BaiThuHoach BDTX_Modul16-THPT

Đăng ngày 3/31/2017 2:31:10 PM | Thể loại: Giáo án khác | Chia sẽ bởi: Hiền Nguyễn Thị | Lần tải: 14 | Lần xem: 0 | Page: 1 | Kích thước: 0.02 M | Loại file: doc

 

SỞ GD &ĐT LÂM ĐỒNG.                               Céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam

TRƯỜNG THPT ĐỨC TRỌNG.                           §éc lËp - Tù do - H¹nh phóc

BÀI THU HOẠCH

TỰ BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN NĂM HỌC 2016 2017.

Họ và tên giáo viên: NGUYỄN DUY TÂN.

Tổ chuyên môn:  GDTC – GDQP&AN.

Mô đun tự bồi dưỡng: THPT 16

Nội dung:  HỒ SƠ DẠY HỌC

I.NỘI DUNG BDTX:

-Hiểu, mô tả và thực hiện được các biện pháp xây dựng môi trường học tập cho học sinh THPT. 

-Lĩnh hội và triển khai việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng xây dựng môi trường học tập cho học sinh THPT.

II.MỤC TIÊU CẦN ĐẠT ĐƯỢC:

1.GV mô tả được các loại Hồ sơ dạy học (theo quy định).

2.GV vận dụng các biện pháp để xây dựng các loại Hồ sơ dạy học.

3.GV tích cực vận dụng các biện pháp đầu tư xây dựng các loại Hồ sơ dạy học.

III.THỜI GIAN BỒI DƯỠNG:

 Từ 01/03/2016 đến 30/03/2017. Thời lượng (số tiết) thực hiện: 15 tiết

IV. HÌNH THỨC BỒI DƯỠNG:  Tự bồi dưỡng.

-Tự học tập và nghiên cứu qua mạng Internet địa chỉ http://taphuan.moet.edu.vn  mục modunle THPT 16.  

-  Thông qua việc trao đổi, chia sẻ trong các hoạt động  sinh hoạt chuyên môn - Thông qua việc dự giờ, rút kinh nghiệm của đồng nghiệp.

-  Thông qua các hình học tập khác (truyền thanh, truyền hình, báo chí…) 

V.BÀI HỌC RÚT RA SAU KHI TỰ BỒI DƯỠNG:    

*Về kiến thức:

 Hồ sơ dạy học là tập hợp các kế hoạch, sổ sách, tài liệu chuyên môn của môn học được chuẩn bị trước theo sự chỉ đạo của nhà trường và sự phân công của tổ chuyên môn giúp GV thực thi dạy học trong quá trình công tác để đạt được mục tiêu chất lượng dạy học dã đề ra.

Việc đổi mới phuơng pháp dạy học gắn liền với việc xây dựng & quản lí, bảo quản hồ sơ dạy các môn học ở các trường THCS đã được triển khai từ cách đây hàng chục năm. Tuy nhiên, đến nay, việc hướng dẫn sây dụng, quản lí sử dụng hồ sơ dạy học hầu như chưa có bước đổi mới nào đáng kể; thậm chí, một số GV và cán bộ quản lí chưa hiểu rõ và chưa xây dụng đuợc những tiêu chí của một bài học theo tinh thần đổi mới. Trước yêu cầu đổi mới giáo dục một cách căn bản và toàn diện buộc mọi GV phải tìm cách đổi mới xây dựng và quản lí hồ sơ dạy học. Chúng ta sẽ nghiên cứu đổi mới dần dần từng công đoạn một của việc xây dụng và quản lí hồ sơ dạy học các môn học (nắm bắt mục tiêu bài học; xây dựng kế hoạch bài học theo tinh thần mới; tổ chức cho HS hoạt động học tập...); tiến tới đổi mới hoàn toàn việc dạy và học các môn học ở cấp trung học.

1.                   Hồ sơ tổ chuyên môn (CM) là tập hợp các vàn bản chỉ đạo chuyên môn của các cấp, những tài liệu chuyên môn về chương trình, khung phân phối chương trình, các chuẩn kiến thức kỉ năng, mục tiêu của môn học; các kế hoạch phân công dạy học, sinh hoạt chuyên môn, dự giờ thăm lớp, đăng kí thi đua, đăng kí học tập nâng cao chuyên môn nghiệp vụ... Hồ sơ này do tổ trưởng chuyên môn chủ trì xây dựng.

2.                   Thông tin chung là các thông số cho biết sơ bộ tên môn học, cấp học, lớp học, phạm vi chuyên môn, GV dạy... Thông tin này do GV bộ môn xây dựng.

3.                   Sổ bồi dưỡng chuyên môn cá nhân (BDCMCN) là những tích lũy ghi chép và tự bồi dưỡng của GV trong các đợt tập huấn chuyên môn, sinh hoạt chuyên môn, hoặc tự bồi dưỡng về các lĩnh vục:

-     Nội dung chương trình, tài liệu, sách giáo khoa.

-                      Các phương pháp dạy học, kỉ thuật dạy học tích cực bộ môn.

-                      Các kĩ năng dạy tích hợp, lồng ghép các nội dung giáo dục.

-                      Các kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học bộ môn.

-                      Các kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học.

-                      Tự làm thiết bị dạy học.

-                      Kinh nghiệm dạy học phân hoá HS yếu kém.

-                      Kinh nghiệm bồi dưỡng Hs giỏi.

-                      Kế hoạch tự bồi dưỡng thường xuyên.

-                      Những kinh nghiệm về sư phạm, giáo dục khác.

Sổ này do GV ghi chép trong quá trình công tác nhiều năm.

4.                   Sổ dự giờ là văn bản ghi các đánh giá của GV về tiết dạy của đồng nghiệp theo các tiêu chí tiết dạy nhằm rút kinh nghiệm học hỏi trau dồi chuyên môn nghiệp vụ trong quá trình công tác. Sổ dự giờ do GV xây dựng và ghi chép khi dự giờ thăm lớp đồng nghiệp.

5.                   Sổ điểm cá nhân là văn bản ghi chép tóm tắt những đặc điểm của HS về bộ môn và các đánh giá kiểm tra thường xuyên và định kì trong quá trình HS theo học môn học.Sổ điểm cá nhân do GV bộ môn xây dựng và ghi chép thường xuyên.

6.                   Sổ mượn thiết bị dạy học là sổ ghi chép mượn phương tiện, thiết bị dạy học của GV với nhà trường thường xuyên trong quá trình công tác. sổ này do nhà trường xây dựng và quản lí.

7.                   Sổ báo giảng ghi kế hoạch lịch dạy học của GV bộ môn theo kế hoạch tuần, học kì và cả năm phù hợp với thời khóa biểu của nhà trường. Nôi dung ghi chi tiết cho từng tiết dạy: tên bài dạy, lớp dạy, thiết bị dạy học. Người phụ trách thiết bị dạy học của trường sẽ căn cứ vào sổ này để hỗ trợ cho GV chuẩn bị thiết bị dạy học. Sổ này do GV bộ môn xây dựng trước ít nhất 1 tuần trước thực hiện.

Quy trình xây dụng hồ sơ dạy học gồm các bước:

-                      Bước 1: Tổ chuyên môn thảo luận trao đổi về các văn bản chỉ đạo của các cấp, xây dụng kế hoạch tổ chuyên môn bao gồm: chương trình, sách giáo khoa, khung phân phối chương trình, chuẩn kiến thức kỉ năng của chương trình, khung ma trận đề kiểm tra, những vấn đề về sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học, những vấn đề về phương pháp dạy học, các kĩ thuật dạy học tích cực...

-                      Bước 2: Hoàn thiện các thông tin chung.

-                      Bước 3: Tìm hiểu và cập nhât sổ bồi dưỡng chuyên môn cá nhân: Khung phân phối chương trình, các chuẩn kiến thức kỉ năng, sử dụng thiết bị dạy học, sử dụng kỉ thuật dạy học tích cực...

-                      Bước 4: Tìm hiểu và cập nhật sổ dự giờ, sổ mượn thiết bị dạy học, xây dựng sổ điểm cá nhân.

-                      Bước 5: Xây dựng kế hoạch bài dạy. Dựa vào thời khoá biểu để xây dựng sổ báo giảng.

Quy trình ra đề kiềm tra theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong hồ sơ dạy học:

Do có những nội dung trong chuẩn kiến thức, kỉ năng còn đuợc mô tả một cách chung chung, khái quát nên để đánh giá được kết quả học tập của HS một cách khách quan, công bằng và khoa học thì việc soạn câu hỏi theo chuẩn kiến thức, kỉ năng có thể thực hiện theo quy trình sau:

-                      Bưóc 1: Phân loại các chuẩn kiến thức, kỉ năng theo cấp độ nhận thức (Nhận biết, thông hiểu, vận dụng).

-                      Bưóc 2: Xác định các thao tác, hoạt động tương ứng của HS theo chuẩn kiến thức, kĩ năng cần kiểm tra, đánh giá.

-                      Bưóc 3: Xác định một số dạng toán cơ bản và những sai lầm thường gặp của HS khi làm bài kiểm tra.

-                      Bưỏc 4: Xây dựng bảng trọng số của bộ câu hỏi.

-                      Bưóc 5: Biên soạn, thử nghiệm, phân tích, hoàn thiện bộ câu hỏi.

*                     Việc biên soạn đề kiểm tra cần thực hiện theo quy trình sau:

-                      Bước 1. Xác định mục đích của đề kiểm tra.

-                      Bước 2. Xác định hình thức đề kiểm tra.

- Bước 3. Thiết lập ma trận đề kiểm tra.

-                      Bước 4. Tổ hợp câu hỏi theo ma trận đề.

-                      Bước 5. Xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm.

-                      Bước 6. Xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra.

Ma trận đề là một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức, kĩ năng chính cần đánh giá, một chiều là các cấp độ nhận thức của HS theo các cấp độ: nhận biết, thông hiểu và vận dụng. Trong mỗi ô là chuẩn kiến thức kỉ năng chương trình cần đánh giá, tỉ lệ % sổ điểm, số lượng câu hỏi và tổng sổ điểm của các câu hỏi. Số lượng câu hỏi của từng ô phụ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi chuẩn cần đánh giá, lượng thời gian làm bài kiểm tra và trọng sổ điểm quy định cho tùng mạch kiến thức, từng cấp độ nhận thức.

Tìm hiểu việc sử dụng, bảo quản và bổ sung hồ sơ dạy học.

Sử dụng:

-                      Giáo án được GV xây dựng, cập nhật thường xuyên và sử dụng trong quá trình dạy, được nhà trường kiểm tra thường xuyên theo quy định.

-                      Sổ báo giảng được cập nhật trước ít nhất 1 tuần khi dạy, GV và viên chức thiết bị dạy học căn cứ để chuẩn bị các điều kiện bài dạy.

-                      Sổ mượn thiết bị dạy học cũng được cập nhật trước ít nhất 1 tuần khi dạy, GV và viên chức thiết bị dạy học căn cứ để chuẩn bị các điều kiện bài dạy.

-                      Sổ dự giờ được GV sử dụng và cập nhật thường xuyên theo quy định.

-                      Sổ bồi dưõng chuyên môn được GV ghi chép vầ cập nhật thường xuyên.

Tất các các sổ sách, kế hoạch trong hồ sơ dạy học được nhà trường kiểm tra thường xuyên và đột xuất.

*                     Bảo quản:

-                      GV có trách nhiệm cập nhật và bảo quản giáo án, sổ báo giảng, sổ dự giờ, sổ bồi dưỡng chuyên môn.

-                      Tổ trưởng chuyên môn bảo quản kế hoạch của tổ chuyên môn

-                      GV và viên chức thiết bị dạy học cập nhật và bảo quản sổ thiết bị dạy học

Tất cả các sổ sách, kế hoạch trong hồ sơ dạy học được GV và nhà trường bảo quản theo quy định.

*                     Bổ sung:

Tất cả các sổ sách, kế hoạch trong hồ sơ dạy học được GV cập nhật bổ sung theo quy định.

Tìm hiểu các năng lực cần thiết ở người giáo viên trung học cơ sở trong xây dựng và phát triển hồ sơ dạy học.

Trước yêu cầu xây dựng và phát triển hồ sơ dạy học ờ trường THCS, đòi hỏi người GV phẳi được bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức dạy học:

-                      GV phải biết tìm kiếm, nghiên cứu thông tin mới, tài liệu tham khảo, các tình huống ứng dụng trong thực tiễn để rèn luyện cho HS. Để bắt nhịp được với đổi mới của giáo dục phổ thông và sự phát triển của khoa học công nghệ, người GV phải tìm kiếm tài liệu tham khảo, nghiên cứu thông tin. Trong điều kiện thông tin bùng nổ, tài liệu nghiên cứu đa dạng, phong phú người GV phải có năng lực tìm kiếm lựa chọn tài liệu, nghiên cứu thu nhận, xử lí thông tin, mới đem lại kết quả. Mặt khác, để rèn luyện HS ứng dụng kiến thức vào thực tiễn, GV phải biết tìm kiếm các tình huống ứng dụng.

-                      GV phải được bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức thực hành, ngoại khoá, sử dụng các thiết bị dạy học. GV phải biết sắp xếp và xác định rõ mức độ cho các hoạt động thực hành, các hoạt động ngoại khoá, xác định những yêu cầu cụ thể và nội dung hoạt động tương ứng cùng các hướng dẫn cần thiết về tổ chức các hoạt động này. GV cũng phải có năng lực sử dụng các phương tiện dạy học nhất là phương tiện công nghệ thông tin để phát huy vai trò quan trọng của nó trong quá trình dạy học.

-                      GV phải có kĩ năng, kỉ thuật dạy học phù hợp yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Để thực hiện được phương pháp dạy học tích cực hoá hoạt động học tập của HS, GV cần phải có những kĩ năng, kỉ thuật dạy học phù hợp. Đó là những kĩ năng dạy học mới đã được giới thiệu nhưng chưa được phổ biến trong tất cả GV như: kĩ năng dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ, kĩ năng sử dụng phương tiện dạy học như một đối tượng giáo dục, kĩ năng sử dụng các phương tiện nghe nhìn phục vụ cho dạy học, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học, kĩ năng làm các bộ công cụ đánh giá kết quả học tập... Những kĩ năng dạy học GV đã có nhưng nay cần phải đổi mới như: kĩ năng tổ chức các hoạt động dạy học, kĩ năng lập kế hoạch bài học, kỉ thuật đặt câu hỏi, kĩ năng hướng dẫn thực hành, kĩ năng đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS, kĩ năng thiết lập các chiến lược dạy học...

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG XÂY DỰNG

VÀ SỬ DỤNG HỒ SƠ DẠY HỌC

Khi công nghệ thông tin (CNTT) tham gia vào quá trình dạy học sẽ làm môi trường dạy học thay đổi. Nó có tác động mạnh mẽ tới mọi thành tố của quá trình dạy học: thực hiện vai trò giảng dạy như một GV; cung cấp tài liệu học tập mới có tính tương tác, dễ mang, dễ cập nhật; cung cấp nguồn tài nguyên học tập phong phú, dễ truy cập, phân phối và có thể khai thác linh hoạt; cung cấp công cụ học tập mới có khả năng hợp tác với người sử dụng để giúp người sử dụng khai thác hết khả năng làm việc của họ; cung cấp kênh giao tiếp, truyền thông mới giữa GV và HS, giữa HS với HS, giữa HS với các đổi tượng khác; cung cấp công cụ kiểm tra, đánh giá mới khách quan và chính xác; cung cấp một hệ thống và công cụ quản lí dạy học mới...

Khi sử dụng các sản phẩm CNTT, GV có thể khai thác các ưu điểm về mặt kĩ thuật và tiềm năng về mặt sư phạm của CNTT để xây dựng, bổ sung thông tin và lưu trữ hồ sơ dạy học ở trường THCS.

Hoạt động 1. Tìm hiểu khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng, bổ sung thông tin và lưu trữ hồ sơ dạy học.

Khi ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng và sử dụng hồ sơ dạy học sẽ mang lại những tác động tích cực như sau:

- Cung cấp nguồn thông tin đủ dùng, phong phú:

Quá trình dạy học với các phương pháp, biện pháp không có đa phuơng tiện multimedia hỗ  trợ, luôn gặp phải khó khăn là GV và HS chỉ có số lượng tài liệu và thông tin rất hạn chế. Nội dung tài liệu được trình bày trên giấy do trờ ngại về kỉ thuật in ấn, giá cả, kích thước và trọng luợng của sách giáo khoa... nên tác giả của sách phải trình bầy hết sức cô đọng, không thể biên soạn cuốn sách có nội dung phong phú để đáp ứng nhu cầu của người đọc, không có nhiều tài liệu tham khảo, nhiều tranh ảnh minh hoạ...

Sản phẩmCNTT có thể tạo ra những tài liệu đa phương tiện chất lượng cao, dễ dàng lưu giữ và khai thác chúng, chất luợng tài liệu được cải thiện đáng kể. Do lưu trữ trên ổ cứng hoặc đĩa CD ROM, các tài liệu cho phép khai thác sử dựng nhiều lần mà không làm giảm chất lượng. Nghe tài liệu âm thanh vài chục lần thậm chí vài trăm lần với máy tính song chất lượng không hề thay đổi. Các ổ cứng cũng như CD ROM có thể lưu giữ các tài liệu âm thanh không hề khó khăn và tốn kém.

Với một chiếc máy tính cá nhân với ổ cứng dung lượng lớn hiện nay có thể chúa đựng một lượng thông tin khổng lồ. Với khả năng lưu trữ thông tin to lớn như vậy, HS ngoài các nội dung học trên lớp còn có thể tham khảo các tài liệu hỗ trợ phong phú đa dạng, các từ điển bách khoa toàn thư multimedia trên ổ cứng, trên đĩa CD ROM hoặc trên mạng Internet. Nhờ khả năng cung cấp tư liệu đặc biệt của hệ thống multimedia có thể cho phép GV và HS tổ chúc các hoạt động dạy học theo những phuơng thức mới chú động hơn, phong phú hơn và tích cực hơn. Hiện nay HS cám thấy rất ngại khi tra cứu tài liệu vì thiếu thời gian và thiếu nguồn tài liệu tra cứu. Nhưng với hồ sơ dạy học đã được multimedia hoá sẽ giúp HS khắc phục được khó khăn này. Máy tính với những phần mềm tin học đã giúp xử lí thông tin hết sửc nhanh chỏng, chỉ với một động tác kích chuột HS tìm thấy ngay thông tin mà minh mong muổn. Kể cả các thông tin còn nằm trên máy chủ nào đó trên thế giới thì thời gian truy cập cũng chỉ tính bằng phút thậm chí là mấy giây thôi. Truy cập thông tin dế dàng, nhanh chóng giúp HS phấn khởi, hào hứng, tiết kiệm thòi gian và hiệu suất học tập được nâng cao hơn.

- Giúp GV đổi mới phương pháp dạy học, đảnh giá kết quả học tập của HS:

Khi ứng dụng CNTT trong dạy học, HS được nhúng vào một môi trường học tập hết sửc mới mé, hấp dẫn, đa dạng và có tính hỗ trợ cao.

Môi trường này chưa hề có trong nhà trường truyền thống trước đây. Đó là các vi thế giới, các môi trường hoạt động tích cực mới mẻ như mạng internet, thư viện điện tử, bài giảng điện tử, lớp học ảo, trường học ảo... CNTT mờ ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học. Những xu hướng dạy học không truyền thổng như dạy học theo lí thuyết kiến tạo, theo quan điểm hoạt động, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề... càng có nhiều điều kiện để áp dụng rộng rãi và khai thác triệt để ưu điểm và khắc phục các hạn chế (về mặt thời gian, không gian và sự phân hoá của HS) đổi với mỗi phương pháp đó. Trong môi trường CNTT, các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy học theo nhóm, dạy học cá nhân cũng từ đó mà sẽ có đổi mới như: cá nhân tự học, tự nghiên cứu và lầm việc với máy vi tính, các cá nhân nghiên cứu, thảo luận và làm việc theo các nhóm linh hoạt các nhóm ảo. Xuất hiện việc dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mạng, dạy học từ xa, dạy học cá thể hoá, dạy học qua cầu truyền hình...

Đặc biệt với mạng internet, HS có thể tự tra cứu thông tin ở các thư viện điện tử, cập nhật các thông tin mới mé, trao đổi với các HS và GV ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới vào bất kì thời điểm nào đó. Đối với HS, thế giới tri thức được mở rộng hầu như vô hạn, họ không bị giới hạn bời nguồn tri thức (hầu như duy nhất) của GV trên lớp và sách giáo khoa hàng năm nữa. Điều đó mở ra khả năng phát triển năng lực tự học, tự tìm kiếm tri thức, làm việc độc lập của từng HS. Trong tình hình đó, người ta lo lắng vai trò của GV sẽ bị thủ tiêu hay giảm sút. Nhưng thực tế, vai trò của GV vẫn hết sức quan trọng và được phát huy hiệu quả hơn trong quá trình dạy học. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng tính chất của vai trò này đã thay đổi: GV không phải là nguồn tri thức duy nhất, chỉ thực hiện việc chuyển tải tri thức mà GV giữ vai trò hướng dẫn, chỉ đạo. Mối quan hệ giữa GV và HS trong bối cảnh mới cũng sẽ khác với trước đây. GV không phải là người ra lệnh cho HS phải học cái gì mà trờ thành người cố vấn, trợ giúp cho HS. GV đóng vai trò tổ chức, Điều khiển, thông qua việc tác động lên cả HS và môi trường CNTT. Trong điều kiện sử dụng các phương tiện dạy học truyền thống, một GV phải quan tâm tới vài chục HS thì dù có cố gắng đến đâu, việc đảm bảo nguyên tắc phân hoá trong dạy học vẫn hạn chế. Tất cả các chi tiết diễn biến của hoạt động học tập của mỗi HS khó được GV nắm bất được và xử lí kịp thời. Về lí luận, cần phải giúp từng HS làm việc theo đúng khả năng phù hợp năng lực về tri thức và các kĩ năng của mình, có nhịp độ làm việc phù hợp với cá nhân. Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được nếu có CNTT trợ giúp. Lúc này mọi HS đều có một “trợ giảng" riêng, có thể được trợ giúp tại thời điểm khó khăn bất kì, đúng lúc với liều lượng thích hợp. Mỗi HS đều có một phương án làm việc riêng, thực hiện nhiệm vụ phù hợp cá nhân HS đó (có thể giống nhưng cũng có thể khác tất cả các bạn khác), các nhiệm vụ này được phần mềm hoạch định phù hợp. Điều này còn tạo cơ hội học tập cho HS vùng xa xôi heo lánh, HS khuyết tật, góp phàn nâng cao tính nhân vàn cho nền giáo dục. Phần mềm được sử dựng ờ nhà cũng sẽ nối dài cánh tay và đảm bảo mối liên hệ ngươc của GV tới từng HS trong quá trình dạy học, khi làm bài tập trên máy vi tính, HS sẽ được kiểm soát, được giúp đỡ và đánh giá tại chỗ.

Trong một lớp học, HS có trình độ khác nhau. Đây là một khó khăn đối với các GV khi giảng dạy theo phương pháp truyền thống, với hệ thống thiết bị dạy học đa phương tiện Multimedia cho phép khắc phục được khó khăn này. Khi HS mắc nhiều lỗi trong khi làm bài tập, máy vi tính sẽ khuyến cáo và đưa ra cho HS những bài tập có cùng nội dung nhưng múc độ dễ hơn. Khi làm việc độc lập với máy tính HS có thể tự chọn cho mình một nhịp độ làm việc thích ứng riêng. Trong nhiều phần mềm dạy học có sự tương tác của HS với máy tính người ta còn đưa vào đồng hồ đếm thời gian cho phép HS theo dõi được tổc độ làm bài hoặc để khống chế thời gian làm bài. HS có thể tự định lượng được tiến bộ của mình trong học tập.

Khi sử dụng hệ thống thiết bị dạy học đa phương tiện Multimedia, các chuyên gia giáo dục và tin học đã hợp tác thiết kế các phần mềm dạy học nhằm giúp cho HS có thể làm việc độc lập và tự học. với khả năng lường

trước được những khó khăn HS gặp phải khi tiến hành các hoạt động lĩnh hội kiến thức và luyện tập kĩ năng, các phần mềm đã đưa ra những lời giải thích, chỉ ra các nguyên nhân mắc lỗi, đưa vào các nội dung hỗ trợ lí thuyết, các bài tập bổ trợ... Quá trình học tập của HS không còn bị lệ thuộc hoàn toàn vào nội dung bài giảng của GV như trong các phuơng pháp truyền thổng (giảng dạy mặt đối mặt).

Nhờ việc tổ chức hệ thống dữ liệu dễ dàng truy cập, quy trình học tập không nhất thiết phải được tiến hành theo một trình tự nhất định. Máy vi tính cho phép HS thực hiện dế dàng các hoạt động luyện tập. HS có thể sử dụng phuơng pháp quy nạp hoặc diễn dịch...

- Tạo ra nhiều hoạt động học tập hấp dẫn tạo và duy trì sự hứng thú học tập của HS:

Trong ổ cứng của máy tính, CD ROM là dữ liệu, cung cấp cho HS các tài liệu học tập hấp dẫn về nội dung vàn bản, hình ảnh động, tĩnh, âm thanh, các đoạn video dip... mà các tài liệu học tập thông thường khác không thể có được. Nhiều hoạt động học tập đã được thiết kế thành các phần mềm trò chơi học tập. Mỗi khi hoàn thành các bài tập, HS có thể nhận được từ máy những nhận xét chính xác, những lời khen khi đạt được kết quả tốt và những lời chỉ dẫn khi kết quả chưa đạt yêu cầu... HS không cảm thấy mệt mới, bất buộc mà cảm thấy hứng thú thực hiện các trò chơi học tập, hứng thú học tập.

Trong quá trình học tập, tuỳ theo hoàn cảnh, điều kiện vốn kiến thức của từng Hs có khác nhau, mỗi Hs cần có những yêu cầu trợ giúp khác nhau. Khi thiết kế phần mềm, các nhà thiết kế đã đưa vào nhiều chương trình trợ giúp HS vượt qua khó khăn khi gặp phải trong quá trình học tập. Mỗi khi HS gặp phải khó khăn có thể dễ dàng yêu cầu máy đua ra các chương trình trợ giúp. HS có thể nạp dữ liệu vào máy tính, thay đổi dữ liệu và được kết quả mới.

Do xuất hiện máy tính vạn năng, xuất hiện các sách giáo khoa điện tử vì vậy các bảng tra cứu, sổ tay toán học, bàn tính gảy, thước tính... sẽ được xem xét lại (về khả năng tồn tại hoặc khả năng sử dụng trong các tình huổng sư phạm hạn chế nào đó). Để nâng cao chất lượng dạy học, cần hiểu rằng chỉ riêng máy vi tính thì không đủ mà cần tàng cường nghiên cứu tạo ra môi trường đa phương tiện gồm có máy tính, video, máy chiếu, mạng internet, website giáo dục...

Trong một lớp học, chứng ta thường gặp một sổ HS luôn có tâm lí rụt nè, tự ti ít khi dám phát biểu suy nghĩ của mình trước lớp. Những HS này' thường có kết quả học tập thấp hơn các HS khác. Các HS này thường có tâm lí sợ mắc lỗi trước mọi người. Tự các em vẫn có thể làm việc và tương tác với máy tính cả khi không có GV. Làm việc độc lập với máy tính sẽ dần dần giúp các HS này khắc phục được tâm lí tự ti, rụt rè trong học tập. Việc sử dụng CNTT ngay khi ngồi trên ghế nhà trường đã trục tiếp góp phần hình thành và phát triển kỉ nàng sử dụng thành thạo máy vi tính và làm việc trong môi trường CNTT cho HS phổ thông. Đây là những kĩ năng không thể thiếu của người lao động trong thòi đại phát triển của CNTT. Sử dụng CNTT trong quá trình thu thập và xử lí thông tin đã giúp hình thành và phát triển cho HS cách giải quyết vấn đề hoàn toàn mới, đưa ra các quyết định trên cơ sờ kết quả xử lí thông tin. Cách học này tránh được kiểu học vẹt, họ đối phó, máy móc, nhồi nhét thụ động trước đây, nó đòi hỏi sự độc lập, tự giác và nghiêm túc của HS trong học tập. Trong quá trình học tập với sự trợ giúp của CNTT, HS có điều kiện phát triển năng lực làm việc với cường độ cao một cách khoa học, đúc tính cần cù, chịu khó, khả năng độc lập, sáng tạo, tự chú và kỉ luật cao. Việc tự đánh giá, kiểm tra kiến thức bản thân bằng các phần mềm trên máy vi tính cũng giúp HS rèn luyện đức tính trung thục, cẩn thận, chính xác và kiên trì, khả năng quyết đoán.

*Sau vận dụng, rút kinh nghiệm từ thực tiễn:

Để đảm bảo có sự thông tin liên lạc kịp thời đến GV, có thể sử dụng địa chỉ mail, hệ thống trang web của trường nhằm thông báo cũng như tiếp nhận những giáo án, thống kê, những ý kiến của GV liên quan đến công tác giảng dạy. Để quản lí hồ sơ của HS cũng như đảm bảo thông tin liên lạc với cha me HS, có thể dùng một số trang Web như http://www.wikis.com, http://www.nicenet.com... Đây là những trang web cho phép người dùng đăng tải tất cả những hoạt động liên quan đến HS như điểm số, thông báo của trường, của lớp, hạnh kiểm học tập của từng em. cho phép phụ huynh HS, GV chia se thông tin, cộng tác một cách có hiệu quả. Trang web còn cho phép lưu trữ hình ảnh của lớp, cho phép người xem có thể bình luận góp ý, chia sẽ những tài liệu, thông tin giữa các thành viên và còn nhiều tính năng hữu ích. Cũng có thể tạo một lớp học ảo cho GV trên mạng internet với sự hỗ trợ của trang Web http://www.nicenet.com, http://wwwjTarspil.com... và đưa nhiều chủ đề cho thành viên của lớp học bình luận, tham gia trao đổi, chia sẽ ý kiến. Ngoài ra, các thành viên của lớp học có thể đưa lên giáo án, tài liệu, sách báo tạo thành một nguồn tài nguyên phong phú phục vụ cho công tác giảng dạy. Thực hiện gửi và trao đổi thư từ, thông tin giữa các thành viên trong lớp. Đối với Google.docs có thể tạo, chia sẽ, lưu giữ, xuất bản các tài liệu, các bảng tính trực tuyến, có thể tạo hay tải tập tin mà bạn muổn. Tập tin được lưu trữ trên máy chú của Google, bạn có thể chỉnh sửa, chia sẽ và xuất bản khắp nơi...

 

VI.TỰ ĐÁNH GIÁ: Bản thân tiếp thu và vận dụng vào thực tiễn công tác được  75% so với yêu cầu kế hoạch đặt ra khi tự bồi dưỡng Modul 16.

VII.NGUỒN MINH CHỨNG:

1.Kế hoạch chuyên môn cá nhân, năm học 2016-2017.

2.Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cá nhân, năm học 2016-2017.

3.Kế hoạch thi đấu đá cầu (HKPĐ cấp trường 2016-2017).

 

Đánh giá của tổ chuyên môn:      Người viết bài thu hoạch

 

 

                            Nguyễn Duy Tân.

Bài thu hoạch BDTX MODUL 16.                                     GV: NGUYỄN DUY TÂN.

Đây là bản xem thử online, xin hãy chọn download miễn phí bên dưới để xem bản đẹp dạng .doc

giáo án BaiThuHoach BDTX_Modul16-THPT, Giáo án khác. . Chúng tôi trân trọng giới thiệu tới mọi người giáo án BaiThuHoach BDTX_Modul16-THPT .Để chia sẽ thêm cho các bạn nguồn thư viện tham khảo giúp đỡ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học, trân trọng kính mời đọc giả đang tìm cùng tham khảo , giáo án BaiThuHoach BDTX_Modul16-THPT thuộc chủ đề Giáo án khác được chia sẽ bởi user Hiền Nguyễn Thị đến bạn đọc nhằm mục đích học tập , thư viện này đã chia sẽ vào mục Giáo án khác , có 1 trang, thuộc thể loại .doc, cùng chuyên mục còn có Giáo án Thể dục Khác (Thể dục) ,bạn có thể download miễn phí , hãy chia sẽ cho cộng đồng cùng nghiên cứu SỞ GD &ĐT LÂM ĐỒNG, tiếp theo là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam TRƯỜNG THPT ĐỨC TRỌNG, ngoài ra Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BÀI THU HOẠCH TỰ BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN NĂM HỌC 2016 – 2017, nói thêm Họ và tên giáo viên: NGUYỄN DUY TÂN, cho biết thêm Tổ chuyên môn: GDTC – GDQP&AN, bên cạnh đó Mô đun tự bồi dưỡng: THPT 16 Nội dung: HỒ SƠ DẠY HỌC I,còn cho biết thêm NỘI DUNG BDTX: -Hiểu, diễn tả và thực hiện được những giải pháp xây dựng môi trường học tập cho học sinh THPT, ngoài ra -Lĩnh hội và triển khai việc đổi mới phương pháp dạy https://nslide.com/giao-an/baithuhoach-bdtxmodul16-thpt.gv1s0q.html