đầu tháng 9

Sao chổi C/1911 N1 (Kiess)

Giacobinids (periodic)

Đầu tháng 10

Sao chổi 21P/Giacobini-Zinner

Orionids

Cuối tháng 10

Sao chổi 1P/Halley

Southern Taurids

Đầu tháng 11

Sao chổi 2P/Encke

Northern Taurids

Giữa tháng 11

Minor planet 2004 TG10 and others

Andromedids (periodic)

Giữa tháng 11

Sao chổi 3D/Biela

Alpha Monocerotids (periodic)

Giữa tháng 11

unknown

Leonids

Giữa tháng 11

Sao chổi 55P/Tempel-Tuttle

Phoenicids (periodic)

Đầu tháng 12

Sao chổi D/1819 W1 (Blanpain)

Geminids

Giữa tháng 12

Minor planet 3200 Phaethon

Ursids

Cuối tháng 12

Sao chổi 8P/Tuttle

 

 

 

CÁC ĐIỀU KIỆN VÀ HÌNH THẾ THỜI TIẾT

 

 

 

 

1.Mây

Mây là khối các giọt nước ngưng tụ hay nước đá tinh thể treo lơ lửng trong khí quyểnở phía trên Trái Đất (hay trên bề mặt cáchành tinh khác) mà có thể nhìn thấy.

Hơi nước ngưng tụ tạo thành các giọt nước nhỏ (thông thường 0,01 mm )hay tinh thể nước đá, cùng với hàng tỷ giọt nước hay tinh thể nước đá nhỏ khác tạo thành mây mà con người có thể nhìn thấy. Mây phản xạtương đương nhau toàn bộ các bước sóng ánh sáng nhìn thấy, do vậy có màu trắng, nhưng chúng cũng có thể có màu xám hay đen nếu chúng quá dày hoặc quá đặc do ánh sáng không thể đi qua.

Mây trên các hành tinh khác thông thường chứa các loại chất khác chứ không phải nước, phụ thuộc vào các điều kiện của khí quyển của chúng (thành phần khí và nhiệt độ).

Mây được tạo thành trong những khu vựckhông khí ẩm bị làm lạnh, nói chung là do bay lên. Nó có thể xảy ra

  •                   Cùng với frông nóng  frông lạnh,
  •                   Khi không khí chuyển động lên trên các dãynúi và bị làm lạnh khi nó lên cao hơn trong khí quyển (sự nâng sơn căn),
  •                   Khi không khí ấm thổi qua bề mặt lạnh hơn, chẳng hạn mặt nước.

Mây tương đối nặng. Nước trong các đám mây điển hình có thể có khối lượng hàng triệu tấn, mặc dù mỗi mét khối mây chứa chỉ khoảng 5 gam nước. Các giọt nước trong mây nặng hơn hơi nước khoảng 1.000 lần, vì thế chúng nặng hơn không khí. Lý do tại sao chúng không rơi, mà lại được giữ trong khí quyển là các giọt nước lỏng được bao quanh bởi không khí ấm. Không khí bị ấm lên do năng lượng nhiệt giải phóng khi nước ngưng tụ từ hơi nước. Do các giọt nước là rất nhỏ, chúng "dính" với không khí ấm. Khi mây được tạo thành, không khí ấm mở rộng hơn là giảm thể tích sau khi hơi nước ngưng tụ, làm cho các đám mây bị đẩy lên cao, và sau đó mật độ riêng của mây giảm tới mức mật độ trung bình của không khí và mây trôi đi trong không khí.

Hình thái thực thụ của mây được tạo ra phụ thuộc vào cường độ lực nâng và phụ thuộc vào sự ổn định của không khí. Trong các điều kiện khi sự không ổn định của sự đối lưu thống lĩnh thì sự tạo thành các đám mây theo chiều thẳng đứng được hình thành. Không khí ổn định tạo ra chủ yếu là các đám mây thuần nhất theo chiều ngang. Sự nâng lên theo các phrông tạo ra các hình thái khác nhau của mây, phụ thuộc vào thành phần của các phrông này (dạng ana hay dạng kata của phrông ấm hay phrông lạnh). Sự nâng sơn căn cũng tạo ra các hình thái khác nhau của mây, phụ thuộc vào sự ổn định của không khí, mặc dù mây chóp và các mây sóng là đặc thù của các loại mây sơn căn.

Các thuộc tính của mây (chủ yếu là suất phản chiếu của chúng và tỷ lệ tạo mưa) là phụ thuộc rất lớn vào kích thước của các giọt nước và cách mà các hạt này kết dính với nhau. Điều này lại chịu ảnh hưởng của số hạt nhân ngưng tụ mây hiện diện trong không khí. Vì sự phụ thuộc này, cũng như sự thiếu vắng các quan sát khí hậu toàn cầu, các đám mây là rất khó để tham số hóa trong các mô hình khí hậu và là nguyên nhân bất hòa trong các tranh luận về sự ấm toàn cầu.

Sự ngưng tụ của hơi nước thành nước lỏng hay nước đá diễn ra ban đầu xung quanh một số loại hạt siêu nhỏ các chất rắn gọi là trung tâm ngưng tụ hay trung tâm đóng băng. Trong giai đoạn này các hạt rất nhỏ và các va chạm hay tổ hợp không thể là các yếu tố cơ bản của sự lớn lên. Điều diễn ra được gọi là “nguyên lý Bergeron”. Cơ chế này dựa trên nguyên lý áp suất cục bộ của nước đá bão hòa là thấp hơn của nước lỏng, điều này có nghĩa là nó ở trạng thái giữa của sự tồn tại đồng thời cả tinh thể nước đá và các giọt nước lỏng siêu lạnh.

Các đám mây được chia thành hai loại hình chính: mây lớp hay mây đối lưu. Chúng được gọi là mây tầng (Stratus, từ tiếng Latinh có nghĩa là tầng, lớp) và mây tích (Cumulus, từ tiếng Latinh có nghĩa là tích lũy, chồng đống). Hai dạng chính này được chia thành bốn nhóm nhỏ phân biệt theo cao độ của mây. Các đám mây được phân loại theo cao độ gốc của mây, không phải là đỉnh của nó. Hệ thống này được Luke Howard giới thiệu năm 1802 trong thuyết trình của hội Askesian.

 

Các hình thái này ở trên 5.000 m (16.500 ft), trong đới lạnh củatầng đối lưu. Chúng được biểu thị bởi tiền tố cirro- hay cirrus, nghĩa là mây ti. Ở cao độ này nước gần như đóng băng hoàn toàn vì thế mây là các tinh thể nước đá. Các đám mây có xu hướng là mỏng và yếu và thông thường là trong suốt.

Các mây trong họ A bao gồm:

Vệt ngưng tụ là kiểu mây dài và mỏng được tạo ra như là kết quả của sự bay qua của máy bay phản lực ở cao độ lớn.

Các loại mây này chủ yếu ở cao độ khoảng 2.000 đến 5.000 m (6.500 đến 16.500 ft) và được biểu thị với tiền tố alto- (gốc Latinh, nghĩa là "cao"). Chúng thông thường là các giọt nước siêu lạnh.

Các mây trong họ B bao gồm:

Chúng được tạo ra dưới 2.000 m (6.500 ft) và bao gồm mây tầng (đặc và xám). Khi các mây tầng tiếp xúc với mặt đất, chúng được gọi là sương mù.

Các mây trong họ C bao gồm:

 

Các mây này có thể có hướng thẳng đứng lên trên, rất cao so với gốc của chúng và có thể hình thành ở bất kỳ độ cao nào.

Các mây trong họ D bao gồm:

Có một số mây có thể tìm thấy ở phía trên tầng đối lưu; chúng bao gồm mây xà cừ  mây dạ quang, chúng hình thành ở tầng bình lưu  tầng trung lưu.

 

 

Màu sắc của mây cho ta biết nhiều về những gì đang diễn ra trong mây.

Mây tạo thành khi hơi nước bốc lên, gặp lạnh và ngưng tụ trong không khí như những giọt nhỏ. Các hạt nhỏ này là tương đối đặc và ánh sáng không thể đi sâu vào trong mây trước khi nó bị phản xạ ra ngoài, tạo cho mây có màu đặc trưng là màu trắng. Khi mây dày hơn, các giọt có thể liên kết lại để tạo ra các giọt to hơn, sau đó khi đủ lớn, chúng rơi xuống đất như là mưa. Trong quá trình tích lũy, không gian giữa các giọt trở nên lớn dần lên, cho phép ánh sáng đi sâu hơn nữa vào trong mây. Nếu như mây đủ lớn, và các giọt nước đủ xa nhau, thì sẽ có rất ít ánh sáng mà đã đi vào trong mây là có khả năng phản xạ ngược trở lại ra ngoài trước khi chúng bị hấp thụ. Quá trình phản xạ/hấp thụ này là cái dẫn đến một loạt các loại màu khác nhau của mây, từ trắng tới xám và đen.

Các màu khác xuất hiện tự nhiên trong mây. Màu xám ánh lam là kết quả của tán xạ ánh sáng trong mây. Trong quang phổ, màu lam và lục là có bước sóng tương đối ngắn, trong khi đỏ và vàng là có bước sóng dài. Các tia sóng ngắn dễ dàng bị tán xạ bởi các giọt nước, và các tia sóng dài dễ bị hấp thụ. Màu xám ánh lam là chứng cứ cho thấy sự tán xạ được tạo ra bởi các giọt nước có kích thước đạt tới mức độ tạo mưa có trong mây.

Những màu xấu được quan sát trước khi có những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt. Màu ánh lục của mây được tạo ra khi ánh sáng bị tán xạ bởi nước đá. Các đám mây cumulonimbus có màu ánh lục là dấu hiệu của mưa to, mưa đá, gió mạnh và có thể là vòi rồng.

Màu mây ánh vàng hiếm hơn, nhưng có thể diễn ra trong các tháng từ cuối mùa xuân đến đầu mùa thu do cháy rừng. Màu vàng có lẽ tạo ra do sự hiện diện của khói.

Mây đỏ, da cam, hồng xảy ra chủ yếu vào lúc bình minh hay hoàng hôn, và chúng là kết quả của sự tán xạ ánh sáng của khí quyển. Mây tự bản thân nó không có những màu này, chúng chỉ phản xạ các tia sóng dài (không tán xạ) của ánh sáng là những bước sóng chính trong khoảng thời gian đó. Buổi chiều trước khi có vòi rồng ở Edmonton, Alberta năm 1987, người dân Edmonton đã quan sát thấy màu đỏ về phía mặt trời của các đám mây và màu đen thẫm về phía tối của chúng. Trong trường hợp này, ngạn ngữ "bầu trời đỏ buổi đêm, thủy thủ vui sướng" (red sky at night, sailor's delight) là hoàn toàn sai.

Gần đây, người ta nhận ra hiện tượng sự mờ toàn cầu được cho là sinh ra bởi sự thay đổi hệ số phản xạ ánh sáng của các đám mây do sự có mặt ngày càng tăng của các hạt treo lơ lửng và các loại hạt khác trong khí quyển.

 

 

 

2.G

Gió là một hiện tượng trong tự nhiên hình thành do sự chuyển động cửa không khí. Không khí luôn luôn chuyển động từ nơi khí áp cao về nơi khí áp thấp. Sự chuyển động của không khí sinh ra gió. Trên Địa Cầu có ba loại gió chính là: gió Tín Phong, gió Tây Ôn Đới, gió Đông Cực.Gió Tín Phong thổi từ đai cao áp 30 độ B-N đến đai áp thấp 0 độ(xích đạo), gió Tây ôn Đới thổi từ đai cao áp 60 độ B-N về 90 độ B-N, còn gió Đông Cực thổi từ đai cao áp 90 độ B-N đến Vòng Cực B-N. Do sự vận động tự quay của Trái Đất Tín Phong và gió Tây Ôn Đới không thổi thẳng theo hướng kinh tuyến mà hơi lệch về phía tay phải ở nửa cầu B