Đây là bản xem thử online, xin hãy chọn download miễn phí bên dưới để xem bản đẹp dạng .doc

A-KIẾN THỨC CƠ BẢN

PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

      Lê Anh Trà

I.Đọc và tìm hiểu chú thích

1. Xuất xứ

Năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác Hồ, có nhiều bài viết về Người. “Phong cách Hồ Chí Minh” là một phần trong bài viết Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ đại gắn với cái giản dị của tác giả Lê Anh Trà.

2. Bố cục của văn bản

Văn bản có thể chia làm 2 phần:

- Từ đầu đến “rất hiện đại”: Hồ Chí Minh với sự tiếp thu văn hóa dân tộc nhân loại.

- Phần còn lại: Những nét đẹp trong lối sống Hồ Chí Minh.

II. Đọc – hiểu văn bản

1.Hồ Chí Minh với sự tiếp thu tinh hoa văn hóa

- Hoàn cảnh: Cuộc đời hoạt động cách mạng đầy truân chuyên.

+ Gian khổ, khó khăn.

+ Tiếp xúc văn hóa nhiều nước, nhiều vùng trên thế giới.

- Động lực thúc đẩy Hồ Chí Minh tìm hiểu sâu sắc về các dân tộc và văn hóa thế giới xuất phát từ khát vọng cứu nước.

- Đi nhiều nước, tiếp xúc với văn hóa nhiều vùng trên thế giới.

- Biết nhiều ngoại ngữ, làm nhiều nghề.

- Học tập miệt mài, sâu sắc đến mức uyên thâm.

2. Vẻ đẹp trong lối sống giản dị mà thanh cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh có một phóng cách sống vô cùng giản dị:

- Nơi ở, nơi làm việc đơn sơ: chiếc nhà sàn nhỏ vừa là nơi tiếp khách, vừa là nơi làm việc, đồng thời cũng là nơi ngủ.

- Trang phục giản dị: bộ quần áo bà ba, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp…

- Ăn uống đạm bạc: cá kho, rau luộc, cà muối, cháo hoa…

Biểu hiện của đời sống thanh cao:

- Đây không phải là lối sống khắc khổ của những con người tự vui trong nghèo khó.

- Đây cũng không phải là cách tự thần thánh hóa, tự làm cho khác đời, hơn đời.

- Đây là cách sống có văn hóa, thể hiện 1 quan niệm thẩm mỹ: cái đẹp gắn liền với sự giản dị, tự nhiên.

Viết về cách sống của Bác, tác giả liên tưởng đến các vị hiền triết ngày xưa:

- Nguyễn Trãi: Bậc thầy khai quốc công thần, ở ẩn.

- Nguyễn Bỉnh Khiêm: làm quan, ở ẩn.

3. Những biện pháp nghệ thuật trong văn bản làm nổi bật vẻ đẹp trong cách sống của Hồ Chí Minh

- Kết hợp giữa kể và bình luận. Đan xen những lời kể là những lời bình luận rất tự nhiên: “Có thể nói ít vị lãnh tụ nào lại am hiểu nhiều về các dân tộc và nhân dân thế giới, văn hóa thế giới sâu sắc như chủ tịch Hồ Chí Minh”…

- Chọn lọc những chi tiết tiêu biểu.

- Đan xen thơ của các vị hiền triết, cách sử dụng từ Hán Việt gợi cho người đọc thấy sự gần gũi giữa chủ tịch Hồ Chí Minh với các vị hiền triết của dân tộc.

- Sử dụng nghệ thuật đối lập: vĩ nhân mà hết sức giản dị, gần gũi, am hiểu mọi nền văn hóa nhân loại, hiệu đại mà hết sức dân tộc, hết sức Việt Nam,…

III. Tổng kết

Về nghệ thuật:

- Kết hợp hài hòa giữa thuyết minh với lập luận.

- Chọn lọc chi tiết giữa thuyết minh với lập luận.

- Ngôn từ sử dụng chuẩn mực.

Về nội dung:

- Vẻ đẹp trong phẩm chất Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống văn hóa dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại.

- Kết hợp giữa vĩ đại và bình dị.

- Kết hợp giữa truyền thống và hiện đại.

ĐẤU TRANH CHO MỘT THẾ GIỚI HÒA BÌNH

(GA-BRI-EN Gác-xi-a Mác-két)

I. Đọc và tìm hiểu chung về văn bản

1. Tác giả - tác phẩm.

- Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két là nhà văn Cô-lôm-bi-a.

- Sinh năm 1928.

- Viết tiểu thuyết với khuynh hướng hiện thực.

- Nhận giải Nôben về văn học năm 1982.

2. Hệ thống luận đề, luận điểm của văn bản.

* Luận đề: đấu tranh cho một thế giới hòa bình.

* Luận điểm:

- Luận điểm 1: Chiến tranh hạt nhân là một hiểm họa khủng khiếp đang đe dọa toàn thể loài người và mọi sự sống trên trái đất.

- Luận điểm 2: Đấu tranh để loại bỏ nguy cơ ấy cho một thế giới hòa bình là nhiệm vụ cấp bách của toàn thể nhân loại.

3. Hệ thống luận cứ.

- Kho vũ khí hạt nhân đang được tàng trữ, có khả năng hủy diệt cả trái đất và các hành tinh khác trong hệ mặt trời.

- Cuộc chạy đua vũ trang làm mất đi khả năng cải thiện đời sống cho hàng tỷ người.

- Chiến tranh hạt nhân không chỉ đi ngược lại với lý trí của loài người mà còn đi ngược lại với lý trí của tự nhiên, phản lại sự tiến hóa.

- Vì vậy tất cả chúng ta phải có nhiệm vụ ngăn chặn cuộc chiến  tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình.

II. Đọc - hiểu văn bản

1. Nguy cơ chiến tranh hạt nhân

- Xác định cụ thể thời gian: “Hôm nay ngày 8-8-1986”.

- Đưa ra những tính toán lý thuyết để chứng minh: con người đang đối mặt với nguy cơ chiến tranh hạt nhân.

Dẫn chứng:

+ “Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là tất cả mọi người, không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng bốn tấn thuốc nổ - tất cả chỗ đó nổ tung sẽ làm biến hết thảy, không phải là một lần mà là mười hai lần, mọi dấu vết của sự sống trên trái đất”.

+ Kho vũ khí ấy có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh xoay quanh mặt trời, cộng thêm bốn hành tinh nữa và phá hủy thế thăng bằng của hệ mặt trời.

2. Tác động của cuộc đua chiến tranh hạt nhân đối với đời sống xã hội:

-Cuộc chạy đua vũ trang, chuẩn bị cho chiến tranh hạt nhân đã làm mất đi khả năng để con người được sống tốt đẹp hơn.

Dẫn chứng:

+ Sự đối lập giữa nguồn kinh phí quá lớn (đến mức không thể thực hiện nổi) và nguồn kinh phí thực tế đã được cấp cho công nghệ chiến tranh.

+ So sánh cụ thể qua những con số thống kê ấn tượng(Ví dụ: giá của 10 chiếc tàu sân bay đủ để thực hiện chương trình phòng bệnh trong 14 năm, bảo vệ hơn 1 tỷ người khỏi bệnh sốt rét, cứu hơn 1 triệu trẻ em Châu Phi, chỉ hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân cũng đủ tiền để xóa nạn mù chữ trên toàn thế giới…).

-Chiến tranh hạt nhân chẳng những đi ngược lại ý chí của con người mà còn phản lại sự tiến hóa của tự nhiên.

Dẫn chứng: Tác giả đưa ra những chứng cứ từ khoa học địa chất và cổ sinh học về nguồn gốc và sự tiến hóa của sự sống trên trái đất. Chỉ ra sự đối lập lớn giữa quá trình phát triển hàng triệu năm của sự sống trên trái đất và một khoảng thời gian ngắn ngủi để vũ khí hạt nhân tiêu hủy toàn bộ sự sống.

Tác giả đã đưa ra những lập luận cụ thể, giàu sức thuyết phục, lấy bằng chứng từ nhiều lĩnh vực: khoa học, xã hội, y tế, tiếp tế thực phẩm, giáo dục… là những lĩnh vực thiết yếu trong cuộc sống con người để chứng minh.

3. Nhiệm vụ đấu tranh ngăn chặn chiến tranh hạt nhân cho một thế giới hòa bình.

- Khẳng định vai trò của cộng đồng trong việc đấu tranh ngăn chặn chiến tranh hạt nhân.

- Đưa ra lời đề nghị thực tế: mở nhà băng lưu trữ trí nhớ để có thể tồn tại được sau khi (giả thiết) chiến tranh hạt nhân nổ ra.

III. Tổng kết

Về nghệ thuật

Hệ thống luận điểm, luận cứ ngắn gọn, rành mạch, dẫn chứng xác thực, giàu sức thuyết phục, gây được ấn tượng mạnh đối với người đọc.

Về nội dung

- Nguy cơ chiến tranh hạt nhân và sự hủy diệt của nó.

- Kêu gọi mọi người: hãy ngăn chặn nguy cơ đó, bảo vệ con người, bảo vệ sự sống.

TUYÊN BỐ THẾ GIỚI VỀ SỰ SỐNG CÒN,

QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM

I. Đọc, tìm hiểu chung về văn bản

1. Đọc

2. Tìm hiểu chú thích

3. Bố cục

Văn bản được chia làm 3 phần:

- Sự thách thức: Nêu lên những thực tế, những con số về cuộc sống khổ cực, về tình trạng bị rơi vào hiểm họa của trẻ em trên thế giới.

- Cơ hội: Khẳng định những điều kiện thuận lợi cơ bản để cộng đồng quốc tế có thể đẩy mạnh việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em.

- Nhiệm vụ: Xác định những nhiệm vụ cụ thể mà từng quốc gia và cả cộng đồng quốc tế cần làm vì sự sống còn, sự phát triển của trẻ em.

II. Tìm hiểu văn bản

1.Sự thách thức

- Chỉ ra cuộc sống cực khổ nhiều mặt của trẻ em trên thế giới hiện nay.

+  Trở thành nạn nhân chiến tranh, bạo lực, sự phân biệt chủng tộc, sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước ngoài. Một số ví dụ: trẻ em các nước nghèo ở Châu Á, châu Phi bị chết đói; nạn nhân chất độc màu da cam, nạn nhân của chiến tranh bạo lực; trẻ em da đen phải đi lính, bị đánh đập; trẻ em là nạn nhân của các cuộc khủng bố ở Nga,… Mỗi ngày có tới 40.000 trẻ em chết do suy dinh dưỡng và bệnh tật.

+ Chịu đựng những thảm họa đói nghèo, khủng hoảng kinh tế; tình trạng vô gia cư, nạn nhân của dịch bệnh, mù chữ, môi trường ô nhiễm…

- Đây là thách thức lớn với toàn thế giới.

2. Cơ hội

Điều kiện thuận lợi cơ bản để thế giới đẩy mạnh việc chăm sóc bảo vệ trẻ em:

+ Hiện nay kinh tế, khoa học kỹ thuật phát triển, tính cộng đồng hợp tác quốc tế được củng cố mở rộng, chúng ta có đủ phương tiện và kiến thức để làm thay đổi cuộc sống khổ cực của trẻ em.

+ Sự liên kết của các quốc gia cũng như ý thức cao của cộng đồng quốc tế có Công ước về quyền của trẻ em tạo ra một cơ hội mới.

+ Sự hợp tác và đoàn kết quốc tế ngày càng hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, phong trào giải trừ quân bị được đẩy mạnh, tăng cường phúc lợi xã hội.

3.Nhiệm vụ

- Tăng cường sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của trẻ em là nhiệm vụ hàng đầu.

- Đặc biệt quan tâm đến trẻ em bị tàn tật có hoàn cảnh khó khăn.

- Tăng cường vai trò của phụ nữ, đảm bảo quyền bình đẳng nam nữ vì lợi ích của trẻ em.

- Giữa tình trạng, cơ hộ và nhiệm vụ có mối quan hệ chặt chẽ. Bản tuyên bố đã xác định những nhiệm vụ câp thiết của cộng đồng quốc tế và từng quốc gia: từ tăng cường sức khỏe và đề cao chế độ dinh dưỡng đến phát triển giáo dục trẻ em, từ các đối tượng quan tâm hàng đầu đến củng cố gia đình, xây dựng môi trường xã hội; từ bảo đảm quan hệ bình đẳng nam nữ đến khuyến khích trẻ em tham gia vào sinh hoạt văn hóa xã hội.

+ Quan tâm việc giáo dục phát triển trẻ em, phổ cập bậc giáo dục cơ sở.

+ Nhấn mạnh trách nhiệm kế hoạch hóa gia đình.

+ Gia đình là cộng đồng, là nền móng và môi trường tự nhiên để trẻ em lớn khôn và phát triển.

+ Khuyến khích trẻ em tham gia vào sinh hoạt văn hóa xã hội.

III. Tổng kết.

- Bảo vệ quyền lợi, chăm lo đến phát triển của trẻ em là một trong những vấn đề cấp bách có ý nghĩa toàn cầu hiện nay.

- Bố cục mạch lạc, hợp lý; các ý trong văn bản tuyên ngôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

CỐ HƯƠNG

    Lỗ Tấn

I. Đọc, tìm hiểu chung văn bản

1.Tác giả - tác phẩm

- Lỗ Tấn: Lúc nhỏ tên là Chu Thụ Nhân(1881-1963).

- Là chiến sĩ cộng sản kiên định, sớm có tư tưởng văn học tiến bộ.

- Công trình nghiên cứu và tác phẩm văn chương của Lỗ Tấn rất đa dạng và đồ sộ.

- Truyện có nhiều chi tiết hư cấu không đúng với sự thực.

- Là 1 truyện ngắn có yếu tố hồi ký (truyện ký) chứ không phải là hồi ký.

- Phương thức biểu đạt chủ yếu là tự sự - song biểu cảm là phương thức biểu đạt có giá trị quan trọng trong tác phẩm.

- Trong “Cố Hương”, tác giả dùng ngôi thứ nhất không chỉ dẫn dắt câu chuyện mà còn thể hiện tình cảm, quan điểm, nguyện vọng. Đặc biệt ngay cả khi dung phương thức biểu đạt khác, kể cả miêu tả và lập luận, tình cảm sâu kín của tác giả thấm đẫm trong từng trang viết.

+Không phải sau 20 năm Lỗ Tấn mới về quê (tham khảo chú thích 1 SGK).

- Dù là truyện có nhiều chi tiết có thực trong cưộc đời Lỗ Tấn, song không nên đồng nhất nhân vật “tôi” với tác giả.

2.Đọc, tìm bố cục, tóm tắt văn bản                 

*Đọc

*Bố cục: 3 phần

1. Từ đầu đến “đang làm ăn sinh sống”: nhân vật “tôi” trên đường về quê.

2. Tiếp đến “sạch trơn như quét”: những ngày “tôi” ở quê.

3. Còn lại: “Tôi” trên đường rời xa quê.

*Tóm tắt:

“Tôi” trở về quê sau hơn 20 năm xa cách.

Lúc này thời tiết đang độ giưã đông, trời âm u, gió lạnh lùa vào khoang thuyền, làng xóm giờ đây tiêu điều xơ xác. Hình ảnh làng quê cũ hiện lên trong ký ức làm lòng “tôi” thấy không vui, về thăm làng chuyến này, “tôi” có ý định từ giã quê lần cuối và lo việc chuyển nhà đi nơi khác.

“Tôi nhớ đến người bạn cũ thủa nhỏ là Nhuận Thổ: 1 cậu bé nông dân khỏe mạnh, tháo vát, hiểu biết và hồn nhiên.Ngày ấy 2 đứa trẻ chơi thân với nhau, sau 20 năm xa cách gặp lại, nhân vật tôi thấy Nhuận Thổ  đã thay đổi nhiều: Anh trở thành 1 người nông dân nghèo khổ, đần độn, mụ mẫm đi, “Tôi” buồn bã rời quê với niềm băn khoăn không biết tương lai của cháu Hoàng và Thuỷ Sinh sau này sẽ ra sao, hình ảnh con đường ở cuối truyện nói lên lòng mong mỏi hy vọng 1 sự đổi thay.

  II. Đọc - Hiểu văn bản

Diễn biến tâm trạng của nhân vật “tôi”.

1. Trên đường về thăm quê

- Thời tiết đang độ giữa đông - trời u ám, giá lạnh.

- Từ biệt làng quê lần cuối, rời nhà đến nơi làm ăn sinh sống.

- Hình ảnh làng xóm xa gần, thấp thoáng tiêu điều.

- Cách miểu tả kết hợp vừa kể, vừa tả theo kiểu hồi ức, thể hiện rõ tâm trạng của nhân vật.

- Tâm trạng buồn, một nỗi buồn tiếc xót xa sau 20 năm trở về quê cũ.

2. Những ngày ở quê

a. Cảnh và con người ở quê

*Cảnh:

- Sáng tinh mơ

- Trên mái ngói mấy cọng rơm khô phất phơ

- Các gia đình đã dọn đi nhiều, càng hiu quạnh.

Hoang vắng, hiu quạnh gợi cảm giác buồn.

+ Mẹ: mừng rỡ, nét mặt ẩn 1 nỗi buồn.

- (Nỗi buồn của người sắp phải từ giã nơi mình sinh ra và lớn lên, từng gắn bó niềm vui và nỗi buồn trong cuộc đời mà chưa hẹn ngày gặp lại)

- Nỗi buồn khó nói thành lời (nỗi buồn trước sự thay đổi của quê hương).

+Cháu Hoàng: nhìn tôi chòng chọc vì nó chưa  gặp tôi lần nào, tôi thấy khác xa những người  ở quê  mà hàng ngày nó được gần gũi, tiếp xúc.

+Thím Hai Dương: 

Trước kia

- Nàng tây thi đậu phụ, chị xoa phấn, lưỡng quyền không cao.

- Môi không mỏng, chị là người phụ nữ khá đẹp, có sức quyến rũ.

Bây giờ

- Người đàn bà trên dưới 50, lưỡng quyền nhô ra.

-Môi mỏng dính

- Chân nhỏ xíu giống như chiếc com-pa.

- Hình ảnh người đàn bà tiều tuỵ, xấu xí, khác hẳn xưa, do dấu ấn của thời gian và vất vả của cuộc đời hằn sâu trên vóc dáng của con người đó.

+ Tính cách : giọng nói the thé, hay nói cạnh khoé, nguẩy đít quay đi còn giất đôi bít tất…

- Trở thành con người đanh đá, tham lam, ích kỷ.

Hình ảnh đối lập thể hiện sự thay đổi ghê gớm, thay đổi hoàn toàn trở thành một con người khác hẳn, tham lam, ích kỷ, đanh đá.

+Nhuận Thổ

Sau 20 năm

- Cao gấp 2, da vàng sạm

- Mắt viền đỏ húp lên, mũ rách tươm

- Tay nặng nề thô kệch, nứt nẻ như vỏ cây thông

- Xưng hô cung kính, cách thưa bẩm

- Nói năng thiểu não, chán ngán, mệt

- Hành động, cử chỉ: hút thuốc, ăn cơm xong nhặt nhạnh vật thừa.

Sau 20 năm: thay đổi nhiều, là người nông dân già nua, nghèo khổ, đần độn, mụ mẫm, cam chịu số phận.

 

Nguyên nhân là do xã hội phong kiến: đông con nhà nghèo, chỗ nào cũng hỏi tiền không luật lệ gì cả, mất mùa thuế nặng, lính tráng, trộm cướp, quan lại, thân hào đày đoạ.

Phản ánh hiện thực đầy đau khổ buồn tẻ của nông thôn Trung Quốc thời phong kiến.

- Tình trạng mụ mẫm, thái độ cam chịu, chấp nhận số phận của nhân vật Nhuận Thổ nói riêng, người nông dân Trung Quốc nói chung, đó là điều nguy hiểm nhất, là điều trăn trở đau xót nhất của nhà văn.

Tình bạn giữa 2 người, tình cảm sâu sắc không đổi thay. Đó là nét phẩm chất đáng quý của người nông dân.

Nhuận Thổ: là nhân vật điển hình của người nông dân Trung Quốc với cuộc sống nghèo khổ, an phận, đau thương cùng tình trạng tinh thần mu muội, của dân chúng trong xã hội phong kiến đầu thế kỷ XX.

- Tác giả đã dùng nghệ thuật hồi ức, hiện tại để đối chiếu so sánh làm rõ cảnh và người ở quê trong quá khứ và hiện tại.

Tâm trạng của nhân vật “tôi”: Thấy buồn xót trước cảnh đổi thay theo chiều hướng lụi tàn của quê hương và trước tình trạng tinh thần lạc hậu mụ mẫm của dân chúng.

Đây là những đoạn độc thoại nội tâm để xen kẽ với đoạn tự sự miêu tả đặc sắc.

- Khi gặp thím Hai Dương: trầm ngâm, im lặng.

- Gặp Nhuận Thổ: điếng người, buồn thương.

NHỮNG ĐỨA TRẺ

    Go- rơ-ki

I. Đọc, tìm hiểu chung về văn bản

1. Tác giả - tác phẩm

a) Tác giả

Mác - xim Go - rơ - ki (1868 - 1936) là nhà văn Nga, tên thật là A-lếch-xây Pê-scốp. Ông sinh trưởng ở thành phố Ni - giơ- ri Nô - vơ - gô-rốt, trong một gia đình lao động nghèo.

Go - rơ - ki đã trải qua tuổi thơ cay đắng, tủi nhục. Bố mất sớm, mẹ đi lấy chồng khác, A-li-ô-sa ở với ông bà ngoại. Do cảnh nhà ngày càng túng thiếu, A-li-ô-sa phải bỏ học, tự kiếm sống bằng nhiều nghề khác nhau. Năm 16 tuổi, A-li-ô-sa đi Can - đan, ước mơ vào đại học, nhưng vì không có tiền nên lại phải tiếp tục đi làm nuôi thân.

Các tác phẩm chính: bộ ba tiểu thuyết tự thuật Thời thơ ấu (1913-1914), Kiếm sống(1915-1916), Những trường đại học của tôi(1923), Người mẹ (1906-1907), Cuộc đời Clim Xam- ghin (1925-1936)

b) Tác phẩm

Thời thơ ấu gồm mười ba chương, là cuốn đầu tiên trong ba bộ tiểu thuyết nói trên. Phần này chủ yếu thuật lại quãng đời thơ ấu gian khổ của Go - rơ - ki trong khoảng thời gian sống cùng ông bà ngoại.

2. Đọc

3. Bố cục

Đoạn trích có thể chia làm 3 phần:

Phần 1 (từ đầu đến “đầu đội chiếc mũ xù lông”): tình bạn tuổi thơ trong trắng.

Phần 2 (tiếp đến “cấm không được vào nhà tao!”): tình bạn vẫn  cứ tiếp diễn.

II. Đọc - hiểu văn bản

1. Những đứa trẻ sống thiếu tình thương.

Hai gia đình thuộc hai thành phần xã hội khác nhau, một bên là dân thường, một bên là quan chức giàu sang nên Ốp-xi-an-ni-cốp không cho những đứa trẻ chơi với nhau.

- Ba đứa trẻ nhà Ốp-xi-an-ni-cốp: Do A-li-ô-sa từng góp sức cứu đứa nhỏ khi nó bị rơi xuống giếng nên chúng hiểu được lòng tốt của câu.

- A-li-ô-sa : sống trong cảnh gian khổ, tủi cực nhưng A-li-ô-sa không cảm thấy xa lạ với những đứa trẻ hàng xóm.

Qua trò chuyện chú biết chúng tuy sống trong cảnh giàu sang nhưng cũng không sung sướng gì(mẹ chết, sống với dì ghẻ, bị bố cấm đoán, đánh đòn…). Hoàn cảnh thiếu tình thương giống nhau khiến A-li-ô-sa thân thiết với mấy đứa trẻ kia.

Tình bạn ấy đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng Go - rơ - ki khiến mấy chục năm sau ông vẫn còn nhớ như in và kể lại hết sức xúc động.

2. Những quan sát và nhận xét tinh tế

A-li-ô-sa chưa hiểu gì về chúng, thậm chí còn không phân biệt được đứa này với đứa kia: “Chúng cùng mặc áo cánh, quần dài màu xám, cùng đội mũ như nhau…”

Hình ảnh so sanh chính xác khiến ta liên tưởng đến cảnh lũ gà con sợ hãi co cụm vào nhau khi nhìn thấy diều hâu. Chi tiết đó thể hiện sụ thông cảm của A-li-ô-sa đối với nỗi bất hạnh củ những người bạn mới.

Khi đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp xuất hiện, mắng, những đứa trẻ lặng lẽ đi vào nhà khiến A-li-ô-sa liên tưởng chúng giống như những con ngỗng ngoan ngoãn. Đây cũng là một so sánh rất chính xác, vừa thể hiện dáng dấp bề ngoài của những đứa trẻ, vừa cho thấy thế giới nội tâm của chúng. Bị bố áp chế, chúng trở nên nhút nhát và cam chịu. Một lần nữa, A-li-ô-sa tỏ thái độ cảm thông với những người bạn của mình.

3. Chuyện đời thường và chuyện cổ tích

- Chi tiết về mụ gì ghẻ: Khi nghe những đứa trẻ hàng xóm nhắc chuyện dì ghẻ, A-li-ô-sa liên tưởng ngay đến nhân vật dì ghẻ độc ác trong truyện cổ tích.

-Chi tiết về người “mẹ thật”: A-li-ô-sa nói với lũ trẻ: “Mẹ thật của các cậu thế nào rồi cũng sẽ về, rồi các cậu xem”. Khi những đứa trẻ thắc mắc, cậu lại nói : “Trời ơi, biết bao nhiêu lần những người chết, thậm chí đã bị xả ra từng mảng, mà chỉ cần vẩy cho ít nước phép là sống lại…”.

- Hình ảnh người đàn bà nhân hậu: Bà ngoại của A-li-ô-sa là người rất nhân hậu.Trong đoạn trích này, mỗi lần A-li-ô-sa nhắc đến bà ngoại là để nói bà thường kể chuyện cổ tích cho chú nghe. Chú lại đem những câu chuyện ấy kể lại cho các bạn, chỗ nào quên lại chạy về hỏi bà. Khi đứa con đại tá khái quát: “Có lẽ tất cả các bà đều tốt, bà mình trước cũng rất tốt…” thì trước mắt chúng ta như hiện lên hình ảnh các nhân vật bà nội, bà ngoại trong truyện cổ tích.

III. Tổng kết

Trong đoạn trích Những đứa trẻ, bằng tài kể chuyện giàu hình ảnh, đan xen chuyện đời thường với chuyện cổ tích, Mác - xim Go - rơ - ki đã thuật lại hết sức sinh động tình bạn thân thiết của ông hồi nhỏ với những đứa trẻ sống thiếu tình thương bên hàng xóm, bất chấp những cản trở trong quan hệ xã hội lúc bấy giờ.

BÀN VỀ ĐỌC SÁCH

      Chu Quang Tiềm

I. Đọc - tìm hiểu chung về văn bản

1.Tác giả - tác phẩm

a) Tác giả

Chu Quang Tiềm (1897-1986) là nhà mĩ học, lí luận học nổi tiếng của Trung Quốc.

- Đây không phải là lần đầu ông bàn về đọc sách.

- Bài viết là kết quả của quá trình tích luỹ kinh nghiệm, dày công suy nghĩ, là những lời bàn tâm huyết, những kinh nghiệm quý báu của thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau, được đúc kết bằng trải nghiệm của mấy mươi năm, bằng cả cuộc đời của một con người - cả một thế hệ, một lớp người đi trước.

b) Tác phẩm

Văn bản Bàn về đọc sách

- Xuất xứ: trích trong cuốn Danh nhân Trung Quốc bàn về niềm vui nỗi buồn của việc đọc sách - Bắc Kinh, 1995.

- Người dịch: Trần Đình Sử.

- Phương thức biểu đạt: Nghị luận.

- Vấn đề nghị luận: Bàn về đọc sách.

2. Đọc - chú thích

3. Bố cục

Văn bản có thể chia làm 3 phần:

- Phần 1 (từ đầu… đến “thế giới mới”): tầm quan trọng và ý nghĩa của việc đọc sách.

- Phần 2(Tiếp đến “tiêu hao năng lượng”): nêu các khó khăn, các thiên hướng sai lệch của việc đọc sách ngày nay.

- Phần 3 (còn lại): Bàn về các phương pháp đọc sách:

+ Cách lựa chọn sách cần đọc.

+ Cách đọc thế nào để có hiệu quả.

II. Đọc, tìm hiểu văn bản

1. Đọc

2. Tìm hiểu văn bản.

- Ý nghĩa, tầm quan trọng của sách:

+ Sách là kho tàng quý báu, cất giữ những di sản tinh thần của nhân loại đã thu lượm, nung nấu mấy ngàn năm qua.

+ Là cột mốc trên con đường tiến hoá của nhân loại.

+ Sách đã ghi chép cô đúc và lưu truyền mọi tri thức, mọi thành tựu mà loài người tìm tòi, tích luỹ được qua từng thời đại.

- Ý nghĩa của việc đọc sách:

+ Là con đường tích luỹ, nâng cao vốn tri thức.

+ Là sự chuẩn bị để có thể làm cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, phát hiện thế giới mới.

+ Không có sự kế thừa cái đã qua không thể tiếp thu cái mới.

- Lấy thành quả của nhân loại trong quá khứ làm xuất phát điểm để phát hiện cái mới của thời đại này: “Nếu xoá bỏ hết các thành quả nhân loại đã đạt được trong quá khứ thì chưa biết chừng chúng ta đã lùi điểm xuất phát về đến mấy trăm năm, thậm chí là mấy ngàn năm trước…”.

Từ cách lập luận trên mà tác giả đã đưa ra ý nghĩa to lớn của việc đọc sách: Trả món nợ với thành quả nhân loại trong quá khư, ôn lại kinh nghiệm, tư tưởng của nhân loại tích luỹ mấy nghìn năm…”

- Là sự hưởng thụ các kiến thức , thành quả của bao người đã khổ công tìm kiếm mới thu nhận được.

3. Cách chọn và đọc sách

a) Cách lựa chọn sách

Trong tình hình hiện nay, sách vở ngày càng nhiều thì việc chọn sách lại càng không dễ. Trước hết tác giả chỉ ra hai thiên hướng sai lác thường gặp khi chọn sách:

+ Sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu, dễ sa vào lối “ăn tươi nuốt sống”, không kịp tiêu hoá.

+ Sách nhiều khiến người đọc khó chọn lựa, lãng phí thời gian.

- Cách lựa chọn sách:

+ Chọn những quyển sách thực sự có giá trị, có lợi cho mình.

+ Cần đọc kỹ cuốn sách thuộc lĩnh vực chuyên môn, chuyên sâu của mình.

+ Đảm bảo nguyên tắc “vừa chuyên vừa rộng”, trong khi đọc tài liệu chuyên sâu, cần chú ý các loại sách thường thức, kế cận với chuyên môn.

b. Phương pháp đọc sách.

- Phương pháp đọc

+ Không đọc lấy số lượng. Không nên đọc lướt qua, đọc để trang trí bề mặt mà phải vừa đọc vừa suy ngẫm: “trầm ngâm - tích luỹ - tưởng tượng”.

+ Đọc có kế hoạch, có hệ thống, không đọc tràn lan theo kiểu hứng thú cá nhân.

- Ý nghĩa của việc đọc sách đối với việc rèn luyện nhân cách, tính cách con người.

+ Đọc sách còn là một công việc rèn luyện, một cuộc chuẩn bị âm thầm và gian khổ cho tương lai.

Đọc sách không chỉ là việc học tập tri thức mà còn là chuyện rèn luyện tính cách, chuyện học làm người.

Tác giả đã ví việc đọc sách giống như đánh trận:

- Cần đánh vào thành trì kiên cố.

- Đánh bại quân tinh nhuệ.

- Chiếm cứ mặt trận xung yếu.

- Mục tiêu quá nhiều, che lấp mất vị trí kiên cố. Chỉ đá bên đông đấm bên tây hoá ra thành lối đánh “tự tiêu hao lực lượng”

Cách nói ví von, lập luận chặt  chẽ làm tăng sức thuyết phục, làm cơ sở tiền đề cho việc lập luận ở phần sau.

Ngoài cách viết giàu hình ảnh, cách ví von, so sánh vừa cụ thể, thú vị vừa sâu sắc, văn bản còn hấp dẫn bạn đọc ở nhiều phương diện:

- Nội dung lời bàn và các lời bình vừa đạt lý vừa thấu tình.

- Bố cục chặt chẽ, hợp lý.

- Các ý kiến được dẫn dắt rất tự nhiên.

III. Tổng kết

- Về  nội dung

Bài viết của tác giả đã nêu ra những ý kiến xác đáng về việc chọn sách và đọc sách, phương pháp đọc sách hiệu quả trong thời đại ngày nay.

- Về nghệ thuật

Sức thuyết phục, hấp dẫn của văn bản được thể hiện ở:

+ Nội dung luôn thấu tình đạt lý. Các ý kiến nhận xét đưa ra thật xác đáng, có lý lẽ đưa ra với tư cách là một học giả có uy tín, cách trò chuyện thân tình, chia sẻ những kinh nghiệm trong cuộc sống.

+ Bố cục chặt chẽ, hợp lý, ý kiến dẫn dắt tự nhiên.

+ Cách viết giàu hình ảnh, ví von cụ thể sinh động.

TIẾNG NÓI CỦA VĂN NGHỆ

      Nguyễn Đình Thi

I. Đọc và tìm hiểu chung về văn bản

1.Tác giả - tác phẩm

*Tác giả: Nguyễn Đình Thi (1924-2003).

- Quê: Hà Nội.

- Nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, soạn nhạc, viết lý luận văn học.

- Năm 1996, ông được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật. Ông là nhà văn cách mạng tiêu biểu xuất sắc.

- Trước cách mạng, ông là thành viên của tổ chứ văn hoá cứu quốc.

- Sau cách mạng:

+ Làm tổng thư ký hội Văn hoá cứu quốc.

+ Từ 1958 - 1989, ông là tổng thư ký hội nhà văn Việt Nam.

+ 1995, là Chủ tịch Uỷ ban toàn quốc liên hiệp các hội văn học nghệ thuật.

* Tác phẩm:

- Xuất xứ: “Tiếng nói của văn nghệ” viết năm 1948 - Thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, in trong cuốn “Mấy vấn đề văn học”, xuất bản năm 1956.

- Tóm tắt:

+ Nội dung tiếng nói của văn nghệ: cùng với thực tại khách quan là nhận thức mới mẻ, là tất cả tư tưởng, tình cảm cá nhân người nghệ sỹ. Mỗi tác phẩm văn nghệ lớn là cách sống của tâm hồn, từ đó làm thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ.

+ Tiếng nói văn nghệ rất cần thiết đối với cuộc sống con người, nhất là hình ảnh chiến đấu, sản xuất vô cùng gian khổ của nhân dân ta hiện nay (thời điểm sáng tác).

+ Văn nghệ có khả năng cảm hoá, sức mạnh lôi cuốn của nó thật kỳ diệu - bởi đó là tiếng nói của tình cảm - tác động của mỗi con người qua những rung cảm sâu xa tự trái tim.

- Bố cục: 3 phần.

1. Từ đầu đến “của tâm hồn”: Nội dung của văn nghệ.

2. Tiếp đến “Tiếng nói của tình cảm”: Nghệ thuật với đời sống tình cảm của con người.

3. Còn lại: Sức mạnh kỳ diệu, khả năng cảm hoá của văn nghệ.

2. Đọc và tìm hiểu chú thích (SGK)

II. Tìm hiểu chi tiết văn bản

1. Nội dung phản ánh của văn nghệ

- Tác phẩm nghệ thuật được xây dựng từ những vật liệu mượn ở thực tại - không đơn thuần là ghi chép, sao chép thực tại ấy một cách máy móc mà thông qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ (đó là cái nhìn, quan niệm tác giả, lời nhắn nhủ riêng tư…)

- Nội dung của tác phẩm văn nghệ không đơn thuần là câu chuyện con người như cuộc sống thực (đời thường) mà ở đó có cả tư tưởng, tấm lòng của người nghệ sỹ đã gửi gắm chất chứa trong đó.

Văn nghệ phản ánh những chất liệu hiện thực qua lăng kính chủ quan của người nghệ sỹ.

- Tác phẩm văn nghệ: Không chỉ là những lời lẽ suông, lý thuyết khô khan cứng nhắc - mà nó còn chứa đựng tất cả tâm hồn tình cảm của người sáng tạo ra nó. Những buồn vui, yêu ghét, mộng mơ, những giây phút bồng bột của tuổi trẻ… Tất cả những điều đó mang đến cho người đọc bao rung động, ngỡ ngàng trước những điều tưởng chừng như bình thường quen thuộc.

- Nó chứa đựng tâm hồn, tình cảm của người nghệ sĩ.

- Nó luôn khám phá tác động mạnh mẽ đến người đọc.

- Những nhận thức

- Những rung cảm.

“Mỗi tác phẩm như rọi… của tâm hồn”.

- Mở rộng, phát huy vô tận qua từng thế hệ.

Tóm lại: Văn nghệ tập trung khám phá, thể hiện chiều sâu tính cách, số phận con người và cả thế giới bên trong con người.

- Những bộ môn khoa học xã hội khác đi vào khám phá, miêu tả, đúc kết bộ mặt tự nhiên hay xã hội, các quy luật khách quan.

Nội dung chủ yếu của văn nghệ là hiện thực mang tính cụ thể sinh động, là đời sống tình cảm con người qua cái nhìn và tình cảm có tính cá nhân của nghệ sĩ.

2. Vai trò ý nghĩa của văn nghệ đối với đời sống của con người.

- Trong những trường hợp con người bị ngăn cách bởi cuộc sống, tiếng nói của văn nghệ nối họ với cuộc sống bên ngoài.

Ví dụ: Những người tù chính trị từ Sở Mật Thám:

+ Bị ngăn cách với thế giới bên ngoài.

+ Bị tra tấn, đánh đập.

+ Không gian tối tăm, chật hẹp…

Tiếng nói văn nghệ đến bên họ như phép màu nhiệm, một sức mạnh cổ vũ tinh thần to lớn.

Hay những người sống trong lam lũ vất vả, u tối cả cuộc đời. Tiếng nói văn nghệ làm cho tâm hồn của họ được sống, quên đi nỗi cơ cực hàng ngày.

- Những tác phẩm văn nghệ hay luôn nuôi dưỡng, làm cho đời sống tình cảm con người thêm phong phú. Qua văn nghệ, con người trở nên lạc quan hơn, biết rung cảm và biết ước mơ.

- Dẫn chứng đưa ra tiêu biểu, cụ thể, sinh động, lập luận chặt chẽ, đầy sức thuyết phục - phân tích một cách thấm thía sự cần thiết của văn nghệ đối với đời sống con người : “Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhoà đi, ánh sáng ấy bây giờ biến thành của ta, và chiếu toả trên mọi việc chúng ta sống, mọi con người chúng ta gặp, làm thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ”.

Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm, chứa đựng tình yêu ghét, nỗi buồn của chúng ta trong cuộc sống.

3. Sức mạnh kì diệu của nghệ thuật.

Văn nghệ đến với con người bằng tình cảm. Nghệ thuật không thể nào thiếu tư tưởng.

- Tư tưởng trong nghệ thuật không khô khan, trừu tượng mà thấm sâu những cảm xúc, nỗi niềm, từ đó tác phẩm văn nghệ nói nhiều nhất với cảm xúc đi vào nhận thức tâm hồn chúng ta qua con đường tình cảm, giúp con người tự nhận thức mình, tự xây dựng mình.

- Bằng cách thức đặc biệt đóm văn nghệ thực hiện chức năng của nó một cách tự nhiên, hiệu quả, sâu sắc, lâu bền.

- Tự thân văn nghệ, những tác phẩm chân chính đã có tác dụng tuyên truyền.

Vì: Tác phẩm văn nghệ chân chính bao giờ cũng được soi sáng bởi một tư tưởng tiến bộ hướng người đọc người nghe vào một lẽ sống, cách nghĩ đứng đắn nhân đạo mà vẫn có tác dụng tuyên truyền cho một quan điểm, một giai cấp, một dân tộc nào đó.

+Nó không tuyên truyền một cách lộ liễu, khô khan, không diễn thuyết, minh hoạ cho các tư tưởng chính trị.

- Văn nghệ là cả sự sống con người, là mọi trạng thái cảm xúc, tình cảm phong phú của con người trong đời sống cụ thể, sinh động.

- Văn nghệ tuyên truyền bằng con đường đặc biệt -  con đường tình cảm. Qua tình cảm, văn nghệ lay động toàn bộ con tim khối óc của chúng ta. “Nghệ sĩ truyền điện thẳng vào con tim khối óc chúng ta một cách tự nhiên sâu sắc và thấm thía. Nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng chúng ta, khiến chúng ta  tự phải bước lên con đường ấy”.

- Nghệ thuật mở rộng khả năng cảm nhận, thưởng thức của tâm hồn.

- Nghệ thuật giải phóng con người khỏi những giới hạn chật hẹp của đời sống con người.

Nói tóm lại, nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm. Nó có sức mạnh kì diệu, sức mạnh cảm hoá to lớn.

VD: - Tiếng nhạc của bản thánh ca trong truyện “Người cảnh sát và bản thánh ca” - O.Henri.

- Truyện : Bức tranh (Nguyễn Minh Châu).

- Bài thơ “thần”: Nam quốc sơn hà”.

- Câu chuyện: Bó đũa - giáo dục tinh thần đoàn kết.

- Bài thơ chép tay của Phạm Thị Xuân Khải: Mùa xuân nhớ Bác…

III. Tổng kết

- Bố cục: Chặt chẽ, hợp lý, dẫn dắt tự nhiên.

- Cách viết: giàu hình ảnh, nhiều dẫn chứng tiêu biểu, đa dạng, có sức thuyết phục cao.

- Luận điểm sắp xếp theo một hệ thống hợp lý.

- Lời văn: Chân thành, say sưa nhiệt huyết.

Văn nghệ nối sợi dây đồng cảm kỳ diệu giữa nghệ sỹ với bạn đọc thông qua những rung động mãnh liệt, sâu xa của trái tim. Văn nghệ giúp con người được sống phong phú hơn và tự hoàn thiện nhân cách, tâm hồn mình. Nguyễn Đình Thi đã phân tích, khẳng định những điều ấy qua bài tiểu luận “Tiếng nói của văn nghệ” với cách viết vừa chặt chẽ vừa giàu hình ảnh và cảm xúc.

CHUẨN BỊ HÀNH TRANG VÀO THẾ KỈ MỚI

I. Đọc, tìm hiểu chung về văn bản

1. Đọc - chú thích

a) Đọc.

b) Chú thích (SGK)

2. Tác giả - tác phẩm

a) Tác giả

Vũ Khoan: Nhà hoạt động chính trị, đã từng làm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ thương mại, hiện là Phó thủ tướng chính phủ.

b) Tác phẩm

- Xuất xứ: Bài viết đăng trên tạp chí Tia sáng năm 2001, được in vào tập Một góc nhìn của tri thức, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.

- Bài viết ra đời trong thời điểm những năm đàu của thế kỉ XXI, thời điểm quan trọng trên con đường phát triển và hội nhập thế giới.

c) Phương thức diễn đạt

Nghị luận bình luận về một vấn đề tư tưởng trong đời sống xã hội.

Bố cục gồm 3 phần

- Mở bài (từ đầu đến “thiên niên kỷ mới”): nêu luận điểm chính.

- Thân bài (tiếp theo đến “kinh doanh và hội nhập”): Bình luận và phân tích luận điểm bằng hệ thống luận cứ (3 luận cứ)

- Kết bài(còn lại): Khẳng định lại nhiệm vụ của lớp trẻ Việt Nam.

II. Đọc - hiểu văn bản

Luận điểm: Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới.

Hệ thống luận cứ:

- Luận cứ 1: Vai trò của con người trong hành trang bước vào thế kỉ mới.

- Luận cứ 2: Nhiệm vụ của con người Việt Nam trước mục tiêu của đất nước.

- Luận cứ 3: Những điểm mạnh và yếu của con người Việt Nam cần nhận thức rõ.

1. Vai trò của con người trong hành trang vào thế kỷ mới.

- Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới thì quan trọng nhất là chuẩn bị bản thân con người.

- Đây là một luận cứ quan trọng, mở đầu cho hệ thống luận cứ, có ý nghĩa đặt vấn đề - mở ra hướng lập luận toàn bài.

Lý lẽ: Con người là động lực phát triển của lịch sử.

- Ngày nay nền kinh tế tri thức phát triển, vai trò con người càng nổi trội.

- Nêu ra một cách chính xác, logic, chặt chẽ, khách quan. Vấn đề được nêu ra rất có ý nghĩa thực tiễn. Trong thế kỷ trước, nước ta đã đạt những thành quả rất vững chắc. Chúng ta đang bước sang thế kỷ mới với nhiệm vụ cơ bản là trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Việc chuẩn bị hành trang (tri thức, khoa học, công nghệ, tư tưởng, lối sống…) là vô cùng cần thiết.

2. Bối cảnh của thế giới hiện nay và những mục tiêu - nhiệm vụ nặng nề của đất nước.

- Bối cảnh của thế giới: Khoa học công nghệ phát triển cùng với việc hội nhập sâu rộng.

- Mục tiên, nhiệm vụ của đất nước:

+ Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

+ Tiếp cận nền kinh tế tri thức.

+ Thoát khỏi nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu.

Từ việc gắn vai trò trách nhiệm của con người Việt Nam với thực tế lịch sử, kinh tế của đất nước trong thời kỳ đổi mới để dẫn dắt tới vấn đề cơ bản mà tác giả cần bàn luận: “những điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam”.

3. Cái mạnh, cái yếu của con người Việt Nam.

- Điểm mạnh:

+ Thông minh, nhạy bén

+ Cần cù, sáng tạo, tỉ mỉ.

+ Đoàn kết, đùm bọc trong chống giặc ngoại xâm.

+ Thích ứng nhanh

- Yếu:

+ Thiếu kiến thức cơ bản, kém năng lực thực hành, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ, chưa quen với cường độ khẩn trương.

+ Đố kị trong làm ăn, cuộc sống đời thường.

+ Hạn chế trong thói quen nếp nghĩ, kì thị trong kinh doanh, quen bao cấp, thói khôn vặt, ít giữ chữ tín.

Tác giả đã nêu phân tích cụ thể thấu đáo, nêu song song hai mặt và luôn đối chiếu với yêu cầu xây dựng và phát triển của đất nước hiện nay chứ không chỉ nhìn trong lịch sử.

Trình tự lập luận:

- Tính hệ thống chặt chẽ, có tính định hướng của các luận cứ.

- Kết thúc hệ thống luận cứ bằng cách khẳng định lại luận điểm đã nêu ở phần mở đầu:

+ Lấy đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ điểm yếu.

+ Phải làm cho lớp trẻ, chủ nhan của đất nước nhận rõ điều đó. Làm quen với những thói quen tốt ngay từ nhưungx việc làm nhỏ nhặt nhất.

Thái độ của tác giả: Tôn trọng sự thực, nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện, không thiên lệch.

Tác dụng: Giúp mọi người tránhđược tâm lý ngộ nhận tự đề cao quá mức, tự thoả mãn, không có ý thứ học hỏi cản trở sự có hại đối với sự phát triển của đất nước trong bối cảnh hiện nay.

III. Tổng kết

Về nội dung:

- Nhận thức được vai trò vô cùng to lớn của con người trong hành tran vào thế kỷ mới, những mục tiên và nhiệm vụ quan trọng của đất nước ta khi bước vào thể kỷ mới.

Qua bài viết, nhận thức được những mặt mạnh cũng như mặt hạn chế của con người Việt Nam để từ đó có ý thức rèn luyện, tu dưỡng để trở thành một người công dân tốt.

CHÓ SÓI VÀ CỪU TRONG THƠ NGỤ NGÔN

CỦA LA PHÔNGTEN

I. Đọc, tìm hiểu chung về văn bản

1. Tác giả

Hi-pô-lít Ten (H.Ten) (1828-1893)

- Là một triết gia - sử gia- nhà nghiên cứu văn học Pháp, viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp.

2. Tác phẩm

Công trình nghiên cứu nổi tiếng của ông: LaPhôngten và thơ ngụ ngôn của ông, 1853.

- Phương thức biểu đạt: Nghị luận.

3. Đọc, chú thích

- Đọc văn bản.

- Chú thích

Văn bản được chia làm 2 phần:

+ Phần 1 (từ đầu đến “tốt bụng thế”): Hình tượng con cừu trong bài thơ La Phôngten.

+ Phần 2 (Còn lại): Hình tượng chó sói trong thơ La Phôngten.

Nhận xét: Trong cả hai phần, tác giả đều lập luận bằng cách dẫn ra những dòng viết về 2 con vật ấy của nhà khoa học Buy- phông để đối chiếu so sánh.

Con cừu: “Chính vì sự sợ hãi ấy… chó bị xua đi”.

Chó sói :“Chó sói bị thù ghét… chết rồi thì vô dụng”.

Nghị luận theo trình tự 3 bước:

+ Dưới ngòi bút của La Phôngten

+ Dưới ngòi bút của Buy-phông

+ Dưới ngòi bút của La Phôngten

Tác giả đã nhờ La Phôngten tham gia mạch nghị luận của ông, vì vậy bài văn nghị luận trở nên sinh động hơn.

II Đọc, hiểu văn bản

1. Chó sói và cừu dưới mắt nhà khoa học.

Cừu: Vì sợ hãi mà hay tụ tập thành bầy. Chỉ một tiếng động nhỏ bất thường… chúng nháo nhào co cụm lại sợ sệt lại còn hết sức đần độn vì không biết tránh nỗi nguy hiểm… muốn bắt chúng di chuyển … cần phải cần có một con đầu đàn… bị gã chăn cừu thôi thúc hoặc bị chó xua đi. Tóm lại, đso là một loài vật nhút nhát, đần độn.

Chó sói: Thù ghét mọi sự kết bạn kết bè… Nhiều chó sói tụ hội với nhau nhằm để tấn công một con vật to lớn… Khi cuộc chiến đã xong xuôi, chúng quay về với sự lặng lẽ và cô đơn của chúng.Tóm lại bộ mặt lấm lét, dáng vẻ hoang dã, tiếng hú rùng rợn, mùi hôi gớm ghiếc, bản tính hư hỏng … nó thật đáng ghét, lúc sống thì có hại, chết rồi thì vô dụng…

Tóm lại,dưới mắt nhà khoa học, chó sói chỉ là một vật hung dữ, đáng ghét.

* Nhận xét:

Bằng cái nhìn chính xác cả nhà khoa học để nêu lên những đặc tính cơ bản của chúng.

- Không nhìn nhận từ gó độ tình cảm (Vì đặc trưng của khoa học là chính xác, chân thực, cụ thể).

- Không nói đến sự thân thương của loài Cừu vì không chỉ loài vật này có “tình cảm mẫu tử thân thương”.

- Không nhắc đến sự bất hạnh của loài chó sói vì: Đấy không phải đặc trưng cơ bản của nó mọi nơi mọi lúc.

2. Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn La Phôngten

a) Hình tượng cừu trong thơ La Phôngten

- Tác giả đã đặt chú cừu non bé bỏng vào hoàn cảnh đặc biệt: đối mặt với chó sói bên dòng suối.

- Dựa vào nét tính cách đặc trưng của loài cừu: nhút nhát.

Khắc hoạ tính cách qua:

- Thái độ

- Ngôn từ

- Đặc điểm vốn có của loài cừu: hiền lành, nhút nhát, không hại ai.

Gặp chó sói:

- Cừu gọi: “bệ hạ”, xưng “kẻ hèn này”.

- Ra sức thanh minh cho mình chứng tỏ vô tội:

+ Không uống nước ở dòng suối.

+ Không nói xấu sói vì chưa ra đời.

+ Không có anh em.

Thế nhưng cừu vẫn bị sói tha vào rừng ăn thịt.

Ý thức là kẻ yếu nên hết sức nhún nhường tới mức nhút nhát.

- La Phôngten viết về loài cừu sinh động như vậy là nhờ có trí tưởng tượng phóng khoáng và tình yêu thương loài vật.

- Là cách sáng tác phù hợp với đặc điểm của chuyện ngụ ngôn -  nhân hoá con cừu non là có suy nghĩ, nói năng, hành động giống con người, khác với cách viết của Buyphông.

b)hình tượng chó sói

Chó sói xuất hiện kiếm cớ gây sự với cừu non bên dòng suối:

-Làm đục nước nguồn trên(dù cừu uống nước nguồn dưới).

- Nói xấu ta năm ngoái (dù khi đó cừu còn chưa sinh).

- Anh của cừu nói xấu (dù cừu chỉ có một mình)…

- Chó sói đói meo gầy giơ xương đi kiếm mồi. Gặp chú cừu non đang uống nước - muốn ăn thị nhưng giấu tâm địa kiếm cớ bắt tội trừng phạt cừu.

- Lời nói của sói thật vô lý. Đó là lời lẽ của kẻ gian ngoan, xảo trá, ỷ mạnh bắt nạt kẻ yếu.

- Dựa trên đặc tính săn mồi của sói: ăn tươi nuốt sống những con vật nhỏ bé yếu hơn mình (giống nhận xét của BuyPhông).

Chó sói được nhân hoá dưới ngòibút phóng khoáng của tác giả.

- Sói đáng ghét bởi nó gian giảo, hống hách, bắt nạt kẻ yếu, là một bạo chúa.

La Phôngten kể về điều đó:

Trộm cướp nhưng khốn khổ và bất hạnh, chỉ là một gã vô lại luôn đói dài và luôn bị ăn đòn.

… “Dạ trống không, sói chợt tới nơi,

Đói, đi lảng vảng kiếm mồi,

Thấy chiên, động dại bời bời thét vang”

-Buy phông:

+ Đối tượng : loài cừu và loài sói chung

+ Cách viết: Nêu lên những đặc tính cơ bản một cách chính xác.

+ Mục đích: Làm cho người đọc tháy rõ đặc trưng cơ bản của hai loài cừu và sói.

- La Phôngten

+ Đối tượng: Một con cừu non, một con sói đói meo gầy giơ xương.

+ Cách viết: Dựa trên một số đặc tính cơ bản của loài vật, đồng thời nhân hoá loài vật như con người.

+ Mục đích : Xây dựng hình tượng nghệ thuật (Cừu non đáng thương, Sói độc ác, đáng ghét).

Cùng viết về những đối tượng giống nhau, từ đó nêu bật đặc trưng sáng tác nghệ thuật.

III. Tổng kết.

Bằng cách so sánh hình tượng con cừu và con chó sói trong thơ ngụ ngôn La Phôngten với những dòng viết về hai con vật ấy của nhà khoa học BuyPhông, tác giả nêu bật đặc trưng của sáng tác nghệ thuật.

RÔ-BIN-SƠN NGOÀI ĐẢO HOANG

(Đi-phô)

I . Tìm hiểu chung về văn bản

1. Tác giả

Đi-phô (1660 - 1731) là nhà văn nổi tiếng ở Anh.

2. Tác phẩm

- Sáng tác năm 1719, dưới hình thức tự truyện.

- Đoạn trích kể về Rô-bin-xơn sống một mình ở đảo hoang khoảng 15 năm.

3. Đọc – tìm bố cục

a. Đọc

b. Bố cục: 4 phần.

- Phần 1: Mở bài

- Phần 2: Trang phục của Rô-bin-xơn

- Phần 3: Trang bị của Rô-bin-xơn

- Phần 4: Diện mạo của Rô-bin-xơn

So với các phần khác, phần 4 ngắn hơn do phương thức tự sự ở ngôi thứ nhất, chỉ kể những gì nhìn thấy được, nên phần 4 nói ít về diện mạo và nói sau, do người kể muốn giới thiệu với độc giả cách ăn mặc kì khôi của mình là chính.

II. Đọc – hiểu văn bản

Bức chân dung tự hoạ của Rô-bin-xơn

- Trang phục (Kì quặc, kì dị, kì quái, lạ lùng, lố lăng và nực cười)

+ Mũ: Làm bằng da dê.

+ Áo: Bằng da dê dài chừng hai bắp đùi

+ Quần loe bằng da dê

+ Tự tạo đôi ủng

- Trang bị:

+ Thắt lưng, cưa, rìu con, túi đựng thuốc.

+ Đạn, dù, súng.

- Diện mạo:

+ Không đến nỗi đen cháy.

+ Râu ria cắt tỉa theo kiểu Hồi giáo.

Khi khắc hoạ bức chân dung của mình, Rô-bin-xơn không hề tỏ ra than phiền, đau khổ. Qua đó chứng tỏ một tinh thần rất lạc quan.

Mặc dù cuộc sống vô cùng khó khăn song Rô-bin-xơn vẫn bất chấp gian khổ, lạc quan, yêu đời.

III. Tổng kết

1. Nghệ thuật: Ngôn ngữ kể chuyện với giọng điệu hài hước.

2. Nội dung: Tinh thần lạc quan của Rô-bin-xơn ở ngoài đảo hoang.

BỐ CỦA XI MÔNG

Mô-pa-xăng

I.Tìm hiểu chung về văn bản

1. Tác giả:

- Mô-pa-xăng (1850-1893) là nhà văn nổi tiếng ở Pháp với xu hướng truyện ngắn hiện thực

2. Tác phẩm

- Trích “Tuyển taapjp truyện ngắn Pháp”

3. Đọc - kể - tìm bố cục

a) Đọc

b) Kể

c) Bố cục

- Phần 1: Nỗi tuyệt vọng của Xi-mông

- Phần 2: Xi-mông gặp bác Phi-líp

- Phần 3: Phi-líp đưa Xi-mông về nhà, nhận làm bố Xi-mông.

- Phần 4: Ngày hôm sau ở trường

II. Đọc- hiểu văn bản

  1. Nhân vật Xi-mông

- Ý nghĩa và hành động: Bỏ nhà ra bờ sông định tự tử.

- Cử chỉ, hành động: hay khóc

- Nói năng: ấp úng, ngắt quãng, không nên lời.

- Tâm trạng: cảm giác uể oải, buồn bã vô cùng, chẳng nhìn thấy gì và chẳng nghĩ gì?

Kiêu hãnh, tự tin khi được bác Phi-líp nhận làm bố.

- Hết cả buồn.

- Đưa con mắt thách thức lũ bạn.

Xi – mông là đứa trẻ có cá tính nhút nhát, song rất có nghị lực.

  1. Nhân vật Blăng- sốt

Ngôi nhà của chị: nhỏ, quét vôi trắng, hết sức sạch sẽ.

- Thái độ với khách: đứng nghiêm nghị…như muốn cám đàn ông bước qua ngướng cửa.

- Nỗi lòng với con

+ Tái tê đến tận xương tuỷ, nước mắt lã chã tuôn rơi.

+ Lặng ngắt và quằn quại vì hổ thẹn

Người thiếu phụ xinh đẹp, đức hạnh

 

 

 

 

  1. Nhân vật Phi - lip

- Khi gặp Xi-mông:

+ Đặt tay lên vai em ôn tồn hỏi, nhìn em nhân hậu.

- Trên đường đưa Xi-mông về nhà nghĩ bụng có thể đùa cợt với chị - “tự nhủ thầm”

- Khi đối đáp với Xi-mông, nhận làm bố của Xi-mông

Bác Phi-líp là người nhân hậu, giàu tình thương đã cứu sống Xi-mông, nhận làm bố của Xi-mông, đem lại niềm vui cho em.

III. Tổng kết

  1. Nghệ thuật: miêu tả diễn biến  tâm trạng nhân vật sắc nét.
  2. Nội dung: Nhắc nhở lòng thương yêu con người, bè bạn.

I. Tìm hiểu chung về văn bản

1. Tác giả

- Lân-đơn (1876-1916).

- Là nhà văn Mĩ.

2. Tác phẩm

- Trích từ tiểu thuyết “Tiếng gọi nơi hoang dã”.

3. Đọc, tìm bố cục

a. Đọc

b. Bố cục
- Phần 1: Mở đầu.

- Phần 2: Tình cảm của Thooc-tơn với Bấc.

- Phần 3: Tình cảm của Bấc đối với ông chủ.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Tình cảm của Thoóc – tơn với Bấc

Tình cảm của Thoóc – tơn với Bấc.

- Chăm sóc chó như là con cái của anh

+ Chào hỏi thân mật.

+ Chuyện trò, nói lời vui vẻ.

+ Túm chặt đầu Bấc dựa vào đầu mình, đẩy tới đẩy lui, rủa yêu.

+ Kêu lên trân trọng… đằng ấy.

Yêu thương, trân trọng như đối với con người

3. Tình cảm của Bấc với ông chủ.

- Cử chỉ, hành động.

+ Cắn vờ.

+ Nằm phục ở chân Thoóc – tơn hàng giờ, mắt háo hức…quan tâm theo dõi… trên nét mặt.

+ Nằm xa hơn quan sát

+ Bám theo gót chân chủ.

- Tâm hồn:

+ Trước kia, chưa hề cảm thấy một tình thương yêu như vậy.

+ Bấc thấy không có gì vui sướng bằng cái ôm ghì mạnh mẽ ấy.

+  Nó lại tưởng như quả tim mình thấy tung ra khỏi lồng ngực..

+ Không muốn rời Thoóc – tơn một bước, lo sợ Thoóc – tơn rời bỏ.

Sự tôn thờ, kính phục.

Tác giả đã sử dụng nghệ thuật so sánh kết hợp với phân tích.

III. Tổng kết

1. Nghệ thuật: Nhận xét tinh tế, tưởng tượng phong phú.

 

 

1

 

Văn bản nhật dụng, văn bản nghị luận.

Đăng ngày 4/7/2009 6:00:05 AM | Thể loại: Môn văn | Lần tải: 34 | Lần xem: 0 | Page: 1 | FileSize: 0.16 M | File type: doc
0 lần xem

đề thi Văn bản nhật dụng, văn bản nghị luận., Môn văn. . Chúng tôi trân trọng giới thiệu tới bạn đọc tài liệu Văn bản nhật dụng, văn bản nghị luận. .Để chia sẽ thêm cho bạn đọc nguồn tài liệu tham khảo giúp đỡ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học, trân trọng kính mời bạn đọc quan tâm cùng xem , Tài liệu Văn bản nhật dụng, văn bản nghị luận. thuộc danh mục Môn văn được giới thiệu bởi bạn Dung Nguyễn Kim tới thành viên nhằm mục tiêu nghiên cứu , thư viện này được chia sẽ vào chủ đề Môn văn , có tổng cộng 1 trang, thuộc file .doc, cùng chủ đề còn có Đề thi Ngữ văn ,bạn có thể download miễn phí , hãy chia sẽ cho mọi người cùng nghiên cứu A-KIẾN THỨC CƠ BẢN PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH Lê Anh Trà I, ngoài ra Đọc và tham khảo chú giải 1, tiếp theo là Xuất xứ Năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác Hồ, có đa dạng bài viết về Người, cho biết thêm “Phong cách Hồ Chí Minh” là một phần trong bài viết Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ đại gắn với cái giản dị của tác giả Lê Anh Trà, kế tiếp là 2, cho biết thêm Bố cục của văn bản Văn bản có thể chia làm 2 phần: - Từ đầu tới “rất hiện

https://nslide.com/de-thi/van-ban-nhat-dung-van-ban-nghi-luan.2wz6tq.html