Bài 6. Truyện Kiều của Nguyễn Du Nghệ thuật trong Truyện Kiều

giáo án Ngữ văn 9
  Đánh giá    Viết đánh giá
 3       1      0
Phí: Tải Miễn phí(FREE download)
Mã tài liệu
2drx0q
Danh mục
Thư viện Giáo án điện tử
Thể loại
Ngày đăng
12/4/2017 5:07:09 PM
Loại file
pptx
Dung lượng
0.35 M
Lần xem
1
Lần tải
3
File đã kiểm duyệt an toàn

NGHỆ THUẬT TRONG “TRUYỆN KIỀU” I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tác giả Nguyễn Du (1765- 1820) Tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên Quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh trưởng trong một ,xem chi tiết và tải về Giáo án điện tử Bài 6. Truyện Kiều của Nguyễn Du Nghệ thuật trong Truyện Kiều, Giáo Án Ngữ Văn 9 , Giáo án điện tử Bài 6. Truyện Kiều của Nguyễn Du Nghệ thuật trong Truyện Kiều, pptx, 76 trang, 0.35 M, Ngữ văn 9 chia sẽ bởi Hương Nguyễn Hoài đã có 3 download

  • Bài 6. Truyện Kiều của Nguyễn Du Nghệ thuật trong Truyện Kiều - 1
  • Bài 6. Truyện Kiều của Nguyễn Du Nghệ thuật trong Truyện Kiều - 2
  • Bài 6. Truyện Kiều của Nguyễn Du Nghệ thuật trong Truyện Kiều - 3
  • Bài 6. Truyện Kiều của Nguyễn Du Nghệ thuật trong Truyện Kiều - 4
  • Bài 6. Truyện Kiều của Nguyễn Du Nghệ thuật trong Truyện Kiều - 5
  • download - 4
Đây là đoạn mẫu , hãy download về để xem đầy đủ, hoàn toàn miễn phí 100%

NGHỆ THUẬT TRONG “TRUYỆN KIỀU”
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tác giả
Nguyễn Du (1765- 1820)
Tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên
Quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Ông sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có nhiều truyền thống về văn học. Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng. Anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản cũng từng làm quan to dưới thời Lê-Trịnh.
Tác giả của Truyện Kiều là ai ?
Quê của Nguyễn Du ở đâu ?
Hoàn cảnh gia đình của Nguyễn Du có gì đặc biệt ?
I. Đặt vấn đề
Một số nét đặc biệt về tác giả:
-Thời đại mà Nguyễn Du sống : Nửa cuối thế kỉ 18- đầu thế kỉ 19, là một thời kì lịch sử đầy biến động: chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, khởi nghĩa nổi lên khắp nơi; đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn
Thời ấu thơ: Sống cuộc đời sung sướng, nhung lụa.
Thời thanh niên: Sống lưu lạc nơi khói bụi nhân gian
Tóm lại, cuộc đời Nguyễn Du có nhiều năm phiêu bạt trên đất Bắc, lăn lóc trong khói bụi nhân gian đã giúp ông thấu hiểu đến tột cùng những vất vả, những cung bậc khổ đau của nhân dân. Nó không chỉ tạo cho Nguyễn Du lối sống phong phú mà còn ắp đầy trong ông niềm cảm thông sâu sắc với những đau khổ của con người.
- Vì thế, Mông Liên Đường từng nhận xét: “ Tố Như có con mắt trông khắp sáu cõi, có tấm lòng nghĩ đến cả nghìn đời, lời văn tả như có máu chảy trên đầu ngọn bút, nước mắt thấm cả tờ giấy khiến ai đọc cũng phải ngậm ngùi.”
Có nét gì đặc biệt về thời đại mà Nguyễn Du sống?
Cuộc đời như vậy đã tác động như thế nào đến Nguyễn Du ?
Đặt vấn đề
2 Tác phẩm:
Truyện Kiều (chữ Nôm: 傳翹), tên gốc là Đoạn trường tân thanh (chữ Hán: 斷腸新聲), được viết bằng chữ Nôm theo thể lục bát của Nguyễn Du là truyện thơ kinh điển trong nền Văn học Việt Nam, gồm 3254 câu, dựa theo tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện(金雲翹傳) của Thanh Tâm Tài Nhân (青心才人), một tiểu thuyết chương hồi bằng văn xuôi của Trung Quốc.
=> Truyện Kiều của Nguyễn Du là tác phẩm lớn nhất trong văn học cổ điển Việt Nam, một kiệt tác của nhân loại.
Nghệ thuật trong Truyện Kiều
Trước hết nét đặc sắc trong ngôn từ của Nguyễn Du là cách dùng từ Hán -Việt trong Truyện Kiều. Chúng ta thấy, bên cạnh thành phần thuần Việt thì trong Truyện Kiều còn có thành phần Hán Việt. Dùng từ Hán Việt một cách phổ biến trong văn học thời kỳ này là một phong cách có tính chất thời đại. Theo thống kê của tổ tư liệu viện ngôn ngữ thì trong số 3412 từ của Truyện Kiều có 1310 từ Hán Việt, tức là từ Hán Việt chiếm tỉ lệ 35% trong tổng số từ của tác phẩm. So với những tác phẩm cùng thời thì tỉ lệ như thế không phải là cao, song cách cách sử dụng của Nguyễn Du mới là điều cần chú ý.
Từ Hán Việt chiếm tỉ lệ cao trong vốn từ tiếng Việt (70%) song không vì thế mà tác giả sử dụng nó một cách dễ dàng, tuỳ tiện. Những từ Hán Việt được dùng trong tác phẩm thể hiện vốn hiểu biết rộng, sự sàng lọc kĩ lưỡng của Nguyễn Du trong dùng từ. Điều này được thể hiện ở cách đưa các điển tích, điển cố lấy từ văn học Trung Quốc vào trong thơ. Trong Truyện Kiều có rất nhiều điển tích, điển cố song chúng ta có thể kể ra một vài ví dụ tiêu biểu:
Nghệ thuật sử dụng từ Hán -Việt
Để miêu tả nỗi nhớ của Thuý Kiều đối với Thúc Sinh, tác giả dùng hình ảnh sông Tương:
Sông Tương một dải nông chờ
Bên trông đầu nọ, bên chờ mối kia. 
Đây chính là ý của bài thơ chữ Hán về điển tích chuyện tình của vua Thuấn và hai bà phi là Nga Hoàng và Nữ Anh : 
Anh ở đầu sông Tương
Em ở cuối sông Tương
Cùng nhìn về nhau
Dù cùng uống dòng nước sông Tương.
Hay miêu tả nỗi nhớ nhà da diết của Thuý Kiều, tác giả viết: 
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
(Sân Lai, gốc tử ấy cũng là những điển tích).
                       
                                                   
Nghệ thuật sử dụng từ Hán -Việt
Và:  Khen ai nhả ngọc phun châu
                       Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế này,
hay:                       Dập dìu lá gió cành chim
                        Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh...
Đều là những điển tích điển cố. Đây là những điển tích điển cố khá quen thuộc và được tác giả bố trí vào những văn cảnh nhất định giúp người đọc dễ hiểu. Đặc biệt, Nguyễn Du có cách dùng từ rất đặc sắc thể hiện vốn tiếng Hán uyên thâm của mình khi miêu tả nỗi nhớ của Thuý Kiều đối với Thúc Sinh trong đêm thu:
Đêm thu gió lọt song đào
                    Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời
Một ví dụ khác, tác giả giới thiệu tên Mã Giám Sinh:
Qúa niên trạc, ngoại tứ tuần
Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao
Dùng từ Hán Việt “ngoại tứ tuần” ở câu thơ này quả là rất hiệu quả. Nói Mã Giám Sinh “ngoại tứ tuần” khác hoàn toàn với nói Mã Giám Sinh “ngoài bốn mươi tuổi”. “Ngoài bốn mươi tuổi” chỉ là cách nói thông thường, không có hàm ý gì cả, còn “ngoại tứ tuần” thì không phải chỉ nói ngoài bốn mươi tuổi mà còn có ý chê già, hàm ý đánh giá. Nó đối lập với trang phục của y ở câu thơ dưới. Ở câu thơ này, tác giả có thể dùng từ thuần Việt nhưng như thế thì câu thơ sẽ kém hay rất nhiều.
Nghệ thuật sử dụng từ Hán -Việt
Có gì độc đáo ở cách sử dụng từ “ ngoại tứ tuần”
Nghệ thuật sử dụng từ Hán -Việt
 Cách dùng từ Hán -Việt cũng để tạo ra các đặc sắc về tu từ trong thơ. Ví dụ, trong rất nhiều từ để chỉ khái niệm “phụ nữ” tuỳ từng hoàn cảnh mà Nguyễn Du có những cách gọi khác nhau:
Để tả cái số phận cay chua, cực nhục của người phụ nữ trong xã hội cũ, Nguyễn Du dùng “đàn bà”:
Đau đớn thay phận đàn bà
         Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.   
Hoặc khi gọi ông trời là “hồng quân” thì tác giả gọi người phụ nữ là “hồng quần” vì hai từ này có âm hưởng gần nhau mà nội dung đối lập nhau, bài trừ nhau:     
  Hồng quân với khách hồng quần
         Đã xoay đến thế còn vần chưa tha
Nghệ thuật sử dụng từ ngữ súc tích, chính xác, linh hoạt
Một câu thơ khác ông lại gọi là hồng nhan:
Rằng: hồng nhan tự thuở xưa
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu.
 Cách dùng hồng nhan ở câu thơ trên cũng là ý đồ nghệ thuật của tác giả. Hồng nhan, bạc mệnh vốn là một kết cấu thống nhất, một tập hợp từ gần như thành ngữ “hồng nhan bạc mệnh”, ở đây tác giả tách nó ra nhằm nhấn mạnh ý nghĩa của nó.
-Trong tác phẩm, chúng ta còn bắt gặp các từ khác cũng dùng để chỉ người phụ nữ như: gái tơ, má đào, má hồng...
Một đặc điểm khác trong ngôn từ nghệ thuật của Nguyễn Du là cách sử dụng từ ngữ vô cùng linh hoạt, thể hiện vốn từ vựng tiếng Việt (cả tiếng Hán) vô cùng phong phú của ông.
Tác giả đã dùng hàng loạt các từ ngữ khác nhau để chỉ cùng một đối tượng. Cách sử dụng linh hoạt của tác giả giúp thể hiện được nhiều tâm trạng, nhiều tình cảm, nhiều phương diện khác nhau trong mỗi nhân vật.
Cách sử dụng từ ‘hồng nhan’ và ‘bạc mệnh’ trong câu trên có gì đặc biệt?
Nghệ thuật sử dụng từ ngữ súc tích, chính xác, linh hoạt
Về các từ cùng chỉ khái niệm người phụ nữ trên đây là một ví dụ. Và đây là một ví dụ khác:
Cùng chỉ giọt nước mắt nhưng khi đứng trước nấm mồ của Đạm Tiên, Thuý Kiều đã khóc mà theo Thuý Vân thì:
“Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa”.
Còn khi khóc vì số phận tủi nhục phải bán mình chuộc cha thì giọt nước mắt của nàng lại khác:
“Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng”
và “Áo đầm giọt tủi tóc se mái đầu”.
Và đây là giọt nước mắt của cuộc chia tay giữa Thuý Kiều và Thúc Sinh:
                                        Giọt châu lã chả khôn cầm
                              Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Còn khi Thuý Kiều khóc cho Từ Hải thì lại khác:
“Dòng thu như xối cơn sầu”...
Như vậy, cùng miêu tả giọt nước mắt mà Nguyễn Du đã dùng rất nhiều từ khác nhau để diễn đạt và mang những ý nghĩa sâu sắc. Về thủ pháp dùng từ độc đáo này, chúng ta có thể liệt kê được rất nhiều trường hợp khác trong Truyện Kiều: cùng chỉ một khái niệm “mặt trăng”, trong truyện có: mặt trăng, vành trăng, cung trăng, cung Quảng, gương nga, bóng nga, chị Hằng; cùng một khái niệm “giấc ngủ”, Truyện Kiều có các từ: giấc xuân, giấc mộng, giấc mê, giấc vàng, giấc chiêm bao, giấc hương quan...
Ngoài ra, ngôn từ nghệ thuật Truyện Kiều còn rất súc tích, chính xác. Nguyễn Du có thể bằng một vài câu thơ khắc hoạ lên sắc nét chân dung ngoại hình của một nhân vật, hay miêu tả một biến cố, một cảnh ngộ, một sự di chuyển về không gian, hay một sự vận động của thời gian. Nguyễn Du cũng có thể bằng một từ hay một vài từ mà bộc lộ được tất cả thái độ đánh giá của ông đối với tính cách, phẩm chất của một con người nào đó hay một hiện tượng nào đó.
Nghệ thuật sử dụng từ ngữ súc tích, chính xác, linh hoạt
Nghệ thuật sử dụng từ ngữ súc tích, chính xác, linh hoạt
Đó là đoạn miêu tả Thuý Kiều, Thuý Vân đẹp và tài. Đó là hình ảnh Kim Trọng với phong thái ung dung, hào hoa phong nhã: 
                                   Sắc in mặt tuyết câu dồn 
               Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.
Hay miêu tả Từ Hải anh hùng:
Râu hùm hàm én mày ngài   
                              Vai năm tấc rộng thân mười thước cao.
Khi miêu tả ông quan xử kiện, Nguyễn Du viết: “Trông lên mặt sắt đen sì”. Nhà thơ Tố Hữu cho đây là “một trong những câu thơ hay nhất trong Truyện Kiều”. Tố Hữu phân tích: “Tại sao lại trông lên mà không là trông ngang, trông ra, trông vào? Ở đây tác giả đứng về phía nhân dân mà trông lên bọn thống trị ngồi trên đầu họ. Nhưng rồi cái mặt sắt đen sì hiện ra. Mặt sắt lạnh lùng không có chút tình người, đạo lý và đen sì đến ghê tởm. Thật không có chữ nào miêu tả bọn thống trị một cách ngắn gọn mà sắc hơn”.
Nghệ thuật sử dụng từ ngữ súc tích, chính xác, linh hoạt
Còn nhà thơ Lưu Trọng Lư nói về câu: “Đêm khuya con gái dặm trường”: “Sáu chữ thôi nhưng có thể bao gồm hết ý nghĩa của cả bốn cuốn truyện dài đó”.
Và chúng ta thấy, chỉ cần một chữ “lẻn”, Nguyễn Du đã tóm đúng cái thần thái của Sở Khanh: gian manh, xảo quyệt: “Mặt mo đã thấy Sở Khanh lẻn vào”. 
Chỉ một chữ “tót” thôi, Mã Giám Sinh đã lộ nguyên hình một tên vô học, vô văn hoá: “Ghế trên ngồi tót sổ sàng”. Còn Hoạn Thư cay độc, nham hiểm thì: Bề ngoài thơn thớt nói cười/ Mà trong nham hiểm giết người không đao.
Tú Bà thì ngoại hình đã tạo ra sự ghê sợ cho gười đọc: Thoắt trông nhờn nhợt màu da/ Ăn gì to lớn đẩy đà làm sao. Hồ Tôn Hiến dâm ô bỉ ổi:
                        Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình....
Nguyễn Du đã sử dụng những từ rất “đắt” để miêu tả về các nhân vật của mình. Các từ đó đều rất giàu ý nghĩa, rất chính xác, súc tích và có giá trị biểu cảm cao khi thể hiện tính cách, phẩm chất, ngoại hình... của nhân vật.
Và một nét nghệ thuật đặc sức nữa của Nguyễn Du còn là cách sử dụng từ đắt giá, cách dùng từ đó thể hiện ở đâu?
Ở nhân vật Mã Giám Sinh, điều đó được thể hiện như thế nào?
Ở nhân vật Tú Bà thì sao?
Ngôn từ giàu hình ảnh và nhạc điệu
Bên cạnh cái súc tích, chính xác, ngôn từ mà Nguyễn Du dùng trong truyên Kiều cũng tạo cho câu thơ giàu hình ảnh và nhạc điệu.
     Đó là cách tả mùa xuân:        Cỏ non xanh rợn chân trời
                                          Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Là cách tả mùa hè:
Dưới trăng quyên đã gọi hè    
                        Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông
Hay cảnh mùa thu:
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng
Tả cảnh sinh ly từ biệt thì
“Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm”...
=> Nguyễn Du đã kết hợp được trong câu thơ của mình một tư duy thơ sắc sảo với việc khai thác triệt để các khả năng tu từ của ngôn ngữ Tiếng Việt và của thể thơ lục bát. Nguyễn Du chú ý đến âm hưởng của từng từ trong khi dùng và kết hợp âm hưởng của các từ để tạo ra một hiệu quả nghệ thuật theo ý muốn.
Những hình ảnh giàu nhạc điệu đó thường được thể hiện ở đâu
Một số dẫn chứng tả cảnh của Nguyễn Du
Diễn tả sóng nước muôn trùng của sông Tiền Đường lúc Thuý Kiều tự vẫn, nhà thơ dùng liền mấy từ có phụ âm đầu là “tr” kết hợp với vần ung, ong, ông:                     Ngọn triều non bạc trùng trùng
                         Vời trông còn thấy bóng hồng lúc gieo!
Và để diễn tả cái tư thế hùng dũng, đội trời đạp đất của Từ Hải thì tác giả dùng rất nhiều phụ âm “đ” tạo ấn tượng chắc chắn, vững chải:
Đường đường một đấng anh hào
Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài
Đội trời đạp đất ở đời
Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông.
Và:                               Vẩy vùng trong bấy nhiêu niên
Làm cho động địa kinh thiên đùng dung
Tả bánh xe Thuý Kiều miễn cưỡng ra về nhà Mã Giám Sinh, Nguyễn Du viết:                      
 Đoạn trường thay lúc phân kỳ   
                 Vó xe khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.
Câu thơ gồm rất nhiều thanh trắc.
Song khi miêu tả mùa xuân tươi đẹp, thướt tha thì nhà thơ lại có câu thơ gồm nhiều thanh bằng:  Lơ thơ tơ liễu buông mành.
Ngôn từ giàu hình ảnh và nhạc điệu
Nguyễn Du cũng rất linh hoạt trong phép đối. Tác giả sử dụng đối từ ngay trong câu thơ. Dưới ngòi bút của ông, thông qua biện pháp đối mà các từ ngữ trong câu thơ trở nên cân đối, hài hoà, uyển chuyển:
Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Mai cốt cách tuyết tinh thần...
Hay: Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm...
Ngoài các thủ pháp trên thì cách gieo vần và sử dụng vần cũng là một thủ pháp trong ngôn từ nghệ thuật của Nguyễn Du giúp cho câu thơ giàu hình ảnh và nhạc điệu. Có thể nói, không một truyện thơ nào dài mà lại được gieo vần rất chỉnh như Truyện Kiều của Nguyễn Du. Truyện Kiều hoàn toàn không có hiện tượng túng vần. Nguyễn Du dùng vần không phải chỉ để móc nối các câu thơ lại với nhau mà vần của ông có âm hưởng, có dư ba: 
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng...
Ngôn từ giàu hình ảnh và nhạc điệu
Như vậy, nếu nói đến ngôn ngữ trong thơ là chúng ta phải nói tới cả từ ngữ lẫn ngữ pháp, cách sử dụng từ ngữ và tổ chức các câu thơ...Trong khuôn khổ bài viết này, chúng ta chỉ đề cập tới đằc sắc ngôn từ nghệ thuật  trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, tức là cách dùng từ, ý nghĩa của các từ được dùng và dụng ý của tác giả...Có thể nói rằng, ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều là rất đặc sắc và có rất nhiều yếu tố tạo nên cái đặc sắc ấy mà chúng ta chưa khám phá. Tuy nhiên, chỉ với các lý do, chứng cứ mà chúng ta có trên đây cũng đủ để khẳng định rằng điều đó.
Nguyễn Du đã có sự sáng tạo, linh hoạt, sàng lọc và gọt dũa các ngôn từ của mình một cách công phu và mang lại hiệu quả cao. Ngôn từ của Nguyễn Du uyên thâm, sắc sảo, hàm súc và gần gũi...Tất cả đều chứng tỏ khả năng dùng từ và vốn từ phong phú của Nguyễn Du. Dưới bàn tay điêu luyện của Nguyễn Du, từ tiếng Việt trở nên đẹp hơn, óng ánh hơn và trong sáng hơn. Đặc sắc trong nghệ thuật dùng từ của Nguyễn Du là một trong những yếu tố quan trọng mang lại thành công rực rỡ cho Truyện Kiều trên phương diện thi pháp học. Và bởi thế, Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.
Nghệ thuật sử dụng ngôn từ
Nghệ thuật trong Truyện Kiều
1- Bút pháp tương trưng, ước lệ.
Đây là một loại bút pháp khá quen thuộc của văn học cổ Việt Nam được thể hiện rõ ở những nhân vật chính diện. Trong "Truyện Kiều" ngoại hình nhân vật là những qui phạm, những hình ảnh, chữ nghĩa có sẵn, tiêu biểu là trong
nghệ thuật miêu tả: Thuý Kiều, Thuý Vân, Kim Trọng, Từ Hải.
Trong đoạn trích "Chị em Thuý Kiều", trước khi miêu tả vẻ đẹp của từng người, Nguyễn Du đem đến cho chúng ta những cảm nhận chung về vẻ đẹp của hai chị em. Đúng là những trang tuyệt sắc giai nhân:
"Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười".
Bút pháp ở đây mang tính ước lệ, tượng trưng, tác giả mượn vẻ đẹp của tự nhiên để nói lên vẻ đẹp của con người, cả hai chị em đều có vóc dáng thanh tao, tâm hồn trong trắng như tuyết. Song mỗi người lại có một vẻ đẹp riêng và đều đạt đến độ hoàn mỹ "mười phân vẹn mười".
Miêu tả nhân vật qua ngoại hình
Ở đây Thuý Vân là:
"Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da."
Không chỉ tươi tắn trẻ trung mà còn kiều diễm. Nguyễn Du lấy thiên nhiên làm tiêu chuẩn cho sắc đẹp của con người. Ở đây, Thuý Vân được so sánh với trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc - những biểu tượng của thiên nhiên. Thuý Vân khuôn mặt tròn trịa, đầy đặn, sáng đẹp như trăng rằm, tiếng nói trong như ngọc, mái tóc mượt mà óng ả hơn mây, da trắng hơn tuyết. Đó là vẻ đẹp của một cô gái phúc hậu, đoan trang, một vẻ đẹp khiến thiên nhiên phải nhún nhường, phải chịu thua bức chân dung đẹp và có hồn, vừa bộc lộ tính cách, vừa dự báo số phận nhân vật: một tương lai êm đềm, hạnh phúc sẽ đến với Thuý Vân, chỉ có thể có được ở con người mắt nhìn người sâu sắc và nghệ thuật miêu tả bậc thầy của Nguyễn Du.
Chân dung Thuý Kiều nổi bật trên nền chân dung Thuý Vân:
"Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So về tài sắc lại là phần hơn.

Miêu tả nhân vật qua ngoại hình
Làn thu thuỷ nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh".
Thuý Vân đã được miêu tả như một cô gái đẹp hoàn hảo. Thuý Kiều vượt lên trên cái đẹp hoàn hảo ấy để trở thành một cái đẹp tuyệt đỉnh. Vẫn bằng bút pháp ước lệ, tượng trưng, khi tả Thuý Kiều, Nguyễn Du chuyển sang chấm phá theo kiểu "điểm nhãn", cốt nêu bật cái thần của vẻ đẹp Thuý Kiều, tập trung vào đôi mắt:
"Làn thu thuỷ nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh".
Đôi mắt Kiều được ví như " làn nước mùa thu", làn nước mùa thu vừa trong sáng, vừa long lanh, vừa dợn sóng, lại được ẩn dưới nét lông mày thanh tú, mềm mại như dẫy núi mùa xuân, càng thêm cái hài hoà kiều diễm. Quả là, Kiều có vẻ đẹp "sắc sảo mặn mà" nàng không chỉ là bậc mĩ nhân có thể khiến cho"thành nghiêng nước đổ " nàng còn có sự sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về tâm hồn. Nếu vẻ đẹp của Thuý Vân khiến cho thiên nhiên phải nhường nàng,
Miêu tả nhân vật qua ngoại hình
thì vẻ đẹp của Thuý Kiều làm cho hoa cũng phải "ghen", liễu cũng phải "hờn". Ca dao từng có câu:
"Một vừa hai phải ai ơi,
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen".
Nguyễn Du cũng linh cảm như vậy về số phận nàng Kiều và ông đã lồng sự linh cảm đó trong bút pháp tài hoa miêu tả nàng. Vẻ đẹp của nàng đã làm cho tạo hoá thiên nhiên phải ghen ghét đố kị nên số phận nàng sẽ có éo le, đau khổ, gian truân...
Miêu tả nhân vật qua ngoại hình
2- Bút pháp hiện thực.
Bút pháp này được sử dụng ở những nhân vật phản diện đó là những nét vẽ chân
thực, sinh động có tính cá thể, tạo nên những diện mạo đặc sắc: Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà...Mã Giám Sinh là một nhân vật tiêu biểu được chọn giảng trong chương trình sách giao khoa ngữ văn 9.
Ở đoạn trích "Mã Giám Sinh mua Kiều" chân dung của y hiện lên thật nực cười:
"Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao".
Câu thơ miêu tả khách quan mà vẫn không che dấu được cái ý ngầm mỉa mai bên trong. Cách phục sức dụng công cố làm ra vẻ phong lưu, lịch sự của tay con buôn đó phảng phất tính giả tạo và có phần trai lơ, đàng điếm. Miêu tả ngoại hình anh chàng họ Mã nhưng không thể xác định được chính xác về dung mạo như Kim Trọng, Từ Hải... tác giả chỉ chú trọng miêu tả phục sức bề ngoài già mà cố tô cho thành trẻ, là con buôn nhưng lại muốn mượn vẻ phong lưu của một công tử đi hỏi vợ. Những từ "nhẵn nhụi", "bảnh bao" vốn đã
Miêu tả nhân vật qua ngoại hình
không hàm ý đẹp lại có ở một kẻ ngoại tứ tuần, càng gợi một cái gì không lương thiện, có ý chế giễu, mỉa mai. Còn trong "Kim Vân Kiều truyện" Thanh Tâm Tài Nhân chỉ giới thiệu qua nhưng là một lời
miêu tả khá ưu đãi với Mã Giám Sinh: "Mụ Hàm nói xong đi ra, hồi lâu đưa mấy người đến, trong bọn có một người đẹp đẽ, bước tới chào và ngắm nghía Thuý Kiều mãi".
Miêu tả nhân vật qua ngoại hình
Miêu tả nhân vật qua cử chỉ hành động
So với thế giới nhân vật trong "Kim Vân Kiều truyện" hành động của các nhân vật trong "Truyện Kiều" chỉ được kể lại vắn tắt nhưng vẫn bộc lộ rõ bản chất từng nhân vật trong quá trình sáng tác Nguyễn Du đã lược bỏ những cử chỉ hành động không phù hợp với tính cách nhân vật đồng thời ông cũng sáng tạo thêm nhiều những chi tiết mới để soi sáng cho tính cách. Ở phần này, tôi lựa chọn một số nhân vật với những cử chỉ, hành động tiêu biểu để thể hiện tính cách.Mã Giám Sinh sau khi làm lễ “vấn danh” được mụ mối đưa vào “lầu trong" lúc này bản chất con người hắn mới dần dần được bộc lộ:
“Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,"
Chỉ bằng cử chỉ "ngồi tót" Nguyễn Du đã phơi bày chân tướng vô học bản chất con buôn của Mã Giám Sinh. Đó là một cử chỉ vội vàng và khiếm nhã, không phù hợp với địa vị người đi hỏi vợ và không đúng với phẩm cách văn hoá của một Giám Sinh.
Còn Kiều, vì tình yêu, vì khao khát hạnh phúc, được tâm sự với người yêu, nàng đã:
II. Miêu tả nhân vật qua cử chỉ hành động
"Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình".
Với cử chỉ "xăm xăm", "thoăn thoắt", Kiều và Kim Trọng đã bộc lộ rõ họ là những con người dám sống cho tình yêu, họ đã vượt ra khỏi lễ giáo phong kiến để hành động theo sự mách bảo của trái tim.
Tóm lại, những từ "tót", "lẻn", "lẩm nhẩm","xăm xăm", "thoăn thoắt", là những từ rất chính xác, rất đắt chỉ có ở Nguyễn Du, chứ không có ở "Kim Vân Kiều truyện". Nhờ thế nhân vật trong "Truyện Kiều" hiện lên cụ thể, sinh động hơn nhiều so với nhân vật của Thanh Tâm Tài Nhân.
Với Nguyễn Du, miêu tả nhân vật qua nội tâm, khám phá các trạng thái tâm lý của một con người đã trở thành một yếu tố đặc biệt quan trọng để xây dựng tính cách và đã có thành tựu rực rỡ.
Miêu tả nhân vật qua cử chỉ hành động
Ở đoạn "Mã Giám Sinh mua Kiều" trong cảnh mua bán Thuý Kiều là hiện thân của con người lương thiện bị chà đạp của tài sắc bị dập vùi thảm thương. Nguyễn Du càng căm ghét tên buôn người Mã Giám Sinh bao nhiêu thì càng cảm thương sâu sắc trước nỗi đau xót nhục nhã ê chề của cô gái tài hoa bấy nhiêu, Kiều là một trang quốc sắc thiên hương, vậy mà bị đem ra mua bán như món hàng ngoài chợ. Nguyễn Du kể mà như nhập vào nhân vật, cũng đau sót với nhân vật:
"Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng.
Ngại ngùng dín gió e sương,
Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt dầy.
Mối càng vén tóc bắt tay,
Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai".
Sáu dòng thơ mô tả nỗi uất ức, xót xa, tủi nhục của một trang tuyệt sắc giai nhân trước sự mua bán trơ trẽn của bọn buôn người. Từ đầu đến cuối, Kiều không hề nói một lời, chỉ có nỗi buồn hiện ra qua từng bước chân, nét mặt. Ở đoạn này trong "Kim Vân Kiều truyện" Thanh Tâm Tài Nhân để Thuý Kiều lên tiếng năm lần, trong đó có hai lần tham gia vào mặc cả như sau:
III- Miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ tự sự:
"Thuý Kiều nói:
- Bán mình mà không được việc thì bán để làm gì?
Người ấy nói:
- Thôi xin đưa bốn trăm lạng.
Thuý Kiều nói:
- Không phải năm trăm lạng là không được".
Rõ ràng sự câm lặng, những giọt nước mắt lặng lẽ của Thuý Kiều, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh và tâm trạng bi kịch, với tính cách của nàng.
Qua những đoạn thơ trên, Thuý Kiều hiện lên với tất cả trạng thái phức hợp: Có nỗi buồn tủi, xót xa, đau đớn, ê chề, hổ thẹn, nhớ nhung với những rung động rất đời, rất thực.
Như vậy, có thể nói với bút pháp miêu tả bậc thầy, Nguyễn Du đã xây dựng lên chân dung Thuý Kiều không chỉ tuyệt thế giai nhân mà còn có thế giới nội tâm phong phú, sinh động, khiến nàng trở nên gần gũi với đời thực hơn - điều này chỉ có ở Nguyễn Du chứ không thể có trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân - Trung Quốc.
III- Miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ tự sự:
IV- Miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại:
Ở đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" Nguyễn Du thành công khi sử dụng loại ngôn ngữ độc thoại nội tâm để khám phá chiều sâu tư tưởng, tình cảm con người, hiểu được tâm trạng nỗi niềm của Kiều khi ở lầu Ngưng Bích:
"Tưởng người dưới Nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rầy trông mai chờ".
Người đầu tiên xuất hiện trong nỗi nhớ của Kiều là chàng Kim, nàng tưởng nhớ hình ảnh hai người uống rượu thề nguyện dưới đêm trăng mới hôm nào, trước đó:
"Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song".
Và Kiều thấy thương Kim Trọng vẫn chưa biết Kiều đã không giữ trọn lời thề, vẫn đêm ngày trông chờ nàng một cách uổng công. Từ nhớ chàng Kim, nàng lại thấy thương mình:
"Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?"
.
IV- Miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại:
Nàng thấm thía với tình cảnh bơ vơ, trơ trọi của mình nơi "bên trời góc bể" và nuối tiếc mối tình đầu trong trắng, "tấm son" ở đây là tấm lòng chung thuỷ sắc son của Thuý Kiều đối với Kim Trọng. Bao giờ có thể quên được mối tình đó. Cũng có thể hiểu tấm lòng trong trắng của Thuý Kiều bị dập vùi, hoen ố, biết bao giờ mới có thể gột rửa được?
Như vậy, ta có thể thấy Kiều đã nhớ Kim Trọng với một tâm trạng đau đớn, xót xa, nàng quả là một người tình chung thuỷ.
Trong dòng suy nghĩ miên man, nàng hết nhớ người yêu lại nhớ đến cha mẹ:
"Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấm lạnh những ai đó giờ?
Sân lai cánh mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm".
Kiều đã hình dung ra cảnh tượng sớm hôm cha mẹ tựa cửa ngóng trông tin tức của nàng. Nàng lại day dứt không nguôi là giờ đây ai là người phụng dưỡng cha mẹ đang ngày một già yếu.
Chỉ bốn câu thơ độc thoại nội tâm, Nguyễn Du đã khắc hoạ được tấm lòng hiếu thảo của Thuý Kiều đối với cha mẹ.
Suốt quãng đời mười lăm năm đoạn trường lưu lạc, Nguyễn Du đã nhiều lần để Kiều độc thoại để từ đó bộc lộ chính mình.
Có lúc, nàng đau đớn, dằn vặt, xót xa sau những đêm bướm lả ong lơi và cuộc say đầy tháng:
"Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình mình lại thương mình xót xa".
Có khi nàng băn khoăn, trăn trở, hãi hùng về cuộc sống, về tương lai, về thân phận luôn ám ảnh day dứt nàng:
"Một mình lưỡng lự canh chày,
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh".
Có thể nói với những yếu tố ngôn ngữ độc thoại như trên, nàng Kiều hiện lên như một người trần tục với tất cả những tình cảm, suy nghĩ, lo toan rất thực, rất đời thường, nàng trở nên gần gũi với người đọc hơn. Đạt được điều đó phải chăng đó chính là trình độ bậc thầy của Nguyễn Du trong việc khám phá thế giới nội tâm con người, đặc biệt là những người phụ nữ.
IV- Miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại:
V- Khắc hoạ tính cách nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại.
Để nhân vật của mình được hiện lên đầy đủ, toàn diện, Nguyễn Du đã miêu tả họ với cái nhìn nhiều chiều, có khi là miêu tả ngoại hình, có khi miêu tả nội tâm, có khi lại thông qua ngôn ngữ đối thoại của họ để thấy được tính cách sống động của mỗi nhân vật.
Ở đoạn trích "Thuý Kiều báo ân, báo oán" ngôn ngữ đối thoại được thể hiện rõ ràng hơn cả. Có hai cuộc đối thoại: đối thoại giữa Kiều với Thúc Sinh và đối thoại giữa Kiều với Hoạn Thư và giữa Hoạn Thư với Kiều.
Kiều được Từ Hải - người anh hùng cứu ra khỏi lầu xanh, giúp nàng báo ân, trả oán. Đưa nàng từ thân phận của một kỹ nữ chốn lầu xanh nhơ bẩn lên thân phận của một mệnh phụ phu nhân, bước lên địa vị một quan toà cầm cán cân công lý. Trong phiên toà nàng cho gọi những người đã từng có ân, có oán với nàng đến.
Người đầu tiên được Kiều mời đến là Thúc Sinh, thấy hình ảnh tội nghiệp của Thúc Sinh nàng đã cất lên tiếng hàm ơn:
"Nàng rằng: Nghĩa nặng nghìn non,
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,
Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?".
Rõ ràng là Kiều vẫn rất nhớ tấm lòng và sự giúp đỡ mà Thúc Sinh đã giành cho nàng trong cơn hoạn nạn. Nàng gọi đó là "nghĩa nặng nghìn non". Nghĩa là nàng vẫn nhớ tới công ơn của Thúc Sinh đã đưa Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát khỏi cuộc đời ô nhục đem lại cuộc sống gia đình êm ấm.
V- Khắc hoạ tính cách nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại.
Đối thoại với Thúc Sinh, Kiều nói bằng một ngôn ngữ rất trang trọng: "nghĩa nặng nghìn non", "chẳng vẹn chữ tòng"...hầu hết là những từ Hán Việt, lại dùng cả điển cố... Cách nói đó phù hợp với chàng thư sinh họ Thúc và biểu lộ được tấm lòng biết ơn chân thành của Kiều.
Thuý Kiều cũng nói với Thúc Sinh rằng: Kẻ gây ra sự chia cách giữa hai người không phải do chàng mà là do vợ chàng. Nói với Thúc Sinh về Hoạn Thư, Kiều không sao nguôi được sự oán giận với những khổ đau mà Hoạn Thư đã gây ra cho nàng, vết thương đó còn đang quá xót xa trong lòng nàng, cho nên nàng không thể không cả giận:
"Vợ chàng quỷ quái tinh ma,
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau.
Kiến bò miệng chén chưa lâu,
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa".
Nếu nói với Thúc Sinh, Kiều nói bằng một ngôn ngữ trang trọng, thì nói về Hoạn Thư, Kiều lại nói bằng một ngôn ngữ hết sức nôm na bình dị, Kiều sử dụng những thành ngữ quen thuộc, đó là lời ăn tiếng nói của nhân dân.
V- Khắc hoạ tính cách nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại.
Qua ngôn ngữ đối thoại của Kiều với Thúc Sinh, ta thấy tính cách của nàng đã bộc lộ khá rõ ràng, nàng xử đúng người đúng tội, báo nhân đối với người đáng báo ân, đồng thời thấy được nàng là một người sống có tình có nghĩa, có trước có sau.
Sau khi trả ơn Thúc Sinh, bà quản gia nhà họ Hoạn và sư Giác Duyên, Thuý Kiều mới bước vào cuộc báo thù:
"Dưới cờ gươm tuốt nắp ra,
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư".
Thuý Kiều thoắt trông thấy Hoạn Thư đã cất tiếng chào mỉa mai: "Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!" Kiều dùng cách xưng hô như hồi còn làm hoa nô cho nhà họ Hoạn trong hoàn cảnh thứ bậc đã đổi ngôi.
Tiếp theo lời chào mỉa mai là những lời mắng nhiếc, xỉ vả:
"Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan!
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều".
V- Khắc hoạ tính cách nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại.
Với một kẻ như Hoạn Thư:
"Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Bề trong nham hiểm giết người không dao".
thì những lời mắng nhiếc xỉ vả ấy của Kiều là đích đáng lắm.Trước những lời nói mỉa mai, đay nghiến đó của Kiều, Hoạn Thư đã xử trí ra sao?
Lúc đầu, "Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu", nhưng sau đó "Hoạn Thư đã liệu điều kêu ca". Trước hết Hoạn Thư gỡ tội cho mình bằng cách dựa vào tâm lý thường tình của người phụ nữ:
"Rằng: tôi chút phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình".
Hoạn Thư nói rằng tội của tôi là tội ghen tuông, mà tội ấy thì ở người đàn bà nào mà chẳng có. Vậy là, đã đánh thức được ở Kiều lòng thông cảm với người cùng giới. Quả thực, ngay từ đầu Hoạn Thư đã tỏ ra thông minh giảo hoạt.
Tiếp theo, Hoạn Thư lại gợi chút "ân tình" ngày xưa: một là, đã cho Kiều xuống Quan Âm các "giữ chùa chép kinh", không bắt làm thị tì nữa; hai là, khi Kiều bỏ trốn mang theo chuông vàng khánh bạc, Hoạn Thư cũng không cho người đuổi bắt. Cách nói rất khéo chỉ gợi sự thật và chuyện cũ ra, chỉ người trong cuộc mới biết.
V- Khắc hoạ tính cách nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại.
"Nghĩ cho" là nhớ lại cho, suy nghĩ lại cho:
"Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo".
Đối với Kiều, Hoạn Thư đã từng nói với Thúc Sinh:
"Rằng: tài lên trọng mà tình lên thương".
Tuy "chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai", nhưng trong thâm tâm, Hoạn Thư rất "kính yêu" Thuý Kiều. Cuối cùng Hoạn Thư tự nhận tội của mình và xin Kiều rộng lòng tha thứ:
"Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?"
Lời gỡ tội của Hoạn Thư vừa có lí, vừa có tình. Lời cầu xin đúng mực, chân thành, Kiều đã phải thừa nhận cái thông minh, giảo hoạt của Hoạn Thư và ban một lời khen:
"Khen cho: thật đã nên rằng,
Khôn ngoan đến mức nói năng phải lời".
Không thể là người "nhỏ nhen" Kiều đã tha tội cho Hoạn Thư:
"Đã lòng tri quá thì nên,
Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay".
V- Khắc hoạ tính cách nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại.
Sự việc diễn ra quá bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Vốn là một người phụ nữ trung hậu, đã từng nếm trải bao cay đắng và ngang trái trong cuộc đời, vả lại Kiều cũng tự biết rằng mình đã xâm phạm đến hạnh phúc của người khác. Tha tội cho Hoạn Thư, Kiều tỏ ra vô cùng cao thượng.
Như vậy, với màn báo ân báo oán ta thấy hết được những sáng tạo của ngòi bút thiên tài Nguyễn Du. Cảnh pháp trường thời trung cổ được miêu tả ước lệ mà không kém phần uy nghiêm. Lời thoại rất gọn mà sắc đã làm nổi bật tâm lý, tính cách nhân vật Thúc Sinh lành mà nhát sợ; Hoạn Thư thì khôn ngoan, sắc sảo; Kiều rất trung hậu, cao thượng, bao dung.
Nguyễn Du đã sáng tạo lên những lời thoại biến hoá đã nói lên chuyện ân oán, cái lẽ đời xưa nay, ca ngợi sự thuỷ chung tình nghĩa, lên án bọn bạc ác tinh ma. Cảnh báo ân, báo oán là một tình tiết rất đậm làm nổi bật tinh thần nhân đạo của "Truyện Kiều".
I. Bút Pháp uớc lệ trong cảnh sắc
  1. Về bút pháp tả cảnh tuyệt diệu của Nguyễn Du qua việc miêu tả cảnh ở bốn mùa của Nguyễn Du:
- Mùa xuân là mùa của tình yêu, mùa của lễ hội, nó là cái mốc quan trọng trong câu chuyện tình trai tài gái sắc. Kim, Kiều gặp nhau, Kim Trọng trở lại vườn Thuý, hai bức hoạ này có gì khác nhau trong những nét vẽ và sắc màu?
- Trước hết là bức hoạ mùa xuân khi hai chị em Thuý Kiều du xuân. Đây là bức hoạ với những gam màu mát, đường nét mềm mại, đúng theo qui ước của hội hoạ “màu lạnh -lam, xanh …thường tạo cảm giác mát mẻ…đường lượn êm dịu tạo cảm giác yên bình ” [11,59]. Cảnh có sắc xanh của cỏ non trải dài như mở ra một không gian vô tận, có sắc trắng của bông hoa lê điểm xuyết, có sắc vàng dịu nhẹ c

Nguồn:trên mạng

 
 


Để tải về Bài 6. Truyện Kiều của Nguyễn Du Nghệ thuật trong Truyện Kiều
Bước 1:Tại trang tài liệu chi tiết nslide bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên nslide.com
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình

LINK DOWNLOAD

pptx.pngBai-6.-Truyen-Kieu-cua-Nguyen-Du-Nghe-thuat-trong-Truyen-Kieu.pptx[0.35 M]

File đã kiểm duyệt
     Báo vi phạm bản quyền
Pass giải nén (Nếu có):
nslide.com
DOWNLOAD
(Miễn phí)

giáo án tương tự

BÀI TIẾP THEO

BÀI MỚI ĐĂNG

BÀI HAY XEM NHIỀU