Trường THPT Hàm Tân                               Giáo án Ngữ văn 12 HKII (2019 – 2020)

Tuần: 19

Tiết: 55 – 56

Phân môn: Đọc văn

 

VỢ CHỒNG A PHỦ (Trích)

Tô Hoài

 

I. Mục tiêu cần đạt

1. Kiến thức

Giúp học sinh hiểu được:   

- Cuộc sống cực nhọc, tăm tối và quá trình đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc vùng lên tự giải phóng khỏi cách áp bức, kìm kẹp của bọn chúa đất thống trị cấu kết với thực dân.

2. Kĩ năng

- Học sinh thấy được:

+ Giá trị nhân đạo của tác phẩm trong việc khẳng định sức sống tiềm tàng của con người lao động.

+ Những đóng góp của nhà văn trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật, sự tinh tế trong việc diễn tả cuộc sống nội tâm, sở trường quan sát, miêu tả những nét riêng về phong tục, tập quán và lối sông của người H'mông, nghệ thuật trần thuật linh hoạt, lời văn tinh tế mang màu sắc dân tộc và giàu chất thơ.     

3. Thái độ

- Học sinh có thái độ yêu mến và tìm đọc văn xuôi kháng chiến.

-  Khơi dậy, phát huy tình yêu thương quê hương đất nước.

II. Phương tiện dạy học

- SGK, SGV Ngữ Văn 12 tập 2, Hướng dẫn dạy học Ngữ Văn 12 tập 2, Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 12, Chuyên đề dạy – học Ngữ Văn 12 Vợ chồng A Phủ, ....

III. Tiến trình dạy học

1. Ổn định lớp

2. Kiểm tra bài cũ: không kiểm tra.

3. Vào bài mới

Tô Hoài (1920) là một trong những nhà văn lão thành hiếm hoi của văn đàn Việt Nam hiện nay, người đã sống qua 4/5 thế kỉ XX và hiện nay, dù đã ngấp nghé tuổi 90, vẫn sống khỏe vui, viết đều. Ngoài Dế Mèn phiêu lưu kí, tác phẩm nổi tiếng của Tô Hoài, trong đó có truyện ngắn xuất sắc của ông: Vợ chồng A Phủ, rút từ tập truyện Tây Bắc (1953).

Tiết học này, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu một đoạn trích trong truyện Vợ chồng A Phủ.

4. Nội dung bài mới

 

Hoạt động của giáo viên và học sinh

Nội dung cần đạt

- Dựa vào phần tiểu dẫn trong SGK, em hãy cho biết đôi nét về tác giả Tô Hoài.

Học sinh trả lời. GV nhận xét.

Tô Hoài chỉ học hết tiểu học (ở trường tiểu học Yên Phụ). Từ năm 1936 đến

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

- Tên khai sinh: Nguyễn Sen.

- Sinh năm: 1920.

- Quê nội ở Thanh Oai- Hà Đông.

1

Lớp 12A5                                                                                               Phạm Thanh Trí


Trường THPT Hàm Tân                               Giáo án Ngữ văn 12 HKII (2019 – 2020)

Tuần: 19

Tiết: 55 – 56

Phân môn: Đọc văn

 

VỢ CHỒNG A PHỦ (Trích)

Tô Hoài

 

I. Mục tiêu cần đạt

1. Kiến thức

Giúp học sinh hiểu được:   

- Cuộc sống cực nhọc, tăm tối và quá trình đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc vùng lên tự giải phóng khỏi cách áp bức, kìm kẹp của bọn chúa đất thống trị cấu kết với thực dân.

2. Kĩ năng

- Học sinh thấy được:

+ Giá trị nhân đạo của tác phẩm trong việc khẳng định sức sống tiềm tàng của con người lao động.

+ Những đóng góp của nhà văn trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật, sự tinh tế trong việc diễn tả cuộc sống nội tâm, sở trường quan sát, miêu tả những nét riêng về phong tục, tập quán và lối sông của người H'mông, nghệ thuật trần thuật linh hoạt, lời văn tinh tế mang màu sắc dân tộc và giàu chất thơ.     

3. Thái độ

- Học sinh có thái độ yêu mến và tìm đọc văn xuôi kháng chiến.

-  Khơi dậy, phát huy tình yêu thương quê hương đất nước.

II. Phương tiện dạy học

- SGK, SGV Ngữ Văn 12 tập 2, Hướng dẫn dạy học Ngữ Văn 12 tập 2, Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 12, Chuyên đề dạy – học Ngữ Văn 12 Vợ chồng A Phủ, ....

III. Tiến trình dạy học

1. Ổn định lớp

2. Kiểm tra bài cũ: không kiểm tra.

3. Vào bài mới

Tô Hoài (1920) là một trong những nhà văn lão thành hiếm hoi của văn đàn Việt Nam hiện nay, người đã sống qua 4/5 thế kỉ XX và hiện nay, dù đã ngấp nghé tuổi 90, vẫn sống khỏe vui, viết đều. Ngoài Dế Mèn phiêu lưu kí, tác phẩm nổi tiếng của Tô Hoài, trong đó có truyện ngắn xuất sắc của ông: Vợ chồng A Phủ, rút từ tập truyện Tây Bắc (1953).

Tiết học này, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu một đoạn trích trong truyện Vợ chồng A Phủ.

4. Nội dung bài mới

 

Hoạt động của giáo viên và học sinh

Nội dung cần đạt

- Dựa vào phần tiểu dẫn trong SGK, em hãy cho biết đôi nét về tác giả Tô Hoài.

Học sinh trả lời. GV nhận xét.

Tô Hoài chỉ học hết tiểu học (ở trường tiểu học Yên Phụ). Từ năm 1936 đến

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

- Tên khai sinh: Nguyễn Sen.

- Sinh năm: 1920.

- Quê nội ở Thanh Oai- Hà Đông.

1

Lớp 12A5                                                                                               Phạm Thanh Trí


Trường THPT Hàm Tân                               Giáo án Ngữ văn 12 HKII (2019 – 2020)

Tuần: 19

Tiết: 55 – 56

Phân môn: Đọc văn

 

VỢ CHỒNG A PHỦ (Trích)

Tô Hoài

 

I. Mục tiêu cần đạt

1. Kiến thức

Giúp học sinh hiểu được:   

- Cuộc sống cực nhọc, tăm tối và quá trình đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc vùng lên tự giải phóng khỏi cách áp bức, kìm kẹp của bọn chúa đất thống trị cấu kết với thực dân.

2. Kĩ năng

- Học sinh thấy được:

+ Giá trị nhân đạo của tác phẩm trong việc khẳng định sức sống tiềm tàng của con người lao động.

+ Những đóng góp của nhà văn trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật, sự tinh tế trong việc diễn tả cuộc sống nội tâm, sở trường quan sát, miêu tả những nét riêng về phong tục, tập quán và lối sông của người H'mông, nghệ thuật trần thuật linh hoạt, lời văn tinh tế mang màu sắc dân tộc và giàu chất thơ.     

3. Thái độ

- Học sinh có thái độ yêu mến và tìm đọc văn xuôi kháng chiến.

-  Khơi dậy, phát huy tình yêu thương quê hương đất nước.

II. Phương tiện dạy học

- SGK, SGV Ngữ Văn 12 tập 2, Hướng dẫn dạy học Ngữ Văn 12 tập 2, Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 12, Chuyên đề dạy – học Ngữ Văn 12 Vợ chồng A Phủ, ....

III. Tiến trình dạy học

1. Ổn định lớp

2. Kiểm tra bài cũ: không kiểm tra.

3. Vào bài mới

Tô Hoài (1920) là một trong những nhà văn lão thành hiếm hoi của văn đàn Việt Nam hiện nay, người đã sống qua 4/5 thế kỉ XX và hiện nay, dù đã ngấp nghé tuổi 90, vẫn sống khỏe vui, viết đều. Ngoài Dế Mèn phiêu lưu kí, tác phẩm nổi tiếng của Tô Hoài, trong đó có truyện ngắn xuất sắc của ông: Vợ chồng A Phủ, rút từ tập truyện Tây Bắc (1953).

Tiết học này, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu một đoạn trích trong truyện Vợ chồng A Phủ.

4. Nội dung bài mới

 

Hoạt động của giáo viên và học sinh

Nội dung cần đạt

- Dựa vào phần tiểu dẫn trong SGK, em hãy cho biết đôi nét về tác giả Tô Hoài.

Học sinh trả lời. GV nhận xét.

Tô Hoài chỉ học hết tiểu học (ở trường tiểu học Yên Phụ). Từ năm 1936 đến

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

- Tên khai sinh: Nguyễn Sen.

- Sinh năm: 1920.

- Quê nội ở Thanh Oai- Hà Đông.

1

Lớp 12A5                                                                                               Phạm Thanh Trí


Trường THPT Hàm Tân                               Giáo án Ngữ văn 12 HKII (2019 – 2020)

Tuần: 19

Tiết: 55 – 56

Phân môn: Đọc văn

 

VỢ CHỒNG A PHỦ (Trích)

Tô Hoài

 

I. Mục tiêu cần đạt

1. Kiến thức

Giúp học sinh hiểu được:   

- Cuộc sống cực nhọc, tăm tối và quá trình đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc vùng lên tự giải phóng khỏi cách áp bức, kìm kẹp của bọn chúa đất thống trị cấu kết với thực dân.

2. Kĩ năng

- Học sinh thấy được:

+ Giá trị nhân đạo của tác phẩm trong việc khẳng định sức sống tiềm tàng của con người lao động.

+ Những đóng góp của nhà văn trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật, sự tinh tế trong việc diễn tả cuộc sống nội tâm, sở trường quan sát, miêu tả những nét riêng về phong tục, tập quán và lối sông của người H'mông, nghệ thuật trần thuật linh hoạt, lời văn tinh tế mang màu sắc dân tộc và giàu chất thơ.     

3. Thái độ

- Học sinh có thái độ yêu mến và tìm đọc văn xuôi kháng chiến.

-  Khơi dậy, phát huy tình yêu thương quê hương đất nước.

II. Phương tiện dạy học

- SGK, SGV Ngữ Văn 12 tập 2, Hướng dẫn dạy học Ngữ Văn 12 tập 2, Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 12, Chuyên đề dạy – học Ngữ Văn 12 Vợ chồng A Phủ, ....

III. Tiến trình dạy học

1. Ổn định lớp

2. Kiểm tra bài cũ: không kiểm tra.

3. Vào bài mới

Tô Hoài (1920) là một trong những nhà văn lão thành hiếm hoi của văn đàn Việt Nam hiện nay, người đã sống qua 4/5 thế kỉ XX và hiện nay, dù đã ngấp nghé tuổi 90, vẫn sống khỏe vui, viết đều. Ngoài Dế Mèn phiêu lưu kí, tác phẩm nổi tiếng của Tô Hoài, trong đó có truyện ngắn xuất sắc của ông: Vợ chồng A Phủ, rút từ tập truyện Tây Bắc (1953).

Tiết học này, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu một đoạn trích trong truyện Vợ chồng A Phủ.

4. Nội dung bài mới

 

Hoạt động của giáo viên và học sinh

Nội dung cần đạt

- Dựa vào phần tiểu dẫn trong SGK, em hãy cho biết đôi nét về tác giả Tô Hoài.

Học sinh trả lời. GV nhận xét.

Tô Hoài chỉ học hết tiểu học (ở trường tiểu học Yên Phụ). Từ năm 1936 đến

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

- Tên khai sinh: Nguyễn Sen.

- Sinh năm: 1920.

- Quê nội ở Thanh Oai- Hà Đông.

1

Lớp 12A5                                                                                               Phạm Thanh Trí


Trường THPT Hàm Tân                               Giáo án Ngữ văn 12 HKII (2019 – 2020)

1940 phải làm nhiều nghề để kiếm sống như bán hàng giày Bata, phụ kế toán hiệu buôn,.. Năm 1941 ông chuyển sang viết văn. Ông  viết báo với các bút danh: Mắt Biển, Mai Trang, Duy Phương, Hồng Hoa.

Từ năm 1987 đến 1942, ông tham gia hoạt động phong trào cách mạng thời kì Mặt trận bình dân: Thư kí ái hữu thợ dệt Hà Đông, Thanh niên phản đế, dạy học truyền bá quốc ngữ. Năm 1943, Tô Hoài gia nhập tổ chức Văn hóa cứu quốc do Đảng cộng sản thành lập. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Tô Hoài làm báo (Cứu quốc Việt Bắc). Năm 1957, khi Hội nhà văn được thành lập, ông làm Tổng thư kí, rồi làm Phó Tổng thư kí trong nhiều năm. Tô Hoài còn là chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội (1986 – 1996). Hiện nay, ông là Chủ tịch danh dự Hội Nhà văn Hà Nội.

Trước cách mạng tháng tám 1945, Tô Hoài đã viết nhiều, với hai đề tài chính: truyện các loài vật và truyện về cuộc sống của những người dân nghèo, thợ thủ công ở vùng quê ngoại thành Hà Nội – hiện tại và lịch sử. Tác phẩm tiêu chính: Dế mèn phiêu lưu kí (đồng thoại, 1941), Quê người (tiểu thuyết, 1941), O chuột (tập  truyện về loài vật, 1942), Nhà nghèo (tập truyện ngắn, 1944), Xóm giếng ngày xưa (tiểu thuyết, 1943),...

1952 trong chuyến đi thực tế 8 tháng về TB, Tô Hoài đã sáng tác “Truyện Tây Bắc” phản ánh cuộc sống tủi nhục của đồng bào miền núi TB dưới ách áp bức bóc lột của thực dân và sự giác ngộ cách mạng của họ.

+ Tp có ba truyện: “Cứu đất cứu mường”, “Mường Giơn”, “Vợ chồng A Phủ”.

+ Tp thể hiện nhận thức, khám phá hiện thực kháng chiến ở địa bàn vùng cao TB và thể hiện tái năng ng.thuật của TH.

+ Tác phẩm đã đoạt giải nhất về truyện và kí của Hội văn nghệ Việt Nam (1954-1955).

“Vợ chồng A Phủ” viết về hai chặng

- Viết văn từ trước Cách mạng - sáng tác với nhiều thể loại. Số lượng tác phẩm đạt kỷ lục trong nền văn học Việt Nam hiện đại.

- 1996: Được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.

- Một số tác phẩm tiêu biểu: Dế Mèn phiêu lưu ký (1941), Ochuột (1942), Truyện Tây Bắc (1953)…

 

1

Lớp 12A5                                                                                               Phạm Thanh Trí


Trường THPT Hàm Tân                               Giáo án Ngữ văn 12 HKII (2019 – 2020)

đường đời của Mị và A Phủ. Giai đoạn đầu: ở Hồng Ngài trong nhà thống lí Pá Tra, giai đoạn hai: ở Phiềng Sa – hai vợ chồng gặp gỡ cách mạng rồi trở thành du kích.

 

- Em  hãy cho biết xuất xứ và hoàn cảnh ra đời của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ?

Học sinh trả lời. Gv nhận xét.

 

2. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ

a. Xuất xứ

- In trong tập "Truyện Tây Bắc"- Giải nhất Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955.

b. Hoàn cảnh sáng tác

- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là kết quả của chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc (1952). Chuyến đi đã giúp nhà văn hiểu sâu sắc và có tình cảm thắm thiết với con người và cảnh vật Tây Bắc.

- Gọi học sinh đọc đoạn trích.

Học sinh đọc.

- Yêu cầu học sinh tóm tắt đoạn trích.

Học sinh tóm tắt. Gv nhận xét, tóm tắt lại cho học sinh nghe.

 

II. Đọc – hiểu văn bản

1. Tóm tắt

Mị là một cô gái xinh đẹp, yêu đời, có khát vọng tự do, hạnh phúc nhưng bị A Sử cướp về làm vợ, làm con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra.

Lúc đầu Mị phản kháng nhưng lâu dần nên tê liệt, cô sống âm thầm, nhẫn nhục như một cái xác không hồn: lạnh lùng, vô cảm với cuộc sống xung quanh.

Tuy nhiên, ở Mị vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt, vẫn khao khát tình yêu, hạnh phúc và cuộc sống tự do.

Vào đêm tình mùa xuân, Mị muốn đi chơi nhưng bị A Sử trói đứng vào cột nhà. A Sử đi chơi tết, cậy thế con quan mà phá cuộc chơi, bị A Phủ đánh. A Phủ bị bắt, bị phạt vạ và trở thành kẻ ở trừ nợ cho nhà thống lí Pá Tra.

Vì không may để hổ bắt mất một con bò nên A Phủ bị trói đứng vào cột.

Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ và cả hai bỏ trốn khỏi làng Hồng Ngài.

- Yêu cầu học sinh xem kĩ đoạn đầu, từ đầu -> A sử đi chơi bị đánh vỡ đầu.

Học sinh xem kĩ, gạch dưới những từ ngữ quan trọng.

- Chân dung Mị được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về cách giới thiệu nhân vật của tác giả?

Học sinh trả lời. GV nhận xét.

2. Mị- con dâu gạt nợ nhà Pá Tra

 

 

 

* Chân dung

- Cô gái ngồi quay sợi bên tảng đá.

- Cô ấy luôn cúi mặt, mặt buồn rười rượi .

Việc làm và chân dung của Mị hoàn toàn

1

Lớp 12A5                                                                                               Phạm Thanh Trí


Trường THPT Hàm Tân                               Giáo án Ngữ văn 12 HKII (2019 – 2020)

Cách giới thiệu nhân vật khách quan, chậm rãi, tạo tình huống gây tò mò, hấp dẫn đầu tiên: Tại sao người đàn bà trẻ này làm gì cũng câm lặng, mặt buồn rười rượi như thế? Tại sao là con dâu của thống lí Pá Tra giàu có nhất vùng  mà lại khổ sở như vậy? Từ đó chuyển vào kể những đoạn đời trước của Mị.

- Trước khi về làm dâu nhà thống lí Mị là người như thế nào?

Học sinh trả lời. GV nhận xét.

Thời con gái: Vốn là một cô gái trẻ đẹp, có tài thổi sáo, có nhiều người say mê - có tình yêu đẹp.

Khi xuân về: 

Nghe - nhẩm thầm-hát.

Lén uống rượu-lòng sống về ngày trước.

Thấy phơi phới - đột nhiên vui sướng.

Muốn đi chơi (nhắc 3 lần).

- Hoàn cảnh nào đã đẩy đưa Mị vào làm dâu nhà thống lí?

Học sinh trả lời. GV nhận xét.

- Em hiểu khái niệm “con dâu gạt nợ” như thế nào? Từ đó có thể hiểu dễ dàng cuộc sống của Mị trong vai trò vợ A Sử, trong nhà thống lí ra sao? Qua đây, tác giả muốn phản ánh hiện thực xã hội gì?

Học sinh trả lời. Gv nhận xét.

Con dâu là nói quan hệ với thống lí Pá Tra – cha đẻ của A Sử. Nghĩa là Mị  đã trở thành người thân, người trong nhà của chúng – một gia đình giàu có, quyền thế, sang trọng nhất bản Hồng Ngài.

Nhưng Mị lại là con dâu gạt nợ, đem thân thay cha mẹ trả món nợ tiền vay khi cưới của cha mẹ mình.

Như vậy, hình thức bên ngoài là con dâu, nhưng thực chất là con nợ, là nô tỳ nô lệ không công cho cha con nhà thống lí.

Nhưng cuộc hôn nhân bất đắc dĩ, miễn cưỡng, gò ép trong tủi nhục và nước mắt ấy vẫn được thực hiện thoe phong tục cướp vợ truyền thống của người Mông. Có điều, cô dâu không bao giờ tự nguyện và có được một khoảnh khắc tình yêu, hạnh phúc nào!

Cuộc sống của Mị trong nhà Pá Tra là

đối lập với sự giàu sang, tấp nập của gia đình Thống lý => Cách giải thích tạo sự chú ý cho người đọc, gợi ra một số phận éo le của Mị.

 

 

 

 

* Trước khi về làm dâu nhà Thống Lí

- Mị là thiếu nữ xinh đẹp, có tài thổi sáo, thổi lá. Tiếng sáo của Mị khiến trai bản đứng nhẵn cả chân vách buồng cô => Báo hiệu vẻ đẹp tràn đầy của tâm hồn.

- Mị từng có người yêu, từng được yêu & nhiều lần hồi hộp trước tiếng gõ của của bạn tình => Cuộc sống của Mị tuy nghèo về vật chất song rất hạnh phúc. Vì chữ hiếu Mị đành làm dâu gạt nợ.

 

*Hoàn cảnh Mị phải làm dâu nhà Thống lí

- Bố mẹ Mị nghèo không có tiền làm đám cưới nên vay tiền nhà Thống lí -> trả mãi không hết, Mị lớn  bị bắt về làm dâu gạt nợ => Số phận của người dân nghèo, người phụ nữ nghèo ở miền núi rất bi thảm; sự bất công của xã hội miền núi lúc đó.

Khi bị bắt về làm dâu  nhà thống lí

- Đêm nào Mị cũng khóc, Mị trốn về nhà, định ăn lá ngón tự tử. => Sự phản kháng quyết liệt của Mị, Mị không muốn sống cuộc đời của kẻ nô lệ trong nhà thống lí, muốn sống theo mong muốn của mình, cũng như nàng khao khát một cuộc sống có hạnh phúc, có tình yêu.

- Sau đó ; ở lâu trong cái khổ Mị cũng quen đi.Mị tưởng mình là con trâu con ngựa, Mị cúi mặt không nghĩ ngợi, chỉ nhớ những việc không giống nhau, mỗi ngày Mị không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa, Mị ở trong buồng kín mít…thì thôi.

- Tô Hoài đã diễn tả được thứ ngục thất tinh thần,giam hãm cách li tâm hồn cô với cuộc đời, huỷ hoại tuổi xuân & sức sống của cô. Đó cũng chính là tiếng nói tố cáo

1

Lớp 12A5                                                                                               Phạm Thanh Trí


Trường THPT Hàm Tân                               Giáo án Ngữ văn 12 HKII (2019 – 2020)

cuộc sống của kẻ đầy tớ, nô tì không công, bị công việc khổ sai nặng nhọc liên tục hành hạ từ thể xác đến tinh thần. Thời gian đã biến Mị thành cái máy, cái bóng câm lặng, cô đơn, buồn rười rượi, như con rùa trong xó cửa, cứ thế, cứ thế.... cho đến già, đến chết!

Qua một đoạn đời và số phận của Mị, tác giả đã phản ánh trung thực một hiện thực tăm tối, tàn bạo và bất công trong xã hội miền núi phía Bắc nước ta thời thuộc Pháp trước cách mạng. Số phận cay đắng và đáng thương của Mị cũng là cuộc đời của hàng nghìn, vạn phụ nữ các dân tộc ít người dưới ách thống trị của bọn thực dân Pháp và bọn lang đạo, phìa tạo, thống lí tay sai.

GV chuyển ý: Nhưng những cuộc đời tàn lụi và buồn thảm như Mị có chịu mãi cảnh địa ngục trần gian cho đến chết hay không? Không! Sự thật là Mị đã vùng lên giành quyền sống cho mình. Nhưng quá trình ấy đã diễn ra như thế nào, bởi động lực và sức mạnh nào?

- Em hãy kể vắn tắt thời kì đầu Mị về làm vợ A Sử? Điều đó chứng tỏ phẩm chất gì ở cô gái này?

Học sinh trả lời. GV nhận xét.

Khóc suốt, bỏ về nhà cha, định ăn lá ngón tự tử. Phản ứng quyết liệt. Nhưng sau lại đành chấp nhận hoàn cảnh vì thương cha, vì nghĩ mình đã bị con ma nhà Pá Tra giam giữ suốt đời. Và Mị quen dần với cái khổ, với cuộc sống khổ sai, bị đày đọa triền miên. Tâm hồn, trí tuệ dường như tê dại đi, như là vô cảm, cam chịu, thờ ơ với tất cả.

- Trong “đêm tình mùa xuân”, tác giả đã tả lại diễn biến tâm trạng và hành động của Mị như thế nào? Những điều kiện và yếu tố nào đã đánh thức khát vọng tuổi trẻ của Mị? - Phân tích hành động “uống ừng ực từng bát”, tiếng sáo, lời ca tỏ tình của bạn trai ngoài đầu núi văng vẳng đã tác động đến tâm hồn Mị như thế nào?

Học sinh trả lời. GV nhận xét.

chế độ phong kiến miền núi chà đạp lên quyền sống của con người.

- Khi cha chết, Mị không nghĩ đến việc ăn lá ngón tự tử chết nữa nhưng cô buông xuôi, sống vật vờ. Mị đáng thương, không còn tha thiết với cuộc sống mà chỉ sống như một cái xác không hồn.

=>Nghệ thuật miêu tả tinh tế, chọn lọc chi tiết đặc sắc đã khắc họa được hình tượng nhân vật M: tiêu biểu, điển hình.

 

 

 

 

 

 

 

*  Đêm tình mùa xuân và sự thức tỉnh của Mị

- Mùa xuân Tây Bắc: gió thổi…, gió rét rất dữ dội …những chiếc váy hoa đem ra phơi…đám trẻ đợi tết cười ầm… -> mùa xuân Tây Bắc đặc trưng và làm say lòng người bằng hương rượu ngày tết.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Mị uống rượu, uống ừng ực từng chén

-> say nên quên đi thực tại và sống lại ngày trước: Mị thổi sáo giỏi, Mị “uống rượu bên bếp và thổi sáo, thổi lá…theo Mị”. Mị nghĩ lại mình từng có một quảng đời hạnh phúc, đầy kỉ niệm, Mị thấy mình phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước, Mị thấy mình còn trẻ lắm… Mị nhớ rằng mình vẫn là một con người và có quyền đi

1

Lớp 12A5                                                                                               Phạm Thanh Trí


Trường THPT Hàm Tân                               Giáo án Ngữ văn 12 HKII (2019 – 2020)

Thái độ câm lặng, vô cảm chỉ là bên ngoài, giấu bên trong ngọn lửa sống và khát vọng yêu đương vẫn đang âm ỉ chỉ chờ cơ hội để bùng phát. Bởi vì Mị vẫn rất trẻ, rất xinh và đầy sức sống.

Cơ hội ấy đã đến một cách tự nhiên, trong một đêm mùa xuân trên núi cao.

Không khí đợi tết xôn xao của mọi người; tiếng sáo gọi bạn đi chơi khiến Mị bồi hồi nhớ lại tuổi xuân đã qua đi của mình. Những lời ca văng vẳng trong trí nhớ làm Mị xốn xang trong mộng tưởng.

Mị đã tìm đến rượu từng bát, rồi say. Nằm lịm mà nhớ lại quá khứ tự do, sống với kỉ niệm những mùa xuân còn được tự do trong tình yêu, hạnh phúc.

Nghĩ đến hoàn cảnh sống hiện tại, Mị lại muốn ăn lá ngón cho chết ngay để được giải thoát.

Mị không còn quan tâm đến sự xuất hiện bất ngờ của A Sử, cứ lặng lẽ lấy váy áo, chuẩn bị đi chơi. A Sử hỏi, không nói. A Sử trói cũng để mặc, không chống cự!?

Thì ra Mị hành động trong cơn say. Suốt đêm Mị lúc say, lúc tỉnh, lúc đau nhức, lúc chập chờn, tha thiết nhớ, cho đến tận sáng mới được chị dâu cởi trói để đi hái thuốc đắp cho chồng.

Nghệ thuật diễn tả tâm trạng và hành động nhân vật của tác giả thật sâu sắc, tinh tế, tỏng từng chi tiết chọn lọc đầy dụng ý. Hơi rượu tỏa nồng nàn. Tiếng sáo văng vẳng. Tiếng ngựa đạp chân vào vách.... Phản ứng vô thức, sự câm lặng, cam chịu....

Đây là phản ứng tâm lí quyết liệt đầu tiên chứng tỏ sức sống tiềm tàng của Mị. Lần này tạm thời thất bại nhưng sẽ là cơ sở để giải thích tâm trạng và hành động của Mị trong đêm cứu A Phủ mấy hôm sau.

chơi ngày tết. Mị muốn đi chơi, muốn vượt qua cái nhà tù giam hãm mình bấy lâu nay.

- Tiếng sáo gọi bạn: được miêu tả nhiều lần và có nhiều biến đổi khác nhau: “Ngoài đầu núi…thổi”, “Tai Mị… gọi bạn”, “Trong đầu… sáo”, “Tiếng sáo… chơi”

- Tiếng sáo thực tại đưa Mị về những mùa xuân trước, tiếng sáo tâm hồn đưa cô đến niềm hạnh phúc yêu thương. Tiếng sáo trở thành tiếng lòng của người thiếu phụ.

=>Mùa xuân, tiếng sáo, hơi rượu khiến lòng Mị rạo rực, Mị muốn đi chơi. Niềm khao khát hạnh phúc đầy nhân bản, tình yêu cuộc sống tiềm tàng được đánh thức.

Trong Mị đầy những mâu thuẫn chân thực. Mị được đặt trong sự tương tranh giữa một bên là sự sống, một bên là cảm thức về thân phận. Tình càng xáo động thì lòng càng đớn đau cùng thực tại. Sức ám ảnh của quá khứ lớn hơn nên Mị đắm chìm vào ảo giác và “quấn lại tóc… cài áo”, cô không nhìn thấy A Sử bước vào, không nghe hắn nói. Bị A Sử trói, mị vẫn như không biết gì. Sau đó Mị ý thức thực tại khi “Cổ tay … thịt”.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- GV chuyển ý: trước khi đi vào cuộc gặp gỡ giữa Mị và A Phủ, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu đôi nét về nhân vật A Phủ.

- Em có nhận xét gì về cuộc đời và số phận của nhân vật A Phủ?

Học sinh trả lời. GV nhận xét.

Từ chú bé mồ côi lưu lạc trở thành chàng

3. A Phủ, người ở gạt nợ cho nhà thống lí

- A Phủ đánh AS, bị bắt, bị những hủ tục của bọn cường hào miền núi biến thành nô lệ. Anh là sự đối lập giữa hai con người trong một: A Phủ cường tráng, gan góc, bất khuất và A Phủ cúi đầu chấp

1

Lớp 12A5                                                                                               Phạm Thanh Trí


Trường THPT Hàm Tân                               Giáo án Ngữ văn 12 HKII (2019 – 2020)

trai Mông nghèo nhưng khỏe mạnh, tài hoa, khéo léo, niềm mơ ước của các cô gái Mông bỗng thành kẻ nô lệ chăn bò cho nhà thống lí Pá Tra chỉ vì tức khí đánh tên phá đám ngang ngược  A Sử. Và cũng chỉ vì sơ ý làm mất một con bò mà bị trói đến gần chết.

- Nhận xét A Phủ qua những lời nói và hành động của anh, khi A Phủ đánh A Sử, khi A Phủ đánh mất bò, khi A Phủ lấy dây tự trói mình theo mệnh lệnh của Pá Tra.

Học sinh tìm hiểu, trả lời. Gv nhận xét.

Cá tính mạnh mẽ, gan góc, nói ít làm nhiều, táo bạo, gan lì, chịu đựng, quyết liệt.

Qua các động tác nhanh, mạnh, liên tiếp khi đánh tên phá đám A Sử, dù A Phủ biết hắn thuộc loại con trời.

Qua hành động vác nửa con bò về nhà đề nghị đi bắt hổ về.

Lẳng lặng đóng cọc, lấy dây tự trói mình thản nhiên, lạnh lùng như hòn đá tảng. Không sợ uy quyền, không sợ chết.

Một chàng trai ưu tú như thế thật xứng đáng được Mị cứu và trở thành chồng của cô gái Mông xinh đẹp, duyên dáng, tài hoa.

nhận sự trừng phạt -> Am hiểu tâm lí nhân vật của nhà văn.

- A Phủ nghèo nhưng sống tự lập, chân chất, thẳng thắn; anh lao động giỏi, thổi sáo hay và yêu nghệ thuật. A Phủ là đứa con của núi rừng tự do nhưng không tránh được kiếp sống nô lệ.

=>Cuộc đời của APhủ và Mị có nhiều nét tương đồng.

 

- Tô Hoài đã tả diễn biến tâm trạng và hành động của Mị trong đêm cứu A Phủ như thế nào? Chi tiết nào đã khiến Mị bừng tỉnh, không còn thờ ơ mặc kệ như trước nữa? Vì sao Mị quyết định cứu A Phủ? Vì sao Mị không thấy sợ nữa? Vì sao Mị từ chỗ “đứng lặng trong bóng tối” rồi lập tức đuổi theo A Phủ?

Học sinh trả lời. GV nhận xét, hỏi tiếp.

- Phân tích nguồn gốc và ý nghĩa hành động của Mị? Có thể nói đó là hành động bộc phát ngẫu nhiên hay không?

Học sinh trả lời. GV giảng:

Đây là một trong những đoạn văn đặc sắc, thể hiện tài miêu tả, phân tích tâm lí tinh tế của tác giả, thể hiện mâu thuẫn đã được đẩy đến cao trào và được giải quyết thỏa đáng, hợp lí.

Tác giả không diễn tả một cách đơn giản

4.Sự gặp gỡ của những con người cùng cảnh ngộ

- A Phủ làm tôi tớ cho gia đình nhà thống lí vì mải bẫy nhím để hổ vồ mất một con bò nên thống lí trừng trị: “Trói đứng…hơi lúc lắc”.

- A Phủ chỉ đứng nhắm mắt cho đến đêm khuya.

- Trong những đêm dài mùa đông lạnh và buồn, Mị đến bếp lửa hơ tay-bếp lửa như người bạn tri âm của Mị và Mị thấy A Phủ mắt mở trừng trừng, Mị vẫn thản nhiên hơ tay chỉ biết ngọn lửa, A Phủ là cái xác chết đứng đấy thì Mị vẫn thế thôi -> Khi A Phủ bị trói đứng, Mị gần như vô tri, cô lặng lẽ như cái bóng. Hình ảnh Mị bên bếp lửa khắc họa rõ nét nỗi héo hắt của người đàn bà trong đêm dài tối đen vùng cao.

1

Lớp 12A5                                                                                               Phạm Thanh Trí


Trường THPT Hàm Tân                               Giáo án Ngữ văn 12 HKII (2019 – 2020)

mà lần lượt từng bước, từng chặng, tỉ mỉ, chậm rãi và rất hợp lí từ tâm trạng đến hành động, hành động thể hiện tâm trạng.

Sau đêm nổi loạn không thành ấy. Mị trở lại với cách sống lầm lũi, lặng câm, vô cảm như trước. Hành động, thái độ của Mị trong mấy đêm ra sưởi lửa, hình như không chú ý gì đến A Phủ bị trói đứng gần đó chứng tỏ điều ấy. Nhưng đó chỉ là cái bên ngoài.

Hành động vô tình lé mắt trông sang, nhìn thấy “ dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đen xám lại của A Phủ” đã bừng thức tâm hồn Mị.

Mị thương thân, thương người trai chết oan ức, Mị chợt thấy căm ghét bố con A Sử. Chúng nó thật độc ác. Mị nghĩ đơn giản như vậy. Tình thương người cũng cảnh ngộ và lòng căm ghét kẻ ác đã khiến Mị có thêm sức mạnh, Mị không còn nghĩ đến sự sống còn của bản thân để quyết cứu A Phủ vì thương cho cảnh ngộ ngang trái của anh. Tình thương mạnh hơn nỗi sợ. Lòng căm thù giúp Mị thêm sức mạnh để cô hành động nhanh nhẹn, khéo léo, dùng dao cắt dây trói, giục A Phủ: Đi ngay!

Nhưng khi “đứng lặng trong bóng tối”, nhìn A Phủ chạy đi, nỗi sợ và lòng ham sống bùng dậy. Đó cũng là tâm lí tự nhiên của con người. Vì Mị đã nghĩ đến bản thân. Và Mị đã ngay lập tức quyết định vùng chạy theo A Phủ, cùng với anh chạy trốn khỏi địa ngục trong nhà Pá tra. Đó là hành động bộc phát thể hiện lô gics tâm lí tất yếu. Vì tình thương đồng loại như thể thương thân vốn có trong cô gái Mông xinh đẹp và khổ nhục đã khiến Mị cứu A Phủ. Vì khát vọng sống, Mị đã tự cứu mình, giải phóng đời mình, gắn bó với A Phủ.

Con đường tự giải phóng của Mị và A Phủ cũng là con đường vùng lên tự cứu mình của bao người dân lao động thiểu số không muốn và không thể sống mãi kiếp nô lệ ngựa trâu dưới ách áp bức bóc lột của bọn thống lí.

- Đêm mùa đông khác Mị dậy thổi lửa, liếc mắt trông sang thấy “A Phủ một dòng nước mắt… đen xạm lại”, Mị thấy A Phủ khóc và nhớ lại việc Mị bị trói -> thấy “chúng nó thật độc ác, chỉ đêm mai là người kia chết, ta chỉ con biết đợi ngày rũ xương đây”.

=>Giọt nước mắt của A Phủ là giọt nước làm tràn li đưa Mị ra khỏi cơn mê của thực tại trở về nỗi nhớ, nhớ đến nỗi khổ của mình, xót xa cho mình và cảm thấy thương A Phủ. Tô Hoài rất am hiểu tâm lí con người, phải thương mình, nhận ra mình cũng đau khổ thì mới hiểu được người khác. Mị thương A Phủ, tình thương lớn dần.

+ Mị tưởng tượng… thấy sợ và lúc này tình thương A Phủ lớn hơn tình thương bản thân, là cơ sở để Mị cởi trói cho A Phủ.

+ Mị “rón rén bước… đi ngay” -> sau khi giúp đỡ được A Phủ, giải quyết được tình thương người thì Mị lo sợ cho tai họa của mình, thương mình. Sự lo lắng ấy giúp Mị có sức mạnh để cùng thoát chạy theo A Phủ, thay đổi số phận mình. Trong con người Mị đã lóe lên hi vọng, khát vọng sống lại bừng lên.

 

1

Lớp 12A5                                                                                               Phạm Thanh Trí

nguon VI OLET