Giáo Án Đạo Đức 3:Tài Liệu Kiến Thức Quốc Phòng Cho Đối Tượng 4

giáo án điện tử Tiểu Học Lớp 3 Đạo đức 3
  Đánh giá    Viết đánh giá
 0       22      0
Phí: Tải Miễn phí(FREE download)
Mã tài liệu
gxua0q
Danh mục
giáo án điện tử
Thể loại
Ngày đăng
2015-06-18 21:42:32
Loại file
doc
Dung lượng
1.57 M
Trang
1
Lần xem
22
Lần tải
0
File đã kiểm duyệt an toàn

1 QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM BỘ TỔNG THAM MƯU GIÁO TRÌNH BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG - AN NINH ĐỐI TƯỢNG 4A DÙNG CHO CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC THUỘC KHỐI BỘ, NGÀNH TRUNG ƯƠNG VÀ Ở CẤP TỈNH, CẤP HUYỆN HÀ

Đây là đoạn mẫu , hãy download về để xem đầy đủ, hoàn toàn miễn phí 100%

1
 

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
BỘ TỔNG THAM MƯU
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
GIÁO TRÌNH
BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC
QUỐC PHÒNG - AN NINH
ĐỐI TƯỢNG 4A
DÙNG CHO CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC THUỘC KHỐI BỘ,
NGÀNH TRUNG ƯƠNG VÀ Ở CẤP TỈNH, CẤP HUYỆN
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
HÀ NỘI - 2012
BAN BIÊN SOẠN
 
Đại tá, PGS. TS. Nguyễn Mạnh Hưởng  - Chuyên đề 1
Đại tá, TS. Lưu Ngọc Khải    - Chuyên đề 2
Đại tá, ThS. Đào Văn Dụng    - Chuyên đề 3
Thượng tá, ThS. Nguyễn Xuân Thu   - Chuyên đề 4
Đại tá, PGS. TS. Trần Đăng Thanh   - Chuyên đề 5
Đại tá, PGS. TS. Phạm Xuân Hảo   - Chuyên đề 6
Đại uý, CN. Trần Viết Thắng    - Chuyên đề 7
Đại tá, ThS. Nguyễn Quý Cử    - Chuyên đề 8
Đại tá, TS. Tạ Việt Hùng     - Chuyên đề 9
Đại tá, ThS. Hoàng Khắc Thông   - Chuyên đề 10
 
 
MỤC LỤC
 
Chuyên đề 1
Chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới
 
Chuyên đề 2
 
Phòng, chống chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam
 
Chuyên đề 3
Một số vấn đề về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh
 
Chuyên đề 4
Quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo và biên giới quốc gia Việt Nam trong thời kỳ mới
 
Chuyên đề 5:
Xây dựng, hoạt động của lực lượng tự vệ, dự bị động viên cơ quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
 
Chuyên đề 6
Một số vấn đề cơ bản bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hoá, kinh tế - xã hội trong tình hình mới
 
Chuyên đề 7
(Bổ trợ)
Nội dung cơ bản của Luật Quốc phòng; Luật Nghĩa vụ quân sự; Luật An ninh quốc gia; Luật Dân quân tự vệ; Pháp lệnh Dự bị động viên
 
Chuyên đề 8
(Bổ trợ)
Vũ khí công nghệ cao và cách phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao
 
Chuyên đề 9
(Bổ trợ)
Một số vấn đề cơ bản về dân tộc, tôn giáo và đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam
 
Chuyên đề  10 (Bổ trợ)
Các trạng thái quốc phòng, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng
 
 
 
Chuyên đề 1
CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VIỆT NAM
BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI
                           Biên soạn: Đại tá, PGS. TS Nguyễn Mạnh Hưởng
I. CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC CỦA CÁC THẾ LỰC ĐẾ QUỐC, THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI NƯỚC TA TRONG TÌNH HÌNH MỚI
1. Mục đích, tính chất, đặc điểm chiến tranh xâm lược của các thế lực đế quốc, thù địch đối với Việt Nam trong tình hình mới
a) Mục đích
Chiến tranh là sự kế tục chính trị bằng thủ đoạn bạo lực vũ trang. V.I.Lênin chỉ rõ: “Chiến tranh chẳng qua chỉ là chính trị từ đầu đến cuối, chỉ là sự tiếp tục thực hiện cũng những mục đích... của các giai cấp... với những phương pháp khác mà thôi”[1], “Chiến tranh là sự phản ánh chính sách đối nội mà nước đó đã thi hành trước đây”[2]. Nghiên cứu về bản chất Chiến tranh Thế giới lần thứ I, V.I.Lênin viết: “Chính toàn bộ đường lối chính trị của toàn bộ hệ thống các quốc gia ở Châu Âu trong mối quan hệ kinh tế và chính trị của các quốc gia đó mới là cái cần xem xét để hiểu được rằng điều tất nhiên, không thể tránh được là hệ thống ấy đã gây ra cuộc chiến tranh hiện nay”[3].
Luận điểm mácxít về chiến tranh vẫn là cơ sở phương pháp luận khoa học cho phép lý giải bản chất chính trị của các cuộc chiến tranh hiện đại và mục đích chính trị của chiến tranh do các thế lực đế quốc, thù địch tiến hành chống Việt Nam trong tình hình mới.
Mục đích chiến lược cơ bản của các thế lực đế quốc, thù địch quy định mục đích chính trị của cuộc chiến tranh mà chúng phát động chống Việt Nam. Mục đích chiến lược cơ bản của các thế lực đế quốc, thù địch là xác lập “giá trị” của chúng trên toàn hành tinh, chi phối đời sống chính trị thế giới. Bản chất phản động và mục đích chiến lược cơ bản đó được thực hiện thông qua nhiều biện pháp chính trị, kinh tế, tư tưởng, ngoại giao... và cả quân sự. Mục đích chính trị của cuộc chiến tranh xâm lược do các thế lực đế quốc, thù địch tiến hành chống nước ta là nhằm xâm chiếm độc lập, chủ quyền, lãnh thổ, biển đảo, thủ tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Mục đích chính trị đó có nhiều nét mới. Đó là “cưỡng bức ý chí” của nhân dân ta, buộc Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phục tùng ý chí, chấp nhận điều kiện của chúng về biên giới, đất liền, biển đảo, đòi thay đổi thể chế chính trị, biến nước ta thành nước nằm trong quỹ đạo của chúng.
b) Tính chất
Chiến tranh xâm lược do các thế lực đế quốc, thù địch tiến hành chống nước ta là cuộc chiến tranh phi nghĩa. Tính chất đó của chiến tranh biểu hiện trên mấy vấn đề chính: một là, đây là cuộc chiến tranh xâm lược nhằm chống một quốc gia độc lập, có chủ quyền; hai là, đây là cuộc chiến tranh chống lại tiến bộ xã hội; ba là, đây là cuộc chiến tranh trái với đạo lý và luật pháp quốc tế; bốn là, đây là cuộc chiến tranh chống nhân loại và hoà bình thế giới.
Chiến tranh diễn ra hết sức ác liệt, tàn khốc và huỷ diệt lớn. Trong cuộc tiến công năm 1999, Mỹ và đồng minh đã phóng hơn 1.500 tên lửa và tên lửa hành trình, rải hơn 5.000 tấn bom vào các mục tiêu quan trọng của Nam Tư với đương lượng gấp hơn 3 lần 2 quả bom nguyên tử đã ném xuống Nhật Bản năm 1945[4]. Chiến tranh chống Irắc năm 2003 cũng diễn ra ác liệt và hủy diệt không kém. Đối với nước ta, nếu kẻ thù liều lĩnh phát động chiến tranh xâm lược, dù là trên đất liền, biển đảo, hay quy mô lớn trên phạm vi cả nước, thì đều sẽ rất ác liệt và tàn khốc. Cần nhận thức đúng tính chất ác liệt và tàn khốc của chiến tranh để xác định quyết tâm chiến đấu, tìm cách đánh trả có hiệu quả, không hoang mang lo sợ.
c) Đặc điểm
Thứ nhất, lợi dụng các vấn đề trong nội bộ nước ta, vấn đề "dân tộc","tôn giáo", “dân chủ”, “nhân quyền”, tranh chấp biên giới, biển đảo, tạo dựng lực lượng chính trị đối lập để phát động chiến tranh.
Trong lịch sử chiến tranh nhân loại, có nhiều trường hợp chỉ với những sự kiện, xung đột nhỏ, chủ nghĩa đế quốc dựng lên “nguyên cớ” và tuyên bố chiến tranh. Cái mới ở đây là “nguyên cớ” cụ thể để chống phá, đe dọa và phát động chiến tranh mà các thế lực đế quốc thường lợi dụng hiện nay là các vấn đề “dân chủ và nhân quyền”, những mâu thuẫn nội bộ trong một quốc gia, vấn đề dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, các vấn đề tranh chấp biên giới, biển đảo. Đại hội XI của Đảng nhận định: "Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" hòng thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" có những diễn biến phức tạp"[5]. Những vấn đề trong nội bộ nước ta, dù là vấn đề "dân tộc", "tôn giáo", những vấn đề tranh chấp chủ quyền biên giới, biển đảo, hay một vấn đề nào khác đều được địch triệt để lợi dụng tạo cớ để can thiệp vũ trang, phát động chiến tranh, nếu thấy "cần thiết"; đồng thời tạo dựng lực lượng chính trị đối lập ở trong nước làm hậu thuẫn cho chúng khi phát động và tiến hành chiến tranh. Thực chất, đó là sự ngụy trang hòng che đậy bản chất thực sự của đường lối chính trị phản động và gia tăng sức mạnh cho chúng khi phát động chiến tranh, thực hiện mục tiêu xâm phạm độc lập, chủ quyền, lãnh thổ, thủ tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta.
Thứ hai, kết hợp sức mạnh quân sự với kinh tế và ngoại giao, lợi dụng, thao túng các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc và tập hợp đồng minh.
Kết hợp sức mạnh quân sự với kinh tế và ngoại giao là một đặc điểm cơ bản của cuộc chiến tranh xâm lược nước ta của các thế lực hiếu chiến, thù địch. Với tiềm lực quân sự và kinh tế, với những thủ đoạn nham hiểm về ngoại giao, kẻ địch vừa nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo cho chúng, vừa nhằm cô lập cuộc chiến đấu chống xâm lược của nhân dân ta. Từ khi thành lập đến nay, Liên hợp quốc ngày càng thể hiện với tư cách là tổ chức quốc tế lớn nhất và có uy tín nhất trên thế giới. Dưới danh nghĩa Liên hợp quốc, lực lượng của Mỹ can thiệp khắp nơi, thực chất là Mỹ thao túng Liên hợp quốc và Hội đồng Bảo an nhằm tăng thêm sức mạnh và tạo cơ sở pháp lý cho hành động xâm lược của chúng. Tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, các thế lực đế quốc, thù địch sẽ lợi dụng nhiều tổ chức quốc tế, kể cả các thiết chế kinh tế, tài chính thế giới, đặc biệt là Liên hợp quốc để “can dự”, ra nghị quyết trừng phạt, nhưng khi cần thiết có thể lại “bỏ qua” Liên hợp quốc, bất chấp công pháp và dư luận quốc tế, tiến công vũ lực để đạt mục tiêu; và khi kết thúc chiến tranh lại sử dụng tổ chức này đứng ra dàn xếp theo ý định của chúng. Đây là thủ đoạn vừa thâm độc, vừa ngang ngược, nhằm tạo cơ sở "pháp lý" và áp lực chính trị, ngoại giao để cô lập, gây khó khăn và thế bất lợi đối với chúng ta.
Tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, các thế lực đế quốc, thù địch sẽ ra sức tập hợp lực lượng và sử dụng đồng minh tham gia trực tiếp. 
Vấn đề “đồng minh” như là một điều kiện để các thế lực đế quốc, thù địch tính toán khi phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam. Sử dụng “sức mạnh đồng minh” không những làm tăng thêm sức mạnh và hậu thuẫn cho chúng, mà còn làm cho nước ta dễ bị cô lập và khó khăn trong việc chống trả. Trong vấn đề tập hợp đồng minh, mỗi đối tượng cụ thể và trong mỗi tình huống chiến tranh cụ thể, thì vấn đề đồng minh lại đặt ra có sự khác nhau.   
Thứ ba, sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại.
Những vũ khí, trang bị sử dụng trong chiến tranh bao gồm những chủng loại cơ bản: hệ thống viễn thông định vị toàn cầu (GPS), các loại tên lửa đường, vũ khí “thông minh”... được phóng từ xa tới các mục tiêu đã được tính toán từ trước; các máy bay chiến đấu hiện đại, tàu chiến, tàu ngầm chiến lược hiện đại... Đặc điểm chủ yếu và chung nhất của các loại vũ khí công nghệ cao là tầm bắn xa, độ chính xác cao, sức huỷ diệt lớn và chi phí hết sức tốn kém. Điều đó làm cho chiến tranh diễn ra với cường độ cao, tốc độ nhanh, quy mô chiến trường được mở rộng tối đa, thời gian tiến hành chiến tranh được rút ngắn đáng kể, chỉ tính bằng tháng, bằng ngày, thậm chí bằng giờ. Do đó, chiến tranh càng trở nên khốc liệt, sự tổn thất về người và của là vô cùng lớn.
Khi tiến công nước ta, chúng triệt để tận dụng ưu thế vũ khí, phương tiện hiện đại, sử dụng hỏa lực không quân, tên lửa, pháo hạm, tàu chiến, tàu ngầm các loại kết hợp với các loại vũ khí, phương tiện thông thường, đánh mạnh ngay từ đầu, đánh liên tục ngày đêm, làm mất ý chí đề kháng của quân và dân ta, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng nhanh chóng đánh chiếm những mục tiêu quan trọng, chiếm đất, biên giới, biển đảo, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng vũ trang ta, buộc Đảng, Nhà nước ta khuất phục, giành thắng lợi chiến tranh.
Thứ tư, thực hiện phương châm đánh nhanh, giải quyết nhanh, kết hợp truyền thống với phi truyền thống, không để bị sa lầy, hạn chế thiệt hại về sinh lực.
Đánh nhanh, thắng nhanh là phương châm tác chiến chủ đạo, được thực hiện một cách nghiêm ngặt trong chiến tranh. Đây là đặc điểm cơ bản về nghệ thuật và phương châm tiến hành chiến tranh do các thế lực đế quốc, thù địch xâm lược nước ta. Sự phát triển của vũ khí trang bị dẫn đến sự biến đổi về nghệ thuật và phương thức tiến hành chiến tranh. Nghệ thuật và phương thức tiến hành chiến tranh kết hợp truyền thống với phi truyền thống, có những thay đổi căn bản so với trước kia, theo hướng giảm đến mức tối thiểu số lượng quân lính tham chiến, tránh thương vong về người đối với địch ở mức thấp nhất, nhưng sức mạnh chiến đấu lại ở mức cao nhất, cố gắng không để bị sa lầy.
Phương thức tiến hành chiến tranh không dựa vào khuynh hướng số lượng nhiều hay ít về quân lính, mà chủ yếu dựa vào vũ khí, trang bị được sử dụng trong chiến tranh. Tầm bắn xa, độ chính xác cao, sức huỷ diệt lớn của các loại vũ khí hiện đại là cơ sở thuận lợi cho việc thực hiện theo phương thức này. Địch sẽ thực hiện tiến công từ xa, không tiếp xúc, đặt nhân dân và quân đội ta trong trạng thái không an toàn, luôn bị uy hiếp, dù không thấy địch trực tiếp; sử dụng binh lực với mức độ cần thiết, tiến quân trên bộ nhằm giải quyết chiến tranh với sự hỗ trợ của các loại vũ khí, trang bị hiện đại (trong tấn công Irắc năm 2003, Liên quân Mỹ - Anh được huy động hơn 250.000 quân); hoặc dùng quân đội và lực lượng đồng minh kết hợp với các loại vũ khí hiện đại tiến công quyết liệt vào những vị trí xung yếu, vào lực lượng vũ trang ta nhằm xâm chiếm biên giới, lãnh thổ, biển đảo.  
2. Điểm mạnh và hạn chế chiến tranh xâm lược của các thế lực đế quốc, thù địch
a) Điểm mạnh
Các thế lực đế quốc, thù địch có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh, trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại; lợi dụng, chi phối được một số tổ chức quốc tế, Liên hợp quốc và tập hợp đồng minh; lập được các căn cứ quân sự trên một số nước; có sự cấu kết với các lực lượng phản động người Việt và ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á.
b) Hạn chế
Chiến tranh xâm lược do các thế lực đế quốc, thù địch tiến hành chống nước ta là cuộc chiến tranh hoàn toàn phi nghĩa, phản nhân đạo, nhất định sẽ gặp phải sự phản đối của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, của nhân dân những nước đồng minh và của chính nhân dân nước chúng, gây khó khăn cho chúng trong việc huy động sức người, sức của và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế cho chiến tranh. Cuộc chiến tranh này sẽ vấp phải sự chống trả quyết liệt, ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
Dù ở trình độ công nghệ cao như thế nào, các loại vũ khí đều có nhược điểm và hạn chế nhất định. Tính năng, tác dụng của vũ khí sẽ kém hiệu quả trong điều kiện địa lý, thời tiết không thuận lợi. Việc chi phí cho chiến tranh hết sức tốn kém, gây nhiều khó khăn cho địch, dù đó là tên đế quốc có tiềm lực kinh tế hùng mạnh nhất.
Chiến tranh xâm lược của địch, dù trong tình huống chiến tranh nào, cũng đều vấp phải nhiều khó khăn, thách thức khi phải đối chọi với con người Việt Nam, chiến tranh nhân dân và cách đánh Việt Nam. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng, nhân dân Việt Nam dũng cảm, bất khuất, đoàn kết xung quanh Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện chiến tranh nhân dân, với nhiều cánh đánh mưu trí, sáng tạo, quyết tâm chiến đấu đến cùng bảo vệ độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhận định: “Không quân đội nào, khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”[6]. Phải đối chọi với với một cuộc chiến tranh nhân dân, với một dân tộc đầy quyết tâm như thế, thì chiến tranh xâm lược của địch sẽ gặp nhiều khó khăn không dễ dàng khắc phục, vũ khí công nghệ cao không thể phát huy đầy đủ tác dụng, phương châm đánh nhanh, thắng nhanh sẽ bộc lộ hạn chế và nhanh chóng bị phá sản, tính chất phi nghĩa, phản nhân đạo của địch ngày càng bị lộ rõ. Kẻ thù phát động chiến tranh xâm lược nước ta, thì chúng tự chuốc lấy một khả năng thất bại tiềm tàng.
II. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VIỆT NAM BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Khái niệm, mục đích, tính chất, đặc điểm chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
a) Khái niệm
Về chiến tranh nhân dân và chiến tranh nhân dân Việt Nam, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam viết: “Chiến tranh nhân dân, chiến tranh do đông đảo quần chúng nhân dân tiến hành, có lực lượng vũ trang làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của giai cấp cách mạng hoặc lực lượng xã hội tiến bộ bằng mọi loại vũ khí (thô sơ, hiện đại), tiến hành dưới nhiều hình thức để chống xâm lược hoặc ách áp bức thống trị trong nước. Mục đích chính trị của chiến tranh nhân dân càng triệt để, sự lãnh đạo càng đúng đắn thì lực lượng tham gia càng đông đảo, mạnh mẽ. Sức mạnh và nghệ thuật của chiến tranh nhân dân tạo điều kiện cho các dân tộc nhỏ có thể đánh thắng những kẻ thù xâm lược có quân đội đông và mạnh hơn. Nhân dân Việt Nam có truyền thống tiến hành chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc, đã chiến thắng các đội quân xâm lược lớn mạnh của các triều đại phong kiến nước ngoài trong các thế kỷ trước và của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ trong thế kỷ 20”[7]; “Trong thời đại mới, trên cơ sở kết hợp đúng đắn học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội với di sản, truyền thống quân sự của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa chiến tranh nhân dân Việt Nam phát triển lên một trình độ mới, một chất lượng mới cao hơn, trở thành cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện. Mục tiêu giải phóng dân tộc kết hợp chặt chẽ với mục tiêu giải phóng triệt để nhân dân lao động, kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội làm cho chiến tranh nhân dân Việt Nam mang tính chất “của dân, do dân, vì dân” đầy đủ và sâu sắc nhất”[8].
Như vậy, chiến tranh nhân dân là cuộc chiến tranh do đông đảo nhân dân tiến hành vì lợi ích của nhân dân, có lực lượng vũ trang làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo, tổ chức của nhà nước, đánh địch toàn diện, sử dụng mọi hình thức và biện pháp tác chiến, để giành thắng lợi.
Chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới là cuộc chiến tranh do toàn thể nhân dân Việt Nam tiến hành, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự điều hành của Nhà nước xã hội chủ nghĩa chống chiến tranh xâm lược của thế lực đế quốc, thù địch; trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, sử dụng các loại vũ khí, phương tiện, thực hiện tổng hợp các hình thức, biện pháp tiến hành chiến tranh và tác chiến, nhằm đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.
b) Mục đích
Chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”[9]. Nói một cách khái quát, đó là bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nước ta.
Mục đích chính trị cụ thể của chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc và chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa có sự khác nhau. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược ở thế kỷ XX, ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là “sợi chỉ đỏ xuyên suốt”, là mục đích và động lực cơ bản, nhưng mục tiêu chính trị trực tiếp của các cuộc kháng chiến ấy lại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, tạo tiền đề đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Mục đích chính trị của chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới được biểu hiện cụ thể ở việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biên giới, biển đảo và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh mà Đảng và nhân dân ta đang phấn đấu.
c. Tính chất
Chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là cuộc chiến tranh chính nghĩa, tự vệ, cách mạng.
Chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là cuộc chiến tranh chính nghĩa, tự vệ, cách mạng do nhân dân Việt Nam tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Tính chất chính nghĩa, tự vệ, cách mạng của chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thể hiện ở chỗ: thứ nhất, là cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo vệ cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân; thứ hai, là cuộc chiến tranh chống các thế lực đế quốc, hiếu chiến phản động trên thế giới, góp phần bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới. 
Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là chiến tranh toàn dân, toàn diện.
Đây là nét đặc sắc của chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, là cơ sở nguồn sức mạnh vô tận của nhân dân ta trong chiến tranh, nó quyết định đến việc huy động lực lượng vật chất, tinh thần tạo thành sức mạnh tổng hợp của cả nước đánh giặc, đồng thời được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân nước đi xâm lược. Cuộc chiến tranh này có sự tham gia đông đảo của tất cả các tầng lớp nhân dân, của mọi người dân Việt Nam ở trong nước và người Việt Nam định cư, sinh sống ở nước ngoài. Đó là cuộc chiến tranh vì nhân dân và do nhân dân tiến hành, đánh địch toàn diện trên tất cả các lĩnh vực để thực hiện mục đích chính trị của chiến tranh nhân dân là bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bất cứ tình huống nào. Thực hiện mục tiêu chiến lược là tiêu diệt và đập tan lực lượng bạo loạn, tiêu hao, tiêu diệt, đánh bại ý chí xâm lược của địch, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, sự lãnh đạo, điều hành của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa, giữ vững địa bàn, bảo vệ dân, bảo vệ tiềm lực mọi mặt của đất nước, giành thắng lợi cho chiến tranh.
Chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa mang tính chất độc lập, tự chủ, tự cường.
Chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một cuộc chiến tranh độc lập, tự chủ, tự cường để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống. Trong tình hình mới, trước những diễn biến phức tạp của cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, của tình hình chính trị - quân sự trên thế giới, tính chất độc lập, tự chủ, tự cường của chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa càng được đề cao và thể hiện sâu sắc. Tư tưởng độc lập, tự chủ, “dựa vào sức mình là chính” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ trước kia, được phát huy cao độ trong điều kiện mới. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nêu cao ý chí quyết tâm, tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp lớn nhất để giành thắng lợi cho chiến tranh.  
d) Đặc điểm
Chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới có những đặc điểm như sau:  
Một là, chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải chống chiến tranh xâm lược của các thế lực đế quốc, thù địch có tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ mạnh.
Đây là đặc điểm cơ bản về đối tượng của chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Chiến tranh xâm lược Việt Nam là do các thế lực đế quốc, thù địch tiến hành; các thế lực đế quốc, thù địch sẽ liên kết với nhau thành liên minh xâm lược. Liên minh xâm lược đó có thể được "mệnh danh" là "đại diện" cho quốc tế, cho tổ chức quốc tế lớn nhất là Liên hợp quốc, cho nên càng nguy hiểm. Những cuộc tiến công xâm lược Nam Tư năm 1999 và Irắc năm 2003, cũng như việc duy trì quân sự ở đó cho đến nay, đã chứng minh sức mạnh và tính nguy hiểm của liên minh đế quốc xâm lược trong thời đại mới.
Điều đáng chú ý là, khi tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, kẻ thù sẽ sử dụng vũ khí với trình độ công nghệ cao không chỉ như chúng đã từng sử dụng ở các cuộc chiến chống Nam Tư, Irắc và Li Bi, mà còn có nhiều thế hệ vũ khí trang bị mới có trình độ công nghệ cao hơn. Một liên minh đế quốc xâm lược khổng lồ với việc sử dụng vũ khí công nghệ cao, hiện đại làm cho chiến tranh xâm lược của chúng đối với nước ta càng trở lên nguy hiểm, tàn khốc và ác liệt. Nếu thực hiện chiến tranh xâm lấn biên giới, biển đảo thì tiềm lực kinh tế, quân sự và vũ khí trang bị của địch vẫn vượt trội so với ta.
Hơn nữa, trong điều kiện chiến tranh, sự hậu thuẫn quốc tế đối với cuộc chiến tranh của nhân dân ta không còn như trước kia, khi mà so sánh lực lượng trên thế giới còn có lợi cho các thế lực đế quốc, thù địch. Chiến tranh nhân dân Việt Nam phải chống lại kẻ thù như vậy, phải tác chiến với một đối tượng như vậy, trong tình hình như vậy, nên thực sự khó khăn và ác liệt hơn so với các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mà nhân dân ta từng tiến hành trước đó. Điều đó cho thấy những bất lợi lớn đối với chúng ta khi buộc phải tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là về so sánh lực lượng.
Hai là, chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới là cuộc chiến tranh nhằm mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Luận điểm chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực vẫn giữ nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt trên lĩnh vực quân sự, dù có diễn ra hết sức mạnh mẽ, mà hiện nay chúng ta chưa có thể tiên lượng và phân tích hết được những tác động của nó đến chiến tranh, cũng không dẫn đến sự thay đổi về nguồn gốc, bản chất, tính chất của chiến tranh. Vũ khí công nghệ cao mà các cuộc chiến tranh sử dụng dù có hiện đại thế nào chăng nữa nhưng chúng vẫn chỉ là phương tiện, công cụ để tiến hành chiến tranh.
Phát động chiến tranh chống Việt Nam chính là sự kế tục mục tiêu chính trị chống phá độc độc dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của các thế lực đế quốc, thù địch. Tiến công nước ta, các thế lực đế quốc, thù địch không phải đơn giản nhằm “dạy” Việt Nam một “bài học” nào đó, mà mục tiêu đặt ra của chúng là xâm phạm độc lập, chủ quyền, biên giới, lãnh thổ, biển đảo, đè bẹp ý chí của dân tộc Việt Nam, buộc Đảng và nhân dân ta phải khuất phục, phải từ bỏ con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là sự phát triển lôgích và tất nhiên của quá trình chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hoà bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ mà chúng đã và đang thực hiện từ nhiều thập kỷ qua. Tuy nhiên, mục tiêu chiến tranh xâm lược đó có trở thành hiện thực hay không thì lại không phải do ý muốn chủ quan của các thế lực phản động, hiếu chiến, chúng sẽ vấp phải sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Đây thực sự là cuộc đọ sức quyết liệt giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với thế lực đế quốc, thù địch hiếu chiến, phản động nhất trong thời đại ngày nay.
Dân tộc Việt Nam với ý chí bất khuất kiên cường, tinh thần yêu nước nồng nàn, đoàn kết một lòng tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất định sẽ giành thắng lợi trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục đích chính trị chủ yếu của Đảng và nhân dân ta trong chiến tranh chống xâm lược, là một đặc điểm cơ bản của chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Đặc điểm cơ bản này của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc   được thể hiện: thứ nhất, việc thực hiện mục tiêu bảo vệ trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội thế giới chưa tạo thành lực lượng thống nhất, bị công phá quyết liệt từ nhiều phía; thứ hai, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta gặp nhiều thách thức to lớn từ nhiều nhân tố tác động (nguy cơ chệch hướng, sự chống phá của kẻ thù, kinh tế thị trường... và đặc biệt là sự suy giảm lòng tin đối với Đảng và chế độ của một bộ phận nhân dân, kể cả trong cán bộ, đảng viên), điều đó rất dễ diễn ra tình trạng chỉ quyết tâm bảo vệ đất nước, chủ quyền lãnh thổ, mà xem nhẹ, thậm chí từ bỏ vấn đề bảo vệ chế độ, đặc biệt khi bị tác động mạnh mẽ bởi sự khốc liệt của chiến tranh với uy lực của vũ khí công nghệ cao và sự tiến công xảo quyệt về tư tưởng - tâm lý của kẻ thù. Như vậy, đặc điểm cơ bản trên còn thể hiện ở những khó khăn, phức tạp, gay go, quyết liệt đối với chúng ta khi thực hiện nội dung bảo vệ Tổ quốc trong chiến tranh.
Ba là, chiến tranh có sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước.
Sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, của tất cả các thành phần xã hội, các dân tộc, tôn giáo, cả người giàu và người nghèo, trên tất cả các lĩnh vực bao giờ cũng là một tính chất và là một đặc điểm nổi bật của chiến tranh nhân dân nói chung. Điều đó có được là do mục đích và tính chất chính nghĩa, tự vệ của chiến tranh nhân dân quy định. Mục đích chính trị của chiến tranh nhân dân càng triệt để, sự lãnh đạo của lực lượng lãnh đạo chiến tranh càng đúng đắn thì lực lượng tham gia càng đông đảo, mạnh mẽ, càng tạo nên sức mạnh to lớn để các dân tộc nhỏ có thể đánh thắng kẻ thù xâm lược có quân đội đông và tiềm lực quân sự, khoa học mạnh hơn.
Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã động viên cao độ sức mạnh của toàn dân tộc, sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân trên khắp mọi miền Tổ quốc, thực hiện “cả nước ra trận, toàn dân đánh giặc”. Trong tác phẩm Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Chiến tranh ở Việt Nam không chỉ là sự đọ sức giữa hai quân đội; ở đây bọn thực dân xâm lược phải đánh nhau với cả một dân tộc; cả dân tộc Việt Nam, toàn thể nhân dân việt Nam đang đứng dạy chống lại chúng. Chính vì thực dân không nhận thấy sự thật sâu sắc đó, cho nên chúng đã tưởng chừng dễ dàng giành được thắng lợi mà chung quy lại đi đến thất bại”[10]. Một học giả nước ngoài cũng có nhận xét: “Chiến tranh Việt Nam là sự đối đầu giữa sức mạnh tinh thần và sức mạnh vật chất, nó cũng chỉ cho mọi ngư­ời thấy một nước nhỏ phải chiến thắng một n­ước lớn bằng cách nào. Đồng thời nó cũng cho thấy rõ một chân lý là: Một dân tộc cuối cùng sẽ giành đ­ược thắng lợi nếu dân tộc đó có một ý chiến đấu mạnh mẽ… Dân tộc Việt Nam đã tiến hành một cuộc chiến tranh chính trị dựa trên chiến tranh du kích, còn Mỹ đã dựa vào một cuộc chiến tranh quân sự chủ yếu dựa vào sức mạnh vũ khí. Cuối cùng phần thắng thuộc về bên tiến hành chiến tranh chính trị… Một nguyên tắc bất di bất dịch có tính triết học mà dân tộc Việt Nam duy trì là nguyên tắc giành thắng lợi bằng chính sức mình, dù tình hình có khó khăn đến đâu chăng nữa”[11].
Sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân là đặc điểm của chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trong tình hình mới có bước phát triển mới. Nhân dân trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã có hàm nghĩa rất rộng, không chỉ là các thành phần cơ bản trong nhân dân lao động, mà còn cả các tầng lớp xã hội khác. Trong tình hình mới, sẽ có sự tham gia của cả tầng lớp tư sản, các doanh nhân Việt Nam và đặc biệt là của cả người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài. Đây là một nét mới, phản ánh sâu sắc tính chất nhân dân của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, của chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Đại hội X của Đảng ta đã khẳng định quan điểm quan trọng: “Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; xoá bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp”[12]; đồng bào định cư ở nước ngoài là “bộ phận không thể tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước”[13].
Quan điểm trên tiếp tục được Đảng ta nhấn mạnh tại Đại hội XI. Trong điều kiện chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, được thể hiện sâu sắc và biểu hiện cụ thể ở những hành động chiến đấu, thực hiện các hình thức, biện pháp phục vụ chiến đấu; ở việc nỗ lực huy động mọi nguồn lực, mọi nguồn sức mạnh cho chiến tranh; ở ý chí quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, hy sinh vì Tổ quốc của mọi tầng lớp nhân dân ở trong nước cũng như ở nước ngoài, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn của chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, phải chống lại chiến tranh xâm lược của địch với quy mô rộng lớn, thời gian nhanh chóng, nghệ thuật và phương thức tiến hành chiến tranh có nhiều thay đổi.
Quy mô, nghệ thuật và phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới được quy định từ nhiều nhân tố, mà trực tiếp là từ chiến tranh xâm lược của kẻ thù.
Phát động chiến tranh chống Việt Nam, các thế lực đế quốc, thù địch sẽ thực hiện phương châm đánh nhanh thắng nhanh. Thực hiện đánh nhanh thắng nhanh, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động nhằm tận dụng ưu thế ban đầu về thế, lực và thời cơ để tiến công áp đảo, kết thúc cuộc chiến càng nhanh càng tốt, tránh những khó khăn, bất lợi, sa lầy, khi cuộc chiến buộc phải kéo dài. Các cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở Việt Nam trước kia đều được bắt đầu theo phương châm đánh nhanh, thắng nhanh.
Tiến công nước ta, dù trong tình huống chiến tranh nào, phương châm đánh nhanh thắng nhanh không những được các thế lực đế quốc, thù địch thực hiện với tư cách là phương châm chủ đạo, mà còn được đặt ra một cách gay gắt và nghiêm ngặt. Những lợi thế căn bản cho phép chúng thực hiện theo phương châm này là: sức mạnh áp đảo ban đầu; sự bất ngờ về thời cơ, quy mô, hướng tiến công; sức mạnh và tính năng ưu việt của các loại vũ khí trang bị hiện đại. Quy mô chiến tranh rộng khắp, chiến trường được mở rộng tối đa, tập trung bắn phá vào cơ quan đầu não, các trung tâm chỉ huy, phát thanh, truyền hình, trận địa quân sự, cơ sở kinh tế quan trọng, các thành phố lớn của ta; việc phân định tiền tuyến và hậu phương không rõ ràng. Tiến công từ xa, không tiếp xúc, vũ khí trang bị sẽ được bố trí ở xa những mục tiêu bắn phá, với tư tưởng chỉ đạo là tiêu diệt được các mục tiêu của ta, nhưng lại tránh được những đòn phản kích của quân dân Việt Nam; hoặc tập trung binh hỏa lực tiến công lấn chiếm biên giới, biển đảo, là một phương thức tác chiến cơ bản của bọn xâm lược.
Trong điều kiện đó, vấn đề giải quyết chiến tranh nhanh không chỉ đặt ra đối với địch, mà ngay cả đối với nhân dân ta để đánh thắng chiến tranh xâm lược của kẻ thù và tránh tổn thất nhiều, chúng ta không thể kéo quá dài chiến tranh. Đây là một đặc điểm rất mới của chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, khác nhiều so với các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trước kia của dân tộc ta, tuy trong các cuộc kháng chiến ấy cũng có những thời điểm chúng ta giải quyết cuộc chiến nhanh, kết thúc chiến dịch nhanh.
Nghệ thuật và phương thức tiến hành chiến tranh, cách đánh của chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới có nhiều thay đổi, theo hướng không để bị cuốn vào cách đánh của đối phương, mà nhanh chóng “bắt” đối phương đánh theo cách đánh của mình, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn, đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù. Vấn đề "tiêu diệt lực lượng quân sự của địch, bảo vệ dân, giữ dân, giành dân, làm chỗ dựa cho quần chúng đấu tranh chính trị và nổi dậy giành quyền làm chủ” theo quan niệm trước kia, phát triển thành vấn đề ngăn chặn, tiêu diệt, phá huỷ lực lượng quân sự của địch trong không gian rộng lớn, có thể vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ biên giới quốc gia, nhằm đập tan ý chí xâm lược của kẻ thù trong thời gian ngắn nhất. Chiến sự diễn ra rất quyết liệt, phức tạp, khẩn trương từ đầu, trên không gian rộng, nhiều chiều, trên toàn bộ hay trên một phần đất nước ta với chiều sâu lớn. Hình thái chiến tranh xen kẽ, không phân tuyến, không có sự phân biệt rõ giữa hậu phương và tiền tuyến. Chúng ta vừa phải chống cuộc tiến công đường không, vừa chống cuộc tiến công đường bộ, trên biển với sức mạnh áp đảo từ ngoài vào, đồng thời vừa phải đối phó với lực lượng phản động gây bạo loạn từ bên trong. Quy mô chiến tranh lớn diễn ra từ đầu, thương vong về người, tiêu hao về vật chất sẽ rất lớn, nhu cầu bảo đảm cho chiến tranh đòi hỏi rất cao và khẩn trương.
Đặc điểm này tác động rất lớn đến tinh thần, tâm lý của mọi người dân, đến công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến tranh để giành và giữ quyền chủ động đánh địch từ đầu và suốt quá trình chiến tranh.
2. Phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Phương thức tiến hành chiến tranh trong chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới là thực hiện chiến tranh toàn dân, toàn diện, kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh, đánh địch toàn diện trên tất cả các mặt trận, kết hợp lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, bằng chiến tranh nhân dân địa phương và chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực, kết hợp tác chiến của lực lượng toàn dân đánh giặc trong khu vực phòng thủ địa phương với tác chiến của các binh đoàn chủ lực cơ động.
a) Thực hiện chiến tranh toàn dân, toàn diện
Lực lượng tiến hành chiến tranh là lực lượng toàn dân, bao gồm cả lực lượng quân sự, lực lượng chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ…) làm nòng cốt. Các lực lượng này dựa trên cơ sở giác ngộ sâu sắc hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mục đích chính trị của chiến tranh là vì dân một cách triệt để. Mục đích đó được thấm nhuần trong mọi tầng lớp nhân dân thì mới huy động được lực lượng toàn dân tiến hành chiến tranh một cách rộng rãi.
Chiến tranh toàn dân sẽ làm cho địch dù có thể đưa vào nước ta nhiều quân vẫn thấy thiếu, dù có dùng vũ khí phương tiện chiến tranh rất hiện đại nhưng cũng không thể phát huy hết tính năng, tác dụng tối đa của nó. Chiến tranh nhân dân rộng rãi sẽ đẩy quân thù vào mâu thuẫn giữa cách đánh tập trung với phân tán, giữa phòng ngự và tiến công, giữa đánh nhanh và kéo dài…, làm cho lực lượng vật chất của chúng ngày càng bị hao mòn, ý chí xâm lược ngày càng sa sút và cuối cùng nhất định chúng bị thất bại, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta nhất định thắng lợi.
Thực hiện toàn dân đánh giặc đòi hỏi phải động viên, tổ chức toàn dân đứng lên sát cánh cùng lực lượng vũ trang trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu chống lại chiến tranh xâm lược của kẻ thù. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta tiến hành chiến tranh tự vệ, chính nghĩa, nên lực lượng toàn dân đánh giặc của cả nước ngày nay có sự phát triển về chất so với trước kia. Chất lượng đó dựa trên cơ sở giác ngộ giai cấp, giác ngộ dân tộc, sự hiểu biết về nguyên nhân xảy ra chiến tranh, về âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, về tính chất phi nghĩa, phản nhân đạo của cuộc chiến mà chúng phát động chống nước ta. Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đến nay đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của các tầng lớp nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh được củng cố và tăng cường; vị thế đất nước trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, thế và lực của đất nước đã lớn mạnh lên nhiều, tạo điều kiện thuận lợi để cả dân tộc Việt Nam đứng lên đánh giặc, bảo vệ Tổ quốc.
Để phát huy được phong trào toàn dân đánh giặc phải có lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Quân đội được tổ chức vững mạnh là lực lượng quyết định trực tiếp trên chiến trường. Dân quân là lực lượng được tổ chức ở xã, phường, thị trấn; tự vệ được tổ chức ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị và tổ chức chính trị xã hội, là lực lượng rộng khắp trên cả nước, đây là lực lượng chủ yếu có nhiệm vụ “sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc bảo vệ địa phương cơ sở” (Luật Dân quân tự vệ). Bộ đội địa phương làm nòng cốt cho phong trào chiến tranh nhân dân ở địa phương, bộ đội chủ lực cùng lực lượng vũ trang địa phương làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc trên chiến trường cả nước. Phải kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương với tác chiến của các đơn vị chủ lực để thực hiện việc tiêu hao địch rộng rãi với những đòn tiêu diệt tập trung ở quy mô vừa và lớn, từng bước làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho ta, đánh bại ý chí xâm lược của chúng, giành thắng lợi.
Phải kết hợp các hình thức, biện pháp đấu tranh, đánh địch toàn diện trên tất cả các mặt trận, đánh địch ngay trên đất ta và cả nơi xuất phát của chúng; kết hợp lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, chiến tranh nhân dân địa phương và chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực; kết hợp tác chiến của lực lượng toàn dân đánh giặc trong khu vực phòng thủ địa phương với tác chiến của các binh đoàn chủ lực cơ động.
Nội dung tiến hành chiến tranh toàn diện là: kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa và tư tưởng, lấy đấu tranh quân sự là chủ yếu, lấy thắng lợi trên chiến trường là quyết định.
Đấu tranh vũ trang. Trong chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh vũ trang là một hình thức đấu tranh cơ bản, giữ vai trò quyết định trực tiếp trong việc tiêu hao, tiêu diệt lực lượng quân sự của địch. Đấu tranh vũ trang trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc phải phát huy truyền thống và những kinh nghiệm trong chiến tranh giải phóng, chống xâm lược, lựa chọn hình thức tác chiến và phương pháp tác chiến, quy mô, cách tổ chức, sử dụng lực lượng thích hợp. Phát động mọi người dân đều tham gia đánh giặc, đánh giặc mọi lúc mọi nơi, đánh vào mọi đối tượng địch. Phải dựa vào các công trình công sự, trận địa trong làng xã chiến đấu của thế trận khu vực phòng thủ, phát huy cao độ tác dụng của các loại vũ khí phương tiện có thể có để đánh địch, ngăn chặn địch từng bước, tiến công rộng khắp.
Đi đôi với nhiệm vụ đánh tiêu hao, tiêu diệt lực lượng quân sự của địch, phải hết sức chú ý đến bọn phản động trong nội địa, kịp thời phát hiện và nhanh chóng dập tắt mọi âm mưu và hoạt động bạo loạn lật đổ, bảo vệ vững chắc các mục tiêu. Có hình thức tác chiến, sử dụng lực lượng phù hợp trong thế trận chiến tranh chung của cả nước trong điều kiện chống chiến tranh xâm lấn biên giới, lãnh thổ, biển đảo của địch.
Đấu tranh chính trị. Trong chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh chính trị giữ vị trí hết sức quan trọng, đây là chỗ mạnh căn bản của ta. Đấu tranh chính trị phải nêu cao được chính nghĩa của ta, vạch trần bản chất xâm lược, phi nghĩa và tội ác dã man của địch. Đấu tranh chính trị phải kịp thời đập tan mọi luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, lừa gạt và chia rẽ của địch, mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cho bọn hiếu chiến xâm lược ngày càng bị cô lập và suy yếu về chính trị, tạo thuận lợi cho các mặt đấu tranh khác của ta.
Phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục làm cho toàn dân và cả nhân dân thế giới hiểu rõ bản chất chiến tranh xâm lược của kẻ thù, vạch trần tính chất phản động của chiêu bài “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch, vạch rõ tính chất phi nghĩa, phản nhân đạo, phản tiến bộ của chiến tranh mà chúng phát động chống nước ta. Đồng thời, khơi dậy trong nhân dân truyền thống yêu nước, ý chí quật cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm, ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, lòng căm thù giặc sâu sắc, làm cho mọi người chung sức, chung lòng chống giặc với tinh thần “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, với ý chí quyết tâm bảo vệ non sông gấm vóc.
Để toàn dân tích cực tham gia đấu tranh chính trị, ngay trong thời bình hiện nay phải đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ngày càng vững mạnh; quan tâm chăm lo đến đời sống nhân dân; không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phải làm cho dân tin Đảng, tin vào chính quyền, đoàn thể quần chúng. Đảng, chính quyền phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, toàn dân gắn bó với chế độ xã hội chủ nghĩa…, đó là chìa khóa của mọi thắng lợi. Đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị kết hợp chặt chẽ với các mặt trận đấu tranh khác, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, giành thắng lợi toàn diện cho chiến tranh.
Đấu tranh tư tưởng, văn hóa. Nội dung đấu tranh tư tưởng, văn hóa bao gồm nhiều vấn đề. Trong đó, cần phải chủ động tiến công làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch ngay tại từng cơ quan, đơn vị, đặc biệt là các cơ quan, tổ chức ở Trung ương. Phải nắm chắc mọi diễn biến ở từng địa bàn, từng cơ quan, tổ chức, từng đối tượng, kịp thời xử trí những tình huống phức tạp có thể xảy ra, đề phòng nguy cơ “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" từ trong nội bộ. Đề cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, đấu tranh loại trừ tham nhũng, lãng phí, quan liêu; ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống và đẩy lùi các tệ nạn xã hội tại từng cơ sở địa phương, cơ quan, tổ chức.
Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng phù hợp với các tầng lớp nhân dân; chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, tinh thần tự cường, tự chủ, truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, ngăn chặn các luồng văn hóa độc hại trong quá trình hội nhập, tăng cường kiểm duyệt về văn hóa, nhất là trên mạng thông tin đại chúng, mạng internet, các mạng xã hội, tăng cường kiểm tra ngăn chặn các hoạt động "vui chơi giải trí, văn hóa" trá hình. Đấu tranh tư tưởng, văn hóa phải được triển khai tích cực ngay từ thời bình và phát huy tốt khi có chiến tranh. Có như vậy, chúng ta mới phát triển được ảnh hưởng của cách mạng, xây dựng được tình cảm cách mạng sâu rộng, ý thức, trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của quần chúng nhân dân và tác động mạnh mẽ vào hàng ngũ kẻ thù.
Đấu tranh kinh tế. Trong chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh kinh tế là rất quan trọng nhằm duy trì và phát triển nền kinh tế đất nước, bảo đảm nhu cầu vật chất cho chiến tranh, kiềm chế và làm suy yếu tiềm lực kinh tế của địch. Trong tình hình hiện nay, nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, chúng ta càng phải nêu cao cảnh giác, làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch chống phá ta về kinh tế như bao vây, cấm vận; phải bảo vệ bằng được tiềm lực, cơ sở kinh tế của đất nước, bảo vệ các trung tâm kinh tế, các khu công nghiệp, khu chế xuất, bảo vệ sản xuất và ổn định đời sống cho nhân dân, bảo vệ lợi ích kinh tế của đất nước, của nhân dân. Thực hiện tự lực, tự cường, tự cung cấp ở địa phương, góp phần xây dựng tiềm lực kinh tế cho đất nước; đồng thời phải sử dụng tốt các nguồn viện trợ của các nước, các lực lượng tiến bộ trên thế giới (nếu có), đáp ứng tốt nhất yêu cầu về kinh tế, hậu cần cho chiến tranh.
Khi chiến tranh xảy ra, cùng với việc tích cực tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, cần phải đẩy mạnh phá hoại các phương tiện chiến tranh, đánh phá các cơ sở kinh tế của địch, vô hiệu hóa đúng pháp luật quốc tế các xí nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của nước ngoài đang ở trên đất nước ta mà có ý đồ chống đối ta. Đồng thời, phải có kế hoạch bảo vệ và duy trì hoạt động của các cơ sở sản xuất kinh tế của Trung ương cũng như của địa phương, bảo đảm cho nhu cầu tác chiến trước mắt cũng như lâu dài của các lực lượng trong chiến tranh.
Đấu tranh ngoại giao. Trong chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh ngoại giao có ý nghĩa chiến lược quan trọng nhằm nêu cao tính chất chính nghĩa, phát huy thế mạnh của ta trên trường quốc tế, vạch trần bản chất xâm lược phi nghĩa của địch, triệt để lợi dụng những mâu thuẫn, bế tắc trong hàng ngũ địch làm cho chúng ngày càng bị cô lập, lúng túng và bị động trên chiến trường, trong nước và trên thế giới.
Đấu tranh ngoại giao phải thực hiện từ thời bình, chủ động đấu tranh liên tục từ đầu và trong quá trình chiến tranh bằng nhiều hình thức tổ chức, huy động nhiều lực lượng tham gia, nhiều phương thức đấu tranh phong phú, kết hợp ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân, đấu tranh ngoại giao và đấu tranh quốc phòng. Trong quá trình đấu tranh ngoại giao, phải thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về  “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Cái bất biến đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa, sự lãnh đạo của Đảng, phải kiên quyết bảo vệ, giữ gìn. Phải thực hiện chính sách nhất quán thêm bạn bớt thù, lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, đó là một nguyên tắc chiến lược trong đấu tranh ngoại giao.
b) Kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực
Thực hiện chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới phải tiến hành chiến tranh nhân dân địa phương, chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực và kết hợp cả hai phương thức này. Đây là truyền thống quân sự độc đáo của dân tộc ta, là nội dung cơ bản của nghệ thuật phát động cả nước đánh giặc trong điều kiện mới. Ngày nay, sự kết hợp đó vẫn là quy luật giành thắng lợi của đấu tranh vũ trang trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, phải thực hiện ngay từ đầu và trong suốt quá trình chiến tranh.
Chiến tranh nhân dân địa phương là một phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại mới, là chiến tranh nhân dân được tổ chức tiến hành ở mỗi địa phương trên phạm vi cả nước. Chiến tranh nhân dân địa phương bao gồm các hoạt động tác chiến của nhân dân, của các lực lượng vũ trang địa phương (dân quân tự vệ, bộ đội địa phương…), có thể có cả các đơn vị bộ đội chủ lực đang làm nhiệm vụ tác chiến ở địa phương.
Thực hiện phương thức này, mọi người dân đều tham gia đánh địch ngay tại địa phương mình bằng mọi thứ vũ khí, với mọi hình thức, thủ đoạn tác chiến phong phú, đa dạng, có khả năng đánh địch nhanh nhất, kịp thời nhất ở mọi nơi, mọi lúc. Chiến tranh nhân dân địa phương đánh địch rộng khắp, thường xuyên, liên tục, thực hiện tiêu hao địch một cách rộng rãi, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ và vừa, gây cho chúng những tổn thất nghiêm trọng, làm tan rã từng bộ phận quân địch. Chiến tranh nhân dân địa phương kìm giữ địch, buộc chúng phải phân tán lực lượng đối phó rộng khắp trên các địa bàn; tạo thế trận chiến tranh xen kẽ đánh vào bên sườn, sau lưng địch. Tạo điều kiện tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực và phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân địa phương. Chiến tranh nhân dân địa phương phát triển có tác dụng to lớn trong việc tổ chức động viên toàn dân đánh giặc trên từng địa phương cũng như trong cả nước; phát huy sức mạnh tại chỗ bảo vệ, duy trì và phát triển tiềm lực mọi mặt trong quá trình chiến tranh, sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến, xây dựng, củng cố hậu phương vững mạnh.
Trong điều kiện ngày nay, chiến tranh nhân dân địa phương giữ vai trò chủ yếu quyết định trong việc đập tan bạo loạn lật đổ xảy ra tại địa phương, cùng với lực lượng an ninh duy trì an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ cơ quan đảng, chính quyền các cấp ở địa phương. Đồng thời, cùng với các đơn vị bộ đội chủ lực hình thành hệ thống phòng không rộng khắp, nhiều tầng trong khu vực phòng thủ, sẵn sàng đánh trả địch tiến công bằng hỏa lực ngày từ đầu. Lực lượng tiến hành chiến tranh nhân dân địa phương là lực lượng của toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang địa phương làm nòng cốt. Các lực lượng được tổ chức, bố trí trên từng khu vực địa bàn tỉnh, thành phố, huyện quận, làng xã, phố phường chiến đấu, các khu vực phòng thủ để thực hiện các nhiệm vụ được giao, khi cần thiết có thể điều động sang địa phương, khu vực khác tham gia tác chiến.
Để bảo đảm cho lực lượng toàn dân kịp thời đánh địch và đánh địch có hiệu quả, trong thời bình cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng làng xã vững mạnh toàn diện, xây dựng địa bàn an toàn làm chủ. Đồng thời, thực hiện phòng thủ dân sự, kế hoạch phòng tránh đánh địch tiến công bằng hỏa lực. Trên cơ sở đó, khi chiến tranh xảy ra kịp thời triển khai xây dựng thành làng xã, khu vực chiến đấu theo phương án tác chiến phòng thủ địa bàn, biên giới, biển đảo, kịp thời chuyển sang thời chiến, chủ động đánh địch, hạn chế tổn thất về người, trang bị vật chất kỹ thuật, giành thắng lợi.
Chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực là một phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại mới, bao gồm các hoạt động tác chiến tập trung bằng các binh đoàn chủ lực cơ động của Bộ Quốc phòng, của các quân khu, quân chủng tiến hành các trận đánh vừa và lớn, các chiến dịch trên các chiến trường cả nước, hay trên từng hướng chiến lược quan trọng, nhằm tiêu diệt lực lượng vừa và lớn quân địch, tạo bước ngoặt quyết định, hoặc tạo cục diện có lợi trên từng chiến trường, trong từng giai đoạn chiến tranh, hay cả cuộc chiến tranh.
Trong chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực giữ vai trò quyết định trực tiếp tiêu diệt lực lượng vừa và lớn quân địch, tạo nên sự thay đổi tương quan so sánh lực lượng và cục diện chiến trường có lợi cho ta, làm thất bại mọi âm mưu, kế hoạch chiến lược của địch, bảo vệ vững chắc các mục tiêu chiến lược của quốc gia. Chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực hỗ trợ trực tiếp cho chiến tranh nhân dân địa phương dẹp bạo loạn, kết hợp với chiến tranh nhân dân địa phương và các mặt đấu tranh khác đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù.
Lực lượng tiến hành chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực được bố trí trên các địa bàn chiến lược, trên chiến trường cả nước hoặc trên một số hướng quan trọng, cùng với các khu vực phòng thủ hình thành thế trận vững chắc trên từng địa phương cũng như cả nước; khi cần cũng có thể bố trí và làm nhiệm vụ tác chiến trên từng địa phương. Bộ đội chủ lực hoạt động tác chiến trên địa bàn địa phương, địa phương tạo mọi điều kiện thuận lợi và phối hợp hoạt động tác chiến với bộ đội chủ lực, tạo nên sức mạnh quân sự to lớn đánh địch.
Kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực. Mỗi phương thức tiến hành chiến tranh đều có vai trò, vị trí, tác dụng to lớn, nhưng cần phải được kết hợp chặt chẽ mới tạo ra sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân. Chiến tranh nhân dân địa phương là cơ sở của chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực. Chỉ trong điều kiện chiến tranh nhân dân địa phương lớn mạnh, mới có khả năng cung cấp nhân lực, cơ sở vật chất, có khả năng đánh địch rộng khắp, kìm giữ, tiêu hao địch rộng rãi, buộc địch phải phân tán đối phó khắp nơi; khi đó các đơn vị bộ đội chủ lực mới có điều kiện thuận lợi tập trung lực lượng đánh tiêu diệt lớn địch, phát huy tác dụng mạnh mẽ của mình và không ngừng phát triển. Cho nên, chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực phải kết hợp chặt chẽ với chiến tranh nhân dân địa phương và phải tạo điều kiện cho chiến tranh nhân dân địa phương giữ vững và phát triển.
Nội dung kết hợp là kết hợp lực lượng tại chỗ với lực lượng cơ động; các quy mô, các cách đánh; các loại vũ khí trang bị; kết hợp giữa đánh tập trung của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương với đánh phân tán rộng khắp của dân quân tự vệ, bộ đội địa phương và lực lượng của toàn dân đánh giặc; kết hợp giữa đánh tiêu hao với đánh tiêu diệt địch trên mọi chiến trường, trên đất liền, biên giới, trên không, trên biển, trong mọi không gian và thời gian chiến tranh.
Hai phương thức kết hợp chặt chẽ với nhau sẽ tạo ra địa bàn, thế trận, thời cơ, bổ sung lực lượng cho nhau, hỗ trợ cho nhau, phát huy được mặt mạnh, khắc phục được mặt yếu của nhau, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển. Kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực và cùng với các mặt đấu tranh khác của toàn dân sẽ tạo thành sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân trong mọi lúc, mọi nơi.
3. Nghệ thuật quân sự trong chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
a) Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công
Chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là cuộc chiến tranh được kế thừa những tinh hoa quân sự của nhân loại, phát huy truyền thống và nghệ thuật quân sự độc đáo của dân tộc; phát huy cả yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại để phát triển chiến tranh nhân dân lên một trình độ mới, với chất lượng cao hơn. Nội dung cơ bản của phương châm chỉ đạo chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là: Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện; đánh địch trên các chiến trường, tập trung sức đánh bại địch trên hướng (khu vực) trọng điểm; thu hẹp không gian, rút ngắn thời gian chiến tranh; vừa chiến đấu, vừa xây dựng, dựa vào mình là chính, ra sức tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi trong hoàn cảnh mới, tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn nhất đánh bại ý chí xâm lược của địch, giành thắng lợi cho chiến tranh.
Tư tưởng chiến lược tiến công là tư tưởng cơ bản, chi phối trong phương châm chỉ đạo chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Cách mạng là tiến công, chiến tranh cách mạng là tiến công, tiến công kiên quyết, liên tục. Đây là tư tưởng cơ bản, xuyên suốt, chỉ đạo mọi hoạt động trong quá trình chuẩn bị cũng như tiến hành chiến tranh. Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, nhờ quán triệt sâu sắc và vận dụng đúng đắn tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng, chúng ta đã tiêu hao, tiêu diệt địch, giành thắng lợi từng bước tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn, kết thúc thắng lợi chiến tranh.
Ngày nay, chúng ta thực hiện đổi mới đất nước, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp về lực lượng, thế trận, cơ sở vật chất, hậu cần tại chỗ, gia tăng sức mạnh quân sự, sức mạnh tổng hợp quốc gia. Nếu xảy ra chiến tranh xâm lược, chúng ta có đầy đủ điều kiện để tiến công và tiến công một cách có hiệu quả, đánh bại chiến tranh xâm lược của địch với mọi quy mô và trình độ, trong mọi tình huống, không gian và thời gian, trên đất liền, biên giới, hay biển đảo.
Tư tưởng chiến lược tiến công phải được thể hiện khi đất nước chưa có chiến tranh, bằng sự nỗ lực gia tăng sức mạnh quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng quân đội nhân dân vững mạnh, xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cho các tầng lớp nhân dân...; khắc phục trình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; nâng cao ý thức "tự bảo vệ" cho mọi tổ chức, mọi con người, đặc biệt là cán bộ công chức trong các cơ quan, tổ chức ở Trung ương. Quán triệt và thực hiện tốt trong thực tiễn quan điểm: "Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn"[14].
Khi chiến tranh xảy ra, tư tưởng chiến lược tiến công được thể hiện ý chí quyết chiến quyết thắng, ở hành động chiến đấu, phục vụ chiến đấu của quân dân cả nước, tiến công đến thắng lợi hoàn toàn. Trong vận dụng các hình thức tác chiến, nghệ thuật quân sự của ta chủ trương có tiến công, có phòng ngự, nhưng tiến công là chủ yếu. Đó là tư tưởng và hình thức tác chiến cơ bản của quân và dân ta. Trong chiến tranh, phải chủ động tiến công địch ở thời điểm, thời cơ lựa chọn, trực tiếp tiêu hao, tiêu diệt địch, làn hạn chế khả năng tiến công của địch.
Tiến công phải nắm vững nguyên tắc chắc thắng, không phiêu lưu, mạo hiểm, phải tiết kiệm lực lượng, phải chủ động tạo thời cơ, điều kiện thuận lợi để tiến công, đánh chắc thắng. Trong thế tiến công, khi cần thiết có nơi, có lúc, nhất là trong thời kỳ đầu chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thực hiện phòng thủ, sơ tán, ngụy trang, phòng ngự ngăn chặn, tiêu hao, tiêu diệt địch để tạo điều kiện cho phản công, tiến công.
Dù tác chiến phòng ngự, phòng thủ với quy mô nào cũng phải quán triệt tư tưởng tiến công, thực hiện với tinh thần tích cực, kiên quyết, "phòng ngự phản công". Biết địch biết ta trăm trận trăm thắng. Muốn thực hiện tốt tư tưởng tiến công phải đánh giá đúng so sánh địch ta một cách khách quan, toàn diện theo quan điểm biện chứng. Trong chiến tranh, ta có thể tìm ra chỗ yếu, những hạn chế của địch ở từng nơi, từng lúc, dùng lực lượng thích hợp, cách đánh thích hợp để tiến công tiêu hao, tiêu diệt, đánh đuổi chúng, bảo vệ biên giới, lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc. Chiến tranh càng kéo dài, do sự cố gắng của ta, kẻ địch ngày càng suy yếu và lâm vào sa lầy, đặc biệt là về chính trị tinh thần, những chỗ mạnh về quân sự của chúng ngày càng bị suy giảm, những chố yếu của chúng ngày càng bộc lộ và phát triển, nhất là khi chúng buộc phải tiến công trên bộ.
Trên cơ sở đánh giá đúng chỗ mạnh và chỗ yếu của địch, phải biết vận dụng linh hoạt mọi lực lượng, mọi hình thức và quy mô tác chiến, mọi cách đánh, mọi thứ vũ khí trang bị có thể có thực hiện tiến công địch một cách liên tục, mọi lúc, mọi nơi, thực hiện "tâm công", làm công tác binh vận, làm rệu rã hàng ngũ của kẻ thù. Thực hiện tiến công địch một cách toàn diện, liên tục cả khi địch "không trực tiếp tiếp xúc" và cả khi địch "trực tiếp tiếp xúc", đánh địch mọi nơi, mọi lúc, đánh cả vào nơi xuất phát tiến công của chúng.
b) Nghệ thuật lấy ít địch nhiều
“Lấy ít địch nhiều” là một nét nghệ thuật quân sự độc đáo của dân tộc Việt Nam trong lịch sử giữ nước, chống ngoại xâm mấy nghìn năm. Trong chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nghệ thuật lấy ít địch nhiều được kế thừa, bổ sung và phát triển lên tầm cao mới, với chất lượng mới. Tính chất "ít", "nhiều" trong điều kiện các thế lực đế quốc, thù địch tiến hành chiến tranh chống nước ta, xâm lấn biên giới, biển đảo, hoặc trên quy mô lớn có nhiều nét mới so với trước kia. Sức mạnh của địch không chỉ thể hiện trực tiếp bằng binh lực và hỏa lực được sử dụng trực tiếp trong chiến tranh, trên chiến trường, trên các hướng tiến công, mà còn thể hiện ở sức mạnh quân sự quốc gia, sức mạnh đất nước và đồng minh của chúng.
Nghệ thuật "lấy ít địch nhiều" đòi hỏi phải phát huy cao nhất sức mạnh nội lực, sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại. Đồng thời, phải thực hiện mọi hình thức, biện pháp tác chiến phù hợp, mưu trí, sáng tạo, nhằm phát huy lợi thế của ta, khoét sâu hạn chế, nhược điểm của địch, làm suy giảm sức mạnh của chúng, biết tập trung lực lượng và sức mạnh cần thiết để giành thắng lợi bộ phận, tiến tới giành thắng lợi toàn cục.
"Lấy ít địch nhiều" là dùng lực lượng nhỏ mà thắng lực lượng lớn, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh và khả năng đánh giặc của toàn dân, của cả ba thứ quân, tận dụng yếu tố bí mật, bất ngờ, hạn chế thương vong, tổn thất, tiết kiệm lực lượng, bảo đảm hiệu suất chiến đấu cao, giữ gìn và bồi dưỡng lực lượng, đáp ứng yêu cầu chiến tranh. Quán triệt tư tưởng "lấy ít địch nhiều", nhưng khi cần thiết phải biết tập trung lực lượng nhiều hơn địch một cách hợp lý để tiêu diệt địch, giành thắng lợi. Dù "lấy ít địch nhiều" hay tập trung lực lượng nhiều hơn địch một cách hợp lý, thì đều cần phải thực hiện tốt yêu cầu là trong mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch phải tạo thành sức mạnh chiến đấu mạnh hơn địch, đánh địch trên thế mạnh, thế áp đảo, nhất là ở những thời điểm và thời cơ quyết định.
c) Phòng tránh, đánh trả
Trong điều kiện phải tiến hành chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược của kẻ thù, chúng ta cần thực hiện tốt việc phòng tránh, đánh trả, đặc biệt trong điều kiện chiến tranh xâm lược quy mô lớn với việc sử dụng vũ khí công nghệ cao. Phòng tránh, đánh trả phải quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, phải trở thành một tư tưởng chỉ đạo nghệ thuật và cách đánh quan trọng của chúng ta trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Phòng tránh, đánh trả cần phải được thực hiện tốt, nhất là trong giai đoạn đầu chiến tranh, đặc biệt trong điều kiện chiến tranh xâm lược quy mô lớn với việc sử dụng vũ khí công nghệ cao. Phòng tránh, đánh trả không phải là hoạt động thụ động, mà là một hoạt động chủ động, có tổ chức, có kế hoạch, vừa để bảo toàn lực lượng vừa tạo điều kiện, thời cơ để phản công, tiến công địch.
Phòng tránh, đánh trả không đơn thuần là thực hiện các biện pháp quân sự, sơ tán, nghi binh, nguỵ trang, bảo toàn lực lượng...; mà đó phải là các hoạt động của toàn thể xã hội, của tất cả các cấp, các ngành, của các lực lượng vũ trang, của cả các lực lượng dân sự theo một kế hoạch tổng thể thống nhất, điều hành chu đáo, bao gồm cả hoạt động trong nước và hoạt động ở nước ngoài, nhất là hoạt động bên nước đối phương đang tiến công ta. Ở đây, có những nội dung của vấn đề bảo vệ Tổ quốc từ xa, tiến công vào nơi xuất phát tiến công của địch.
d) Phát huy sức mạnh tổng hợp, đánh bại ý chí xâm lược của địch, kết thúc chiến tranh trong điều kiện có lợi
Chiến tranh dài hay ngắn, không gian rộng hay hẹp tùy thuộc vào mục đích chính trị của chiến tranh, so sánh lực lượng và sự nỗ lực của hai bên trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến tranh. Để giành thắng lợi, chúng ta phải phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đủ sức chiến thắng quân thù. Ngay từ thời bình, phải quán triệt và thực hiện tốt quan điểm của Đảng: "Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống"[15].
Trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc nếu xảy ra, không gian chiến tranh có thể sẽ mở rộng cả trên bộ, trên biển, trên không, trên biên giới, trong đất liền, hải đảo. Đánh bại ý chí xâm lược của địch là vấn đề cơ bản trong mục đích của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Muốn đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù phải sử dụng và phát huy nghệ thuật đánh giặc, mưu trí, sáng tạo, từng bước thu hẹp không gian chiến tranh, rút ngắn thời gian chiến tranh. Để thực hiện thu hẹp không gian chiến tranh, trước hết đối với từng khu vực phòng thủ phải tự lực đánh địch, bảo vệ địa phương, thực hiện làng giữ làng, xã giữ xã, huyện (quận) giữ huyện (quận), tỉnh (thành phố) giữ tỉnh (thành phố); phải bám trụ kiên cường, một tấc không đi một ly không rời, cài xen kẽ cao độ với địch để chủ động đánh địch, kìm giữ địch.
Tiến hành chiến tranh chống Việt Nam, các thế lực đế quốc, thù địch dựa vào sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ để thực hiện đánh nhanh, giải quyết nhanh theo học thuyết tác chiến không - bộ, nhằm đạt mục đích chiến tranh xâm lược trong thời gian nhắn nhất, tránh bị tổn thất lớn về sinh lực mà lại xâm chiếm được lãnh thổ biên giới, biển đảo nước ta, khuất phục được chúng ta, lật đổ được chế độ của nhân dân ta. Đối với nước ta, để đánh bại ý đồ của các thế lực đế quốc, thù địch, chúng ta phải buộc chúng sa lầy, đồng thời tập trung mọi nỗ lực tạo thời cơ có lợi, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi trong thời gian ngắn.
Muốn tạo ra thời cơ có lợi, tranh thủ thời cơ có lợi để đánh thắng địch trong thời gian ngắn, trên cơ sở chuẩn bị chu đáo mọi mặt từ thời bình (lực lượng, thế trận, tư tưởng lẫn vật chất, hậu cần - kỹ thuật...), khi chiến tranh xảy ra phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, của toàn dân, vận dụng linh hoạt các hình thức và phương pháp đấu tranh với sự nỗ lực cao nhất, tạo ra điều kiện, thời cơ có lợi cho lực lượng quân sự. Khi thời cơ xuất hiện, kịp thời nắm lấy thời cơ, tiến công kiên quyết và mạnh mẽ, đánh bại ý chí xâm lược của địch giành thắng lợi trong thời gian ngắn, hoặc tương đối ngắn.
III. CHUẨN BỊ ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI BÌNH VÀ CHUYỂN ĐẤT NƯỚC TỪ THỜI BÌNH SANG THỜI CHIẾN
1. Chuẩn bị đất nước trong thời bình
Chiến tranh là một sự thử thách toàn diện cả về sức mạnh vật chất và tinh thần của mỗi nước. Bởi vậy, ngay từ thời bình phải có những giải pháp để không ngừng nâng cao sức mạnh tổng hợp cả về lực lượng, thế trận của từng địa phương và cả nước, để ngăn ngừa, đẩy lùi chiến tranh, sẵn sàng chuyển đất nước sang thời chiến, đối phó thắng lợi với chiến tranh.
a) Xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt
Xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt là cách tốt nhất để bảo vệ đất nước, giữ  vững hòa bình, ổn định lâu dài. Nội dung cần tập trung giải quyết:
 
Phải thực hiện thắng lợi các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, không ngừng chăm lo đến đời sống tinh thần, vật chất cho nhân dân, triển khai thực hiện tốt chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước. Đây là nền tảng vững chắc để động viên sức mạnh của toàn dân đánh giặc. Đồng thời phải khắc phục các nguy cơ của đất nước, phòng chống có hiệu quả mọi âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lạt đổ của các thế lực thù địch và bọn phản động, phải chú trọng khắc phục các nguy cơ nội sinh (chệnh hướng xã hội chủ nghĩa, tụt hậu về kinh tế, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"), làm cho dân tin Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, trong từng các cơ quan, tổ chức ở Trung ương phải thực hiện thật tốt những nội dung này. Có như vậy, chúng ta mới xây dựng được “thế trận lòng dân” vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Tăng cường giáo dục quốc phòng cho toàn dân, làm cho mọi người dân nhận thức được quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, biên giới, biển đảo; nhận thức được âm mưu, thủ đoạn của địch, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng; có kiến thức nhất định về quốc phòng - an ninh, quân sự; hiểu biết về các thủ đoạn chiến tranh, chống phá, xâm chiếm, xâm lấn của địch; hiểu biết về tính năng tác dụng của các loại vũ khí trang bị hiện đại và có biện pháp chủ động phòng tránh thiệt hại, tổn thất ban đầu bởi đòn tiến công bằng hỏa lực của địch.
Quá trình xây dựng đất nước phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh. Sự kết hợp này phải được thể hiện trong các cấp, các ngành, các địa phương trên mọi lĩnh vực. Cơ quan quân sự các cấp làm tham mưu cho các cấp, các ngành thực hiện tốt sự kết hợp đó.
Xây dựng các tổ chức đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, phát huy vai trò và hiệu lực điều hành của chính quyền, phát huy quyền làm chủ của nhân dân thực hiện tốt công cuộc chuẩn bị đất nước và tiến hành chiến tranh thắng lợi.
Chuẩn bị đầy đủ các kế hoạch động viên thời chiến, tập trung kế hoạch động viên kinh tế, động viên công nghiệp, động viên lực lượng vũ trang. Tăng cường xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng các làng xã vững mạnh toàn diện (khi chiến tranh xảy ra chuyển thành làng xã, phố phường chiến đấu).
Chuẩn bị đầy đủ mọi mặt trên cả nước cũng như từng khu vực đáp ứng yêu cầu chiến tranh với mọi quy mô và tình huống là nhiệm vụ và giải pháp trọng yếu, cấp bách, thường xuyên. Hoạt động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm tăng nhanh các tiềm lực vật chất, tinh thần của từng địa phương, của đất nước, bảo đảm cho từng địa phương và cả nước có đủ khả năng chủ động, tự lực đánh địch, giành thắng lợi trong bất cứ tình huống nào, bảo vệ vững chắc địa phương, bảo vệ đất nước. Nội dung chuẩn bị phải toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân phù hợp với hoàn cảnh mới, chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc khi chiến tranh xảy ra.
Chuẩn bị tốt thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, xây dựng thế trận khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng các làng xã chiến đấu, các cụm chiến đấu trọng điểm. Bảo đảm đủ sức bám trụ đánh được địch trên nhiều chiều không gian chiến tranh, đồng thời tạo được thế và lực, tạo thời cơ để thu hẹp không gian chiến tranh, giành thắng lợi trên chiến trường trên bộ là chính, không cho chúng mở rộng chiến tranh.
Chú trọng xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc tạo nền tảng cho thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thế trận đó phải đáp ứng yêu cầu, trong thời bình thì mọi tầng lớp nhân dân hăng hái lao động sản xuất, chung sức chung lòng xây dựng đất nước mạnh giàu; khi chiến tranh xảy ra thì thực hiện chiến tranh nhân dân, cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc, quân với dân một ý chí quyết tâm chiến thắng quân thù.
b) Xây dựng quân đội và lực lượng vũ trang vững mạnh
Xây dựng quân đội vững mạnh là vấn đề cơ bản và cấp bách nhằm đáp ứng yêu cầu chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hiện nay, phải quán triệt sâu sắc quan điểm Đại hội XI của Đảng: "Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin yêu. Xây dựng Quân đội nhân dân với số quân thường trực hợp lý, có sức chiến đấu cao; lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp"[16]. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh; tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, “bảo đảm cho các lực lượng vũ trang từng bước hiện đại, trước hết là cho lực lượng hải quân, phòng không, không quân”[17]. Đối với các địa phương, chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, xây dựng dân quân tự vệ, xây dựng và quản lý lực lượng dự bị động viên mạnh về mọi mặt, đặc biệt về chất lượng chính trị, bảo đảm luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của chính quyền và nhân dân.
Các cơ quan tổ chức ở Trung ương cần nắm vững quan điểm quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng trong tình hình mới, nâng cao kiến thức quốc phòng, quân sự, ý thức bảo vệ Tổ quốc và trách nhiệm của cán bộ công chức trong thực hiện các nhiệm quân sự, quốc phòng, nêu cao ý chí quyết tâm và tinh thần sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
c) Chuẩn vị đất nước sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược
Đây là những giải pháp chuẩn bị trực tiếp khi đã xuất hiện những dấu hiệu có thể xảy ra chiến tranh, trong đó có những việc phải thực hiện từ thời bình. Nội dung chuẩn bị phải toàn diện, trong đó cần tập trung ba vấn đề chính:
Chuẩn bị nhân dân
Trong chuẩn bị nhân dân đáp ứng yêu cầu chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, việc chuẩn bị về chính trị tinh thần cho các tầng lớp nhân dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Theo đó, cần chú trọng giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc, kiến thức quốc phòng, quân sự cần thiết cho nhân dân. Làm cho nhân dân nhận thức rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, tính chất khốc liệt của chiến tranh, tập trung vào những khu vực dự kiến địch có thể đánh phá ác liệt để nhân dân không hoang mang dao động, sẵn sàng chịu đựng gian khổ hy sinh, bám trụ kiên cường, vừa chiến đấu vừa sản xuất; đồng thời tin tưởng vào sức mạnh, vào khả năng chiến thắng của quân đội và đất nước, quyết tâm chiến đấu chống giặc. Trong thời bình, cần gắn với các nội dung, biện pháp phòng tránh, phân tán, sơ tán cho nhân dân. Đồng thời huấn luyện cho nhân dân làm tốt công tác phòng thủ dân sự để nhân dân tự bảo vệ tính mạng, tài sản của mình và sẵn sàng tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu khi chiến tranh xảy ra.
Chuẩn bị lực lượng vũ trang
Chuẩn bị lực lượng vũ trang toàn diện, tập trung vào chuẩn bị và phát triển bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, theo yêu cầu thời chiến; đồng thời sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ động viên quân dự bị bảo đảm đúng, đủ; chuẩn bị vật chất kỹ thuật bảo đảm cho các lực lượng chiến đấu khi chiến tranh xảy ra. Bên cạnh việc chuẩn bị về lực lượng, chuẩn bị vật chất và vũ khí trang bị, cần chú trọng chuẩn bị về chính trị tinh thần cho lực lượng vũ trang, chuẩn bị tốt ý chí quyết tâm chiến đấu cho các đơn vị lực lượng vũ trang, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ biên giới, biển đảo trong mọi tình huống chiến tranh.
Chuẩn bị về kinh tế
Chuẩn bị về kinh tế phải được chú trọng chuẩn bị tốt ngay từ thời bình, để khi chiến tranh xảy ra có thể nhanh chóng chuyển kinh tế sang thời chiến đáp ứng tốt nhất yêu cầu chiến tranh. Chuẩn bị tốt kế hoạch sẵn sàng chuyển mọi hoạt động của nền kinh tế theo yêu cầu của chiến tranh, bảo đảm vừa duy trì phát triển sản xuất vừa bảo đảm ổn định đời sống của nhân dân, vừa đáp ứng theo yêu cầu chiến tranh ở từng địa phương và trên phạm vi cả nước, kể cả trong điều kiện bị phong tỏa, cấm vận, bao vây. Các ngành kinh tế của đất nước sẵn sàng điều chỉnh lại nhân lực, dự trữ các loại nguyên liệu, nhiên liệu, chú trọng nguyên vật liệu cần thiết và khó có thể mua được khi chiến tranh xảy ra.
2. Chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến
a) Yêu cầu chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến
Nắm chắc mọi âm mưu và diễn biến hành động của địch, chuyển đất nước sang thời chiến chính xác, kịp thời, bảo đảm hạn chế thấp nhất tổn thất của ta trong thời gian đầu chiến tranh, nhanh chóng tăng cường sức mạnh toàn diện của đất nước để sẵn sàng đối phó với các tình huống chiến tranh.
Chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến phải rất khẩn trương, trên cơ sở có kế hoạch và chuẩn bị tốt từ trong thời bình, để trong một thời gian ngắn phải phát triển được lực lượng, triển khai được thế trận, đáp ứng yêu cầu chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Các cấp, các ngành, các địa phương phải hoàn thành tất cả các chỉ tiêu động viên ngay sát trước khi chiến tranh xảy ra, bảo đảm đáp ứng tốt nhất yêu cầu chiến tranh.
b) Nội dung chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến
Chuyển toàn diện, chiến tranh cần cái gì phải chuyển cái đó, trọng tâm chuyển hoạt động của các tổ chức đảng, chính quyền sang hoạt động ở trạng thái thời chiến để bảo đảm thường xuyên, liên tục sự lãnh đạo, điều hành chiến tranh và quản lý mọi hoạt động của xã hội.
Chuyển lực lượng vũ trang sang thời chiến, bảo đảm lực lượng vũ trang kịp thời đánh địch bảo vệ đất nước, bảo vệ xóm làng, bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo, không để bị bất ngờ.
Thực hiện kế hoạch phòng thủ dân sự, tổ chức phòng tránh địch tiến công hỏa lực công nghệ cao và kịp thời đánh trả có hiệu quả các phương tiện hỏa lực công nghệ cao của địch; đánh trả có hiệu quả các hành động của địch xâm lấn, xâm chiếm biên giới, đất liền, biển đảo của Tổ quốc.
Chuyển mọi hoạt động về kinh tế sang thời chiến bảo đảm cao nhất nhu cầu chiến đấu của nhân dân và các lực lượng vũ trang, đồng thời bảo đảm ổn định đời sống cho nhân dân.
c) Phương pháp chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến
Đối với cả nước phải được xác định rất khoa học, chuyển từng ngành, từng bộ phận, từng khu vực đến chuyển toàn bộ.
Đối với từng địa phương cơ sở, khi có lệnh chuyển sang thời chiến, căn cứ vào mệnh lệnh, dựa vào kế hoạch để chuyển toàn bộ cùng lúc.
Trong quá trình chuyển sang thời chiến, tình hình chính trị - xã hội sẽ diễn biến hết sức phức tạp, cần phải có biện pháp lãnh đạo tốt để ổn định tinh thần, tâm lý và đời sống của nhân dân.
Chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới là cuộc chiến tranh do toàn thể nhân dân Việt Nam tiến hành, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự điều hành của Nhà nước xã hội chủ nghĩa chống chiến tranh xâm lược của thế lực đế quốc, thù địch nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Cán bộ công chức thuộc các cơ quan, tổ chức ở Trung ương có vai trò, trách nhiệm quan trọng trong chuẩn bị và tiến hành chiến tranh.
Để hoàn thành trọng trách đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong điều kiện phải tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, mỗi cán bộ ở các cơ quan Trung ương phải nắm vững quan điểm, t­ư t­ưởng cơ bản của Đảng và Nhà nư­ớc về chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; có tri thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực công việc mình phụ trách; nâng cao kiến thức quốc phòng, quân sự, nêu cao ý thức dân tộc, ý thức giai cấp, ý thức trách nhiệm công dân, người cán bộ đảng viên của Đảng, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
 
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Mục đích, tính chất, đặc điểm chiến tranh xâm lược của các thế lực đế quốc, thù địch đối với Việt Nam trong tình hình mới?
2. Phương thức và nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới?
3. Trách nhiệm của công chức, viên chức thuộc các cơ quan, tổ chức thuộc khối bộ ngành Trung ương và cấp tỉnh, cấp huyện trong chuẩn bị và tiến hành chiến tranh?
Chuyên đề 2
PHÒNG, CHỐNG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”,
BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI
CÁCH MẠNG VIỆT NAM
                                                       Biên soạn: Đại tá, TS Lưu Ngọc Khải
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”, BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC VÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
1. Chiến lược diễn biến hoà bình
a) Khái niệm
Chiến lược diễn biến hoà bình là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự, thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hoá chế độ chính trị - xã hội theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản do Mỹ thao túng, bá quyền. Thuật từ diễn biến hoà bình còn được sử dụng thay thế bằng các thuật từ khác như chiến tranh không có tiếng súng, cách mạng màu, cách mạng nhung, cách mạng hoa hồng, chiến thắng không cần chiến tranh... Đặc trưng cơ bản để nhận biết chiến lược diễn biến hoà bình so với các chiến lược phản cách mạng khác: Một là, đây là cuộc chiến không sử dụng súng, không mùi thuốc súng. Hai là, đây là cuộc chiến chủ yếu sử dụng các công cụ mềm như kinh tế, ngoại giao, văn hoá, tư tưởng, khi cần mới sử dụng sức mạnh quân sự để răn đe đối phương. Ba là, tác động từ bên ngoài vào tạo nên sự chuyển hoá, tự diễn biến, tự suy yếu bên trong các nước xã hội chủ nghĩa, thông qua con người, lực lượng và phương tiện của chính đối phương. Bốn là, không phá huỷ của cải vật chất của đối phương bằng sức mạnh quân sự, chủ yếu ru ngủ gây mất cảnh giác cách mạng của nhân dân lao động, mua chuộc, lôi kéo những người có chức vụ cao trong cơ quan Đảng và Nhà nước, những văn nghệ sĩ, tri thức có uy tín, những người có tư tưởng dao động, nhận thức lệch lạc hoặc bất mãn với chế độ. Năm là, chiến lược diễn biến hoà bình mang tính toàn cầu, được triển khai trên quy mô lớn và rộng khắp, tiến hành gặm nhấm, không vội vã, có trọng tâm, trọng điểm, từng bước làm cho đối phương rối loạn nội bộ rồi sụp đổ... diễn biến hoà bình đã trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của các nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô. Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch phản động đang đẩy mạnh diễn biến hoà bình đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. diễn biến hoà bình do các thế lực thù địch tiến hành đã và đang là một trong bốn nguy cơ của cách mạng Việt Nam. Đảng ta đã khẳng định: diễn biến hòa bình do các thế lực thù địch gây ra - đến nay vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen, tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào[18].
b) Khái quát sự hình thành, phát triển của chiến lược diễn biến hoà bình
Sự ra đời chiến lược diễn biến hoà bình có một lịch sử phức tạp qua nhiều giai đoạn, bắt nguồn từ Mỹ nhằm mục đích chống phá sự nghiệp cách mạng của những nước tiến bộ, đặc biệt là chống các nước xã hội chủ nghĩa. Nghiên cứu về chiến lược diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch, đứng đầu là đế quốc Mỹ có thể khái quát thành ba giai đoạn chủ yếu sau:
  Một là, giai đoạn manh nha hình thành, khảo nghiệm chiến lược diễn biến hoà bình để ngăn chặn chủ nghĩa xã hội (từ cuối thập kỷ 40 đến giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX): Đây là giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ngăn chặn chủ nghĩa xã hội được thực hiện bằng biện pháp quân sự là chủ yếu, diễn biến hoà bình manh nha hình thành và ngày càng được phát triển thành một chiến lược chống cộng. Các chiến lược gia tiêu biểu: đại diện lâm thời Mỹ tại Liên Xô G.Kennan; các tổng thống Mỹ Truman, Aixenhao, Kennơđi, Níchsơn; các Ngoại trưởng Mỹ Arkison, F.Alét, H.Kissingơ.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, một loạt nước xã hội chủ nghĩa ra đời và trở thành một hệ thống xã hội chủ nghĩa, chiếm 35% dân số thế giới. Uy tín, địa vị và ảnh hưởng quốc tế của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa được nâng cao, là thành trì, là chỗ dựa vững chắc của phong trào đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ của nhân dân thế giới. Các phong trào trên tạo thành ba dòng thác cách mạng tiến công vào chủ nghĩa đế quốc trên khắp thế giới. Sự lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc đã làm thay đổi căn bản tương quan so sánh thế giới. 
Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa đế quốc đã tiến hành chiến lược toàn cầu nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, làm suy yếu, thu hẹp địa bàn ảnh hưởng của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Với chiến lược vượt lên ngăn chặn này, chủ nghĩa đế quốc sử dụng biện pháp quân sự là chủ yếu, chúng xây dựng căn cứ quân sự khắp nơi, lập các khối liên minh quân sự, can thiệp vũ trang và tiến hành chiến tranh xâm lược. Đồng thời, các thế lực thù địch rất coi trọng diễn biến hoà bình trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa, ở Cộng hoà dân chủ Đức (1953), Ba Lan, Hunggari (1956) và phong trào mùa xuân Praha - Tiệp Khắc (1968), với các mức độ khác nhau nhưng đều có nguyên nhân do các hoạt động chống phá của chủ nghĩa đế quốc  bằng diễn biến hoà bình.
Hai là, giai đoạn thực hiện chiến lược diễn biến hoà bình để xoá bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa (từ thập kỷ 80 đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX). Đây là giai đoạn chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa xã hội có sự chuyển hướng trọng điểm từ kiềm chế, răn đe bằng quân sự sang thực hiện diễn biến hoà bình, xoá bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa bằng các phương thức, thủ đoạn phi vũ trang là chủ yếu. Chiến lược diễn biến hoà bình trở thành bộ phận quan trọng nhất trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ, sức mạnh quân sự giữ vai trò răn đe, hỗ trợ thực hiện diễn biến hoà bình. Các chiến lược gia tiêu biểu: các Tổng thống Mỹ Níchsơn, Rigân, G.Bush (cha); các trợ lý an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ Brêdinxky, C.Raixơ.
Do phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ngày càng phát triển, ưu thế quân sự không còn nghiêng về chủ nghĩa đế quốc. Cán cân so sánh lực lượng trên thế giới giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc đã không có lợi cho chủ nghĩa đế quốc. Nhất là sau thất bại hoàn toàn trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc đã nhận thấy không thể ngăn chặn được sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới bằng biện  pháp quân sự. Trong khi đó các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế - xã hội, phải tiến hành cải cách, đổi mới để tháo gỡ khó khăn, nhưng trong quá trình thực hiện một số nước đã phạm những sai lầm nghiêm trọng, do đó chẳng những không thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hộ, mà ngược lại, khủng hoảng kinh tế - xã hội đã đưa đến khủng hoảng chính trị ngày càng trầm trọng hơn. Một số nước khác đã tiến hành đổi mới, cải cách thành công, tiếp tục giữ vững và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trước tình hình đó, chủ nghĩa đế quốc điều chỉnh chiến lược chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc, từ việc sử dụng biện pháp chiến lược quân sự là chủ yếu sang biện pháp chiến lược phi quân sự là chủ yếu. diễn biến hoà bình của chủ nghĩa đế quốc trong chiến lược toàn cầu ngăn chặn phát triển thành chiến lược diễn biến hoà bình trong chiến lược vượt trên ngăn chặn.
Hiện nay, xã hội chủ nghĩa tạm lâm vào thoái trào, nhưng các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tồn tại, cuộc đấu tranh giai cáp, đấu tranh dân tộc vẫn diễn ra gay gắt, quyết liệt. Để đạt được ý đồ thống trị thế giới và xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, chủ nghĩa đế quốc đã, đang điều chỉnh chiến lược toàn cầu thành dính líu, khuếch trương, trong đó diễn biến hoà bình đã trở thành bộ phận trọng yếu trong chiến lược toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc. Các thế lực thù địch chủ trương thực hiện mục tiêu của chiến lược này dựa trên tiềm lực quân sự, kinh tế mạnh, tiềm lực khoa học kỹ thuật, nhằm thủ tiêu các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, ngăn chặn phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc và kiềm chế sự phục hồi, phát triển của các cường quốc khác có khả năng thách thức vai trò bá quyền của chúng.
Ba là, giai đoạn đẩy mạnh chiến lược diễn biến hoà bình và cách mạng màu nhằm xoá bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội, chống phá độc lập dân tộc của các nước (từ đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX đến nay). Đây là giai đoạn Mỹ có sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu với tham vọng thống trị trật tự thế giới mới, chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực Châu á - Thái Bình Dương, thực hiện chiến lược can dự, tăng cường can thiệp vào công việc nội bộ của các nước bằng các biện pháp cứng rắn, sẵn sàng đánh đòn phủ đầu, giành quyền tiến công trước, đồng thời đẩy mạnh diễn biến hoà bình và cách mạng màu nhằm thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa xã hội và chống phá độc lập dân tộc trên thế giới. Các chiến lược gia tiêu biểu; các Tổng thống Mỹ B.Clintơn, G.Bush (con), Ngoại trưởng Mỹ C.Raixơ.
c) Mục tiêu của chiến lược diễn biến hoà bình
Xoá bỏ các nước  chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới, chống phá phong trào độc lập dân tộc của các nước; thiết lập trật tự thế giới mới do chủ nghĩa đế quốc chi phối và lãnh đạo.
d) Đối tượng chủ yếu của chiến lược diễn biến hoà bình
Trong những năm 80 của thế kỷ XX, đối tượng chủ yếu là Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Trong giai đoạn hiện nay, đối tượng chủ yếu của chiến lược diễn biến hoà bình là những nước tiến bộ không thân Mỹ đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó Việt Nam là một trọng điểm.
e) Nội dung, thủ đoạn chống phá
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã tiến hành các nội dung,  thủ đoạn tinh vi phù hợp với sự thay đổi của tình hình thế giới và tình hình của mỗi nước.
Chủ nghĩa đế quốc chống phá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, quân sự... lấy chống phá chính trị, kinh tế làm khâu đột phá, trong đó chống phá kinh tế là mũi nhọn; lấy vấn đề dân tộc, tôn giáo làm ngòi nổ; dùng ngoại giao hỗ trợ, hậu thuẫn, lấy quân sự để răn đe và sẵn sàng can thiệp khi có điều kiện thời cơ. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng chống phá nội bộ đảng cộng sản (từ cơ sở đến trung ương), chuyển hoá đội ngũ cán bộ cao cấp của đảng, nhà nước và  thực hiện phi chính trị hoá quân đội và công an.
- Thủ đoạn tiến công: Biện pháp, thủ đoạn chủ yếu là đánh mềm, đánh ngầm, đi sâu vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa, kết hợp chống phá công khai và bí mật, hợp pháp và bất hợp pháp. Chúng triệt để lợi dụng những nhân tố yếu kém từ bên trong như tàn dư của chế độ cũ, những khuyết điểm, sai lầm trong cải tổ, đổi mới, trong công tác tổ chức điều hành đất nước của đảng và nhà nước; những khó khăn về kinh tế đời sống của quần chúng. Kết hợp các thủ đoạn trên, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch rất coi trọng xây dựng lực lượng phản động, cả lực lượng chính trị và lực lượng quân sự, lôi kéo những đảng viên thoái hoá, biến chất, tạo dựng ngọn cờ đối lập với đảng cộng sản, khi có thời cơ công khai hoạt động chống đối, gây biến động chính trị - xã hội, tiến hành bạo loạn lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.
2. Bạo loạn lật đổ và mối quan hệ với chiến lược “diễn biến hoà bình”
a) Khái niệm
Bạo loạn lật đổ là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng phản động hay lực lượng ly khai, đối lập trong nước hoặc cấu kết với nước ngoài tiến hành nhằm lôi kéo quần chúng nhân dân gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc lật đổ chính quyền (địa phương hoặc trung ương). Có bạo loạn chính trị, bạo loạn vũ trang, bạo loạn chính trị kết hợp với vũ trang. Bạo loạn lật đổ là một thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động trong chiến lược diễn biến hoà bình để xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở những nước tiến bộ và các nước không thân Mỹ.
 Bạo loạn lật đổ là hành động chống phá có tổ chức do các thế lực thù địch và phản động chủ mưu tiến hành; là một thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động trong chiến lược diễn biến hoà bình để xoá bỏ chủ nghĩa xã hội, các nước tiến bộ trên thế giới.
Lực lượng tham gia bạo loạn lật đổ chủ yếu là quần chúng nhân dân lao động bị kích động, mua chuộc.
 Mục đích: nhằm gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc lật đổ chính quyền (địa phương hoặc trung ương)
 Hình thức: có bạo loạn chính trị, bạo loạn vũ trang, bạo loạn chính trị kết hợp với vũ trang.
 Tính chất: Bạo loạn lật đổ mang tính chất đối kháng giai cấp quyết liệt, một mất, một còn giữa cách mạng và phản cách mạng.
b) Mối quan hệ giữa bạo loạn lật đổ với chiến lược “diễn biến hoà bình”
Bạo loạn lật đổ là một bộ phận của chiến lược diễn biến hoà bình do các thế lực thù địch, đứng đầu là đế quốc Mỹ chỉ đạo, hỗ trợ lực lượng phản động trong nước tiến hành chống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng phản động hay lực lượng ly khai, đối lập trong nước hoặc kết cấu với nước ngoài nhằm lật đổ chính quyền, địa phương hoặc Trung ương. Mối quan hệ giữa diễn biến hòa bình với bạo loạn lật đổ có quan hệ chặt chẽ với nhau, quá trình diễn biến hòa bình là các thế lực thù địch làm cho nội bộ nước đối phương suy yếu, tự diễn biến và tạo ra tình huống, khả năng bạo loạn lật đổ. Ngược lại, khi nội bộ trong nước suy yếu, rối loạn, các thế lực thù địch chớp thời cơ tổ chức lực lượng tiến hành bạo loạn lật đổ thực hiện mục tiêu của diễn biến hòa bình.
Chiến lược diễn biến hoà bình là điều kiện tiền đề để thực hiện thủ đoạn bạo loạn lật đổ nhằm xoá bỏ chế độ chính trị - xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong. Chủ thể chỉ đạo chiến lược diễn biến hoà bình và bạo loạn lật đổ là các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội và độc lập dân tộc đứng đầu là đế quốc Mỹ. Chủ thể trực tiếp thực hiện chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ là phản động lưu vong và phản động trong nước; những phần tử cơ hội, thực dụng và phản bội trong bộ máy lãnh đạo, điều hành đất nước và các địa phương, một bộ phận quần chúng có tâm trạng bất mãn với chính quyền và chế độ bị lôi kéo, kích động.
Mục đích của chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ  nhằm làm thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hoá chế độ chính trị - xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa và các nước tiến bộ xã hội theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, do Mỹ và các thế lực thù địch thực hiện. Vì vậy, việc đấu tranh chống diễn biến hoà bình phải gắn liền với đấu tranh phòng, chống bạo loạn lật đổ và ngược lại. Thực tiễn chứng minh khi bạo loạn lật đổ diễn ra có thể có những người bị kích động, lôi kéo một cách vô thức nhưng kẻ cầm đầu bạo loạn bao giờ cũng có chủ đích nhằm lật đổ chính quyền, chế độ chính trị xã hội... và là hệ quả của âm mưu  diễn biến hòa bình.
II. ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”, BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC VÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Âm mưu, thủ đoạn chiến lược diễn biến hoà bìnhcủa chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay
a) Sơ lược quá trình chống phá cách mạng Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch
Mục tiêu chiến lược nhất quán của chủ nghĩa đế quốc đối với cách mạng Việt Nam là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoả bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, làm cho Việt Nam chuyển hoá sang tư bản chủ nghĩa, lệ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc mà đứng đầu là Mỹ.
Để đạt được mục tiêu đó, địch không từ bỏ một thủ đoạn chống phá nào, kể cả hành động can thiệp quân sự và trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược...
 Từ đầu những năm 50 đến năm 1975
Đây là giai đoạn Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá nước ta toàn diện, dùng hành động quân sự là chủ yếu để can thiệp và tiến hành chiến tranh xâm lược, nhưng cuối cùng đã thất bại hoàn toàn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Từ sau năm 1975 đến năm 1994
Đây là giai đoạn nước ta còn nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh, thiên tại nặng nề, đặc biệt là tác động tiêu cực của những biến động Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đối với Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng đã tiến hành nhiều biện pháp chống phá như: bao vây, cấm vận kinh tế; cô lập về ngoại giao; kết hợp diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ để xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Chúng lợi dụng tình hình xã hội nước ta vẫn tồn tại những sơ hở để tổ chức các đảng phái và lực lượng vũ trang phản động, lôi kéo phần tử thoái hoá, biến chất trong cơ quan Đảng, Nhà nước và phần tử cực đoan trong nhân dân, nhen nhóm thành lập các đảng, tổ chức chính trị và lực lượng phản động, tạo dựng ngọn cờ để chống phá cách mạng Việt Nam, trước hết và chủ yếu bằng diễn biến hoà bình, nhưng để nhanh chóng đạt được mục đích đề ra và tạo áp lực lớn đối với ta, chúng kết hợp với thủ đoạn bạo loạn lật đổ.
Từ năm 1995 đến nay
Đây là giai đoạ n, sau những thất bại trong âm mưu cô lập chống phá Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc buộc phải điều chỉnh chính sách, thủ đoạn chống phá như bỏ cấm vận kinh tế và bình thường hoá quan hệ về ngoại giao. Chủ nghĩa đế quốc đã chuyển thủ đoạn, biện pháp hành động kiên quyết sang thủ đoạn trực tiếp dính líu, ngầm, sâu, đẩy mạnh các hoạt động thâm nhập, chống phá cách mạng Việt Nam. Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp tục khẳng định: “Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài dân chủ, nhân quyền hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta[19].
 b) Âm mưu, thủ đoạn của chiến lược diễn biến hòa bình trên các lĩnh vực
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá các mạng Việt Nam toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội với nhiều biện pháp, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt, tập trung vào một số lĩnh vực sau:
Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hoá
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã xác định chống phá về chính trị là khâu then chốt nhằm chuyển hoá chế độ xã hội chính trị của Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những thiếu sót, hạn chế của Đảng, Nhà nước, kích động những phần tử cực đoan, kích động thực hiện chế độ đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập để hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Địch tập trung phá ta về lý luận, quan điểm, đường lối hòng xoá bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội dân chủ, làm chệch định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Thực hiện ý đồ trên, chúng đã dùng các biện pháp, thủ đoạn: Móc nối, kích động nhiều người chống lại quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước. Tuyên truyền, gieo rắc chủ nghĩa thực dụng, văn hoá phương Tây, tạo tâm lý hưởng thụ, lối sống tư sản, qua đó từng bước tạo ra sự chuyển hoá tư duy, nếp nghĩ theo hướng đối lập với quan điểm, tư tưởng của Đảng. Chúng tìm cách mua chuộc, lôi kéo một số văn nghệ sĩ, phóng viên có xu thế cấp tiến, đầu tư ngầm cho một số cơ quan báo chí, truyền thông, mạng internet, In, xuất bản để từng bước thao túng và chi phối các lĩnh vực này. Các thế lực thù địch đặc biệt chú ý tác động làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa thông qua chiến lược giáo dục - đào tạo thúc đẩy sự phát triển các trường quốc tế... theo mô hình hệ thống giáo dục - đào tạo của Mỹ và phương Tây tạo nên làn sóng du học ở nước ngoài...
Trên lĩnh vực kinh tế
Các thế lực thù địch chủ trương dùng biện pháp kinh tế làm mũi nhọn, âm mưu thông qua hợp tác kinh tế để can dự vào nội bộ, dùng kinh tế gây sức ép tác động, chuyển hoá chính trị, lái nền kinh tế đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Thông qua thủ đoạn chiếm lĩnh đầu tư, chi phối thị trường, để chống phá nền kinh tế Việt nam. Thực hiện chủ chương tư nhân hoá tài sản, mở rộng kinh tế tư bản, tư nhân, kinh tế thị trường tự do, thu hẹp và làm suy yếu thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể tiến tới thiết lập một nền kinh tế tư bản dưới sự điều khiển của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam. Hoạt động chủ yếu của chúng là dùng sát thủ kinh tế tìm kiếm lợi ích ở Việt Nam cố gây ra khủng khoảng kinh tế - xã hội, từ đó gây rối loạn chính trị, làm cho tự suy yếu và sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trên lĩnh vực tôn giáo, dân tộc
Lợi dụng chính sách tự do, tín ngưỡng của Đảng, Nhà nước, những thiếu sót trong công tác quản lý và trình độ dân trí còn thấp của một bộ phận nhân dân để tổ chức truyền đạo trái phép, xuyên tạc đường lối của Đảng trên nhiều địa phương, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, theo đạo. Đồng thời kích động, lôi kéo, tập hợp quần chúng, xây dựng lực lượng, lập các đảng phái, tổ chức chính trị, lực lượng vũ trang gây rối, tiến tới bạo loạn lật đổ. Lợi dụng các lực lượng phản động trong các vùng dân tộc thiểu số, kích động nhân dân đòi thành lập khu tự trị như các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam của nước ta.
Hiện tại và những năm tiếp theo, các thế lực phả động, thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề tự do, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để gây sức ép với Việt Nam, thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ. Cho nên, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá Việt Nam vẫn là một trong những nội dung, biện pháp được Mỹ và các thế lực thù địch thường sử dụng để chống pháp Việt Nam. Chúng đang ra sức tuyên truyền, xuyên tạc tình hình tôn giáo tại Việt Nam, vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, tạo cớ kích động tín đồ đấu tranh chống chính quyền, kêu gọi quốc tế can thiệp. Vận động chính khách các nước và Quốc hội Mỹ để đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Khôi phục và thành lập các tổ chức, hội đoàn tôn giáo nhằm lôi kéo tín đồ tham gia hoạt động, phát triển lực lượng.
Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh
Âm mưu của địch là phi chính trị hoá quân đội và công an, vô hiệu hoá các lực lượng vũ trang trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng tập trung chống phá hệ tư tưởng của Đảng trong quân đội; tuyên truyền kích đọng gây mơ hồ, chia rẽ mối quan hệ bản chất giữa Đảng với quân đội; quân đội với công an và các ngành khác, làm cho quân đội giảm lòng tin với Đảng, xa rời mục tiêu chiến đấu và nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội làm cho quân đội mất bản chất cách mạng. Mặt khác, chúng chỉ đạo việc đầu tư vào những địa bàn dễ làm phá vỡ thế trận quốc phòng - an ninh của ta...
Lợi dụng những biến động phức tạp trên thế giới và chính sách mở cửa hội nhập của Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức tác động đến các nước, các tổ chức và diễn đàn quốc tế gây sức ép đòi Việt Nam tôn trọng dân chủ, nhân quyền, thực hiện tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí... Đồng thời, gây áp lực buộc chúng ta phải nhân nhượng một số vấn đề chính trị trong nước, nhất là chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực hiện âm mưu hòa nhập Việt Nam vào ASEAN và lôi kéo Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa...
Trên lĩnh vực ngoại giao
Núp dưới danh nghĩa ngoại giao thân thiện để hướng Việt Nam theo quỹ đạo của phương Tây, tạo cơ hội chuyển hoá và đưa Việt Nam dần hoà nhập cùng cộng đồng các nước dân chủ phương Tây. Tăng cường tiếp xúc của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ (NGO) và tư nhân dưới nhiều hình thức như thăm viếng, hội thảo, viện trợ nhân đạo, du lịch... để xuyên tạc đường lối của Đ ảng, gieo rắc tâm lý mơ hồ về bản chất của chủ nghĩa đế quốc tạo cơ hội chuyển hoá Việt Nam.
2. Âm mưu, thủ đoạn, điều kiện, quy mô và địa bàn bạo loạn lật đổ
a) Âm mưu
Các thế lực thù địch chú trọng nuôi dưỡng các tổ chức phản động sống lưu vong ở nước ngoài và kết hợp với những phần tử cực đoan, bất mãn trong nước, gây rối làm mất ổn định xã hội ở một số vùng nhạy cảm như: Tây Bắc, Tây Nghệ An, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và nhưng trung tâm kinh tế - xã hội của Việt Nam, nhằm từng bước lật đổ chính quyền ở địa phương và Trung ương.
Lực lượng thực hiện âm mưu: Sử dụng bọn có thâm thù với cách mạng; những phần tử bất mãn với chế độ; mua chuộc dụ dỗ nhân dân tham gia; kích động ly khai và tôn giáo hóa dân tộc. Ví dụ: Các thế lực phản động ý đồ thành lập Nhà nước Đề ga tự trị ở Tây Nguyên do bọn Fulrô cầm đầu (do Ksor Kok cầm đầu)...
Các thế lực thù địch chủ trương lật đổ chính quyền, xóa bỏ vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
b) Thủ đoạn
Thủ đoạn cơ bản các thế lực thù địch sử dụng để tiến hành bạo loạn lật đổ chính quyền ở một số địa phương nước ta là:
Kích động sự bất bình của quần chúng, dụ dỗ và cưỡng ép nhân dân biểu tình làm chỗ dựa cho lực lượng phản động trà trộn hoạt động đập phá trụ sở, rồi uy hiếp khống chế cơ quan quyền lực địa phương.
Trong quá trình gây bạo loạn, bọn phản động tìm mọi cách để mở rộng phạm vi, quy mô lực lượng và kêu gọi sự tài trợ tiền của, vũ khí ngoài nước vào để tăng sức mạnh.
Mỹ và các thế lực thù địch xây dựng lực lượng. ngọn cờ ở bên trong và bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, sẵn sàng hỗ trợ cho nhau tạo nhiều mũi tấn công để chống phá cách mạng Việt Nam.
Các thế lực thù địch chú trọng tôn giáo hóa dân tộc, xây dựng liên tôn giáo nhằm tập hợp lực lượng và cho ra đời các tổ chức tôn giáo phản động, lam đối chọi với Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tập hợp các phần tử phản động, cơ hội, bất mãn, hình thành các tổ chức chính trị đối lập đấu tranh đòi đa nguyên, đa đảng với chiêu bài phong trào dân chủ Việt Nam. Xuyên tạc, khuếch trương những sai lầm, khuyết điểm của Đảng và Nhà nước ta trong lãnh đạo, quản lý xã hội để làm mất niềm tin của quần chúng nhân dân lao động vào Đảng, chế độ xã hội mà chúng ta đang xây dựng, kích động đồng bào dân tộc thiểu số đòi ly khai. Xuyên tạc lịch sử truyền thống của dân tộc, uy tín của các lãng tụ, kích động nhân dân tham gia biểu tình và khiếu kiện kéo dài gây mất ổn định chính trị - xã hội.
Những nhân tố tiềm ẩn bạo loạn lật đổ ở Việt Nam hiện nay, đang được các thế lực thù địch lợi dụng như: Tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng; tệ quan liêu, tham nhũng tiêu cực xã hội kéo dài; tình trạng suy thoái biến chất về đạo đức của một số cán bộ đảng viên, đặc biệt cán bộ đảng viên giữ cương vị lãnh đạo; trật tự xã hội không bảo đảm; đời sống nhân dân lao động gặp khó khăn...
c) Điều kiện, quy mô và địa bàn sảy ra bạo loạn lật đổ
Điều kiện xảy ra ra bạo loạn lật đổ
Bạo loạn có thể xảy ra khi có điều kiện khách quan và chủ quan như sau:
Một là, các thế lực thù địch xây dựng được lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang phản động; bí mật tạo dựng được ngọn cờ để chỉ đạo, điều hành, kích động, lôi kéo quần chúng tham gia; có sự liên kết, phối hợp giữa bọn phản động bên trong và bên ngoài.
Hai là, điều kiện xã hội của ta có hiện tượng không ổn định như: mâu thuẫn nội bộ chưa được giải quyết hoặc giải quyết không thoả đáng, bị địch lợi dụng, tìm cách khoét sâu, chuyển hoá từ mâu thuẫn nội bộ trở thành mâu thuẫn đối kháng, từ đó lái quần chúng và lôi kéo họ đấu tranh phục vụ cho mưu đồ chính trị phản động của các thế lực thù địch.
Quy mô, địa bàn có thể xảy ra bạo loạn lật đổ
Quy mô bạo loạn lật đổ: Có thể từ nhỏ đến vừa và lớn, từ một vài nơi, một khu vực lan ra nhiều nơi, nhiều khu vực.
Phạm vi, địa bàn xảy ra bạo loạn lật đổ: Có thể ở nhiều nơi, nhiều vùng của đất nước, nhưng tập trung trọng điểm là các trung tâm chính trị, kinh tế của Trung ương hoặc địa phương, nơi nhạy cảm về chính trị hoặc khu vực, địa bàn mà cơ sở chính trị của địa phương có nhiều yếu kém. 
III. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÒNG, CHỐNG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”, BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC VÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM
 1. Mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm phòng, chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống Việt Nam hiện nay
a) Mục tiêu chiến lược
Làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm giữ vững sự ổn định chính trị trên cơ sở độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tạo môi trường hoà bình để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá. Bảo vệ Đảng, nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia dân tộc.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: Kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ. Vấn đề đặt ra trọng tâm trong mục tiêu chiến lược là phải giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm môi trường hoà bình ổn định lâu dài cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Phải lấy việc nâng cao sức mạnh nội lực giữ vững ổn định chính trị làm nền tảng để đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh.
b) Nhiệm vụ
Từ Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3, khoá VII đến nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, lần thứ IX, lần thứ X, lần thứ XI Đ ảng ta đều nhất quán khẳng định:
Nhiệm vụ phòng chống chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng - an ninh hiện nay; đồng thời là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Nhiệm vụ chung trong phòng, chống chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ là chủ động tiến công địch trên mọi lĩnh vực, không để xảy ra mất ổn định chính trị - xã hội, bạo loạn lật đổ  và các tình huống phức tạp khác, ngăn chặn và làm thất bại các âm mưu thủ đoạn diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch; bảo vệ Đảng, chính quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa.
c) Quan điểm 
Phòng, chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ cần nắm vững một số quan điểm sau:
- Kiên định, giữ vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Đây là con đường cách mạng Việt nam, là sự lựa chọn đúng đắn mà Bác Hồ, Đ ảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Ngày nay, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vẫn là mục tiêu hàng đầu của cách mạng Việt Nam. Xoá bỏ mục tiêu này chính là mục đích chủ yếu của chiến lược diễn biến hoà bình đối với Việt Nam.
Để giữ vững mục tiêu và con đường đã lựa chọn, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đây chính là sự vận dụng kinh nghiệm hàng ngàn năm của ông cha ta: “Dựng nước phải đi đôi với giữ nước, đồng thời là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta hàng ngàn năm qua. Vì vậy, phòng chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của địch không chỉ là cuộc đấu tranh giai cấp mà còn là cuộc đấu tranh dân tộc trong tình hình mới. Trong đó, trước hết là sự kiên định và giữ vững mục tiêu, con đường đi lên của cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ đó kiên quyết đấu tranh chống các âm mưu phá hoại của địch; chống thoái hoá, biến chất về tư tưởng chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, khắc phục chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm, né tránh đấu tranh chống lại cái luận điệu sai trái, phản động. Mặt khác, cần đề phòng nguy cơ tự diễn biến dẫn đến chệch hướng xã hội chủ nghĩa từ bên trong.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đ ảng, tiến hành cuộc đấu tranh toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.
Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của ta ngày nay là sức mạnh tổng hợp của khối đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, được tạo ra trên cơ sở kết hợp các hoạt động: chính trị, kinh tế, quân sự, an ninh, đối ngoại...
“Diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của địch là sự chống phá toàn diện bằng tổng hợp các biện pháp. Vì vậy chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ cũng phải chống trên các mặt, bằng sức mạnh tổng hợp được tạo ta từ nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Trong đó, lực lượng tiến hành là cả hệ thống chính trị và của toàn dân.
Chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ trọng yếu hàng đầu, lâu dài của sự nghiệp quốc phòng - an ninh đất nước; là cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc trong thời kỳ mới của nhân dân ta. Vì vậy, phải đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng.
- Chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ phải nhằm kết hợp ngăn ngừa và đối phó thắng lợi các tình huống chiến lược về quốc phòng - an ninh có thể xảy ra.
Tại Hội nghị Trung ương 8 (khoá X), Đảng ta đã dự báo có ba tình huống chiến lược trong bảo vệ Tổ quốc trong những năm tới. Các tình huống có mối quan hệ hữu cơ, tác động lẫn nhau, tình huống này có thể làm tiền đề cho sự xuất hiện tình huống kia. Trong đó tình huống: Biến động chính trị trong nước, đe dọa sự mất còn của chế độ và tình huống bạo loạn ly khai ở một số vùng hoặc một số vùng gây nguy cơ chia rẽ đất nước do hoạt động diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ  của địch tạo ra. Vì vậy, làm thất bại diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch cũng chính là trực tiếp ngăn ngừa, đẩy lùi hai tình huống chiến lược trên.
Mặt khác, ngăn chặn hai tình huống trên góp phần triệt tiêu điều kiện, thời cơ để nước ngoài lợi dụng, can thiệp, chống phá bằng cả chính trị - ngoại giao - kinh tế; không cho kẻ thù kiếm cớ can thiệp quân sự, xung đột vũ trang và chiến tranh xâm lược nước ta (tình huống chiến lược 3). Vì vậy, chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ là một nhiệm vụ quan trọng trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
- Nắm vững pháp luật, chủ động, kiên quyết trấn áp các phần tử phản động để bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ.
Chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ là cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ mới, mà mục tiêu chủ yếu của cuộc đấu tranh này là bảo vệ và giữ vững chính quyền cách mạng. Cuộc đấu tranh chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ là một cuộc đấu tranh hết sức gay go, quyết liệt, lâu dài, một mất, một còn giữa ta và địch trong tình hình hiện nay. Vì vậy, chúng ta phải sử dụng các công cụ chuyên chính của nhà nước vô sản để bảo vệ thành quả cách mạng. Trên cơ sở pháp luật của Nhà nước, với sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của toàn dân có lực lượng vũ trang làm nòng cốt, chủ động vô hiệu hoá và kiên quyết trấn áp các lực lượng phản động để ngăn ngừa, đập tan bạo loạn của địch, bảo vệ chính quyền và chế độ của ta. Các sự kiện ở Công hoà dân chủ Đức (1953), Hunggari (1956), Tiệp Khắc (1968), Trung Quốc (1989), sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đ ông Âu và các cuộc cách mạng nhung gần đây ở một số nước cộng hoà thuộc SNG... đã cho chúng ta những bài học bổ ích về điều này.
Khi xảy ra bạo loạn lật đổ phải kiên quyết xử lý, phân loại, tìm và trấn áp ngay những tên đầu sỏ cầm đầu và lực lượng vũ trang phản động của địch để bảo vệ Đ ảng, chính quyền, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị. Từ nhận thức trên không cho phép ta mơ hồ, mất cảnh giác, cần tăng cường xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia và quốc phòng; chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đ ảng và nhân dâ n; cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao để ngăn ngừa, đập tan mọi âm mưu và hành động gây bạo loạn của kẻ thù. Bên cạnh đó, cần đề cao cảnh giác, làm thất bại âm mưu phi chính trị hoá quân đội, công an, hòng xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đ ảng đối với lực lượng vũ trang.
d) Phương châm
- Giữ vững sự ổn định bên trong, chủ động phòng ngừa, kết hợp giữa xây và chống.
Đây là phương châm chỉ đạo chung cho cả phòng, chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ. Phương châm này thể hiện tính chủ động, tích cực của chúng ta trong phòng, chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ; lấy ngăn ngừa, đẩy lùi là yêu cầu hàng đầu nhằm đánh bại âm mưu, thủ đoạn của địch.
Với tư tưởng chủ đạo trong ấm, ngoài êm, Đảng ta coi sự ổn định vững mạnh bên trong vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện căn bản để ngăn chặn, đẩy lùi diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của địch. Vì vậy, xây dựng đất nước vững mạnh, đồng thời cảnh giác đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù là hai mặt cơ bản trong các giải pháp phòng, chống của ta.
- Khi bạo loạn xảy ra, cần phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp các biện pháp, các mặt đấu tranh; xử lý kiên quyết, nhanh chóng, không để lan rộng, kéo dài.
Phương châm này chỉ đạo phương thức đấu tranh và hành động của ta trong xử lý bạo loạn loạn lật đổ của địch. Bạo loạn lật đổ là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng phản động hay lực lượng ly khai, đối lập trong nước hoặc cấu kết với nước ngoài tiến hành, nhằm gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc lật đổ chính quyền (địa phương hoặc trung ương). Bạo loạn lật đổ xảy ra còn tạo cớ, thời cơ cho các thế lực phản động quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của ta. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải kiên quyết, nhanh chóng huy động mọi lực lượng, sử dụng nhiều hình thức, biện pháp đấu tranh để dập tắt bạo loạn. Nếu để bạo loạn lan rộng, kéo dài, các thế lực thù địch bên ngoài sẽ kịp thời can thiệp, làm cho tình hình thêm phức tạp, khó kiểm soát, xử trí của ta lại càng khó khăn hơn.
Để thực hiện tốt phương châm trên, cần thường xuyên chủ động phát hiện và nắm chắc mọi ý đồ, hoạt động của địch; bám sát địa bàn, dự kiến kế hoạch, phương án và chuẩn bị sẵn lực lượng chống bạo loạn ở từng cấp, tổ chức thường xuyên để sẵn sàng xứ trí kịp thời, nhanh gọn khi tình huống xảy ra.
2. Phòng, chống chiến lược diễn biến hoà bình trên một số lĩnh vực
a) Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng - văn hoá
Trên lĩnh vực chính trị, mục tiêu cơ bản của diễn biến hoà bình là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Vì vậy, các thế lực thù địch luôn đấu tranh đòi thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị của đất nước; ca ngợi và hướng tới xã hội dân chủ.
Mặt khác, chúng đang bằng mọi cách, ra sức làm thoái hoá về chính trị - tư tưởng, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên; tạo sự phân hoá về quan điểm chính trị trong Đảng, tiến tới làm thay đổi bản chất, lý tưởng cách mạng của Đảng, làm suy yếu hệ thống chính trị, dẫn đến làm mất lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, với các chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, kẻ địch ra sức tập hợp những phần tử cơ hội, bất mãn, hình thành các tổ chức chính trị đối lập, kích động quần chúng chống Đảng, chống chính quyền... Để phòng chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực chính trị, cần tập trung vào những vấn đề sau:
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bảo vệ Đảng cả về chính trị - tư tưởng và tổ chức, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh và nâng cao khả năng lãnh đạ o, sức chiến đấu của Đảng. Tăng cường củng cố các tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của các chi bộ đảng. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt, trong hoạt động của đảng.
Xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền vững chắc, làm cho nó thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức quần chúng và các thành tố trong hệ thống chính trị.
Xây dựng, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tạo sức đề kháng chống âm mưu diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của địch, đẩy lùi, khắc phục các tư tưởng lệch lạc, chủ nghĩa giáo điều, cơ hội dưới mọi hình thức. Giáo dục lòng tự hào dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đẩy mạnh phát triển kinh tế, đi đôi với thực hiện tốt chính sách xã hội, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân, củng cố, giữ vững niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Tổ chức động viên, phát huy mọi khả năng của nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, đấu tranh với địch trên mọi lĩnh vực, làm thất bại mọi mưu mô thâm độc của các thế lực thù địch.
 Trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, mặt trận tư tưởng văn hoá là mặt trận nóng bỏng, dễ bị địch tiến công. Vì vậy, phải tích cực, chủ động tiến công địch để giữ vững ổn định chính trị, làm thất bại các thủ đoạn phá hoại của địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá. Trên lĩnh vực này, các thế lực thù địch tập trung chống phá ta về quan điểm, tư tưởng, lý luận và đường lối. Trước hết là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận con đường đi lên của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, kích động những khuynh hướng tư tưởng, quan điểm sai trái, mơ hồ về đường lối cách mạng Việt Nam tạo sự dao động hoài nghi, mất niềm tin vào chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, dẫn đến những suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, xa rời mục tiêu cách mạng của Đảng. Để phòng, chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá; cần tập trung vào những nội dung chủ yếu:
Tăng cường công tác lý luận, tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng; bảo vệ, củng cố vai trò lãnh đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào và tinh thần tự cường dân tộc, truyền thống dựng nước và giữ nước. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả khuynh hướng tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, các luận điệu tuyên truyền vu cáo chủ nghĩa xã hội, bôi nhọ, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận đường lối quan điểm của Đảng, phủ nhận lịch sử và các quan điểm đòi đa nguyên, đa đảng, dân chủ, nhân quyềntheo kiểu phương Tây, các luận điệu chống phá cách mạng nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định: “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao[20].
Xây dựng, bảo vệ, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân cách tốt đẹp, có bản lĩnh vững vàng, có tâm hồn trong sáng, có tầm cao trí tuệ.
Nắm chắc và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong các hoạt động văn hoá, văn nghệ, bảo vệ các thành quả cách mạng trong hoàn cảnh mới. Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá. Nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Mở rộng giao lưu quốc tế trên cơ sở giữ vững, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.
Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; quản lý và kiểm soát chặt chẽ công tác tuyên truyền, xuất bản và có định hướng thống nhất trong chỉ đạo nghiên cứu lý luận; nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng - văn hoá trong tình hình mới.
b) Trên lĩnh vực kinh tế
Trong chiến lược diễn biến hoà bình, kẻ thù luôn lợi dụng lĩnh vực kinh tế để gây sức ép về chính trị, buộc ta lệ thuộc và làm chệch hướng nền kinh tế theo hướng tư bản, tiến tới chệch hướng về chính trị. Ngoài ra, kẻ địch còn dùng tiền và vật chất để mua chuộc, lôi kéo, tha hoá đội ngũ cán bộ của ta. Vì vậy, trong chiến lược diễn biến hoà bình, lĩnh vực kinh tế được coi là mũi nhọn chống phá của địch. Do đó, phòng, chống diễn biến hoà bình của địch trên lĩnh vực kinh tế, chúng ta phải:
Quán triệt, thực hiện và bảo vệ vững chắc đường lối đổi mới kinh tế của Đảng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
Luôn đề cao cảnh giác, không mơ hồ trước âm mưu đen tối của các thê lực thù địch lợi dụng quan hệ kinh tế, thương mại, thông qua kinh tế để chuyển hoá ta về chính trị.
Thực hiện phương châm chủ động hợp tác, đấu tranh kiên quyết, mềm dẻo trong quan hệ kinh tế, đồng thời hạn chế các mặt tiêu cực do nền kinh tế thị trường tạo ra trên một số mặt của đời sống xã hội. Phấn đấu thực hiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, ham ô, lãng phí.
Phải nâng cao ý thức, năng lực cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, nâng cao năng lực cạnh tranh và hoàn thiện pháp chế về kinh tế. Thực hiện xoá đói giảm nghèo, chăm lo ngày một tốt hơn đời sống mọi mặt của nhân dân...
  c) Trên lĩnh vực tôn giáo, dân tộc
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, tôn giáo, sức mạnh giữ nước của dân tộc là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Vì vậy, trong chiến lược diễn biến hoà bình đối với Việt Nam, các thế lực thù địch cũng hết sức lợi dụng những vấn đề trên để gây mất ổn định, làm suy yếu và can thiệp vào công việc nội bộ của ta. Vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo được chọn làm ngòi nổ trong chống phá Việt Nam. Chúng đang nuôi dưỡng, tìm cách tạo dựng một số tổ chức dân tộc, tôn giáo phản động thành tổ chức chính trị đối lập với Đảng ta. Thực tiễn diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua đã chứng minh điều đó.
Để phòng, chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, cần tập trung làm tốt những vấn đề sau:
Đảng và Nhà nước có đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo đúng đắn rộng mở, làm cơ sở củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Tôn trọng quyền lợi và sự bình đẳng giữa các dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân theo đúng pháp luật và truyền thống văn hoá Việt Nam.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước với một hệ thống phát luật, chính sách đồng bộ, đầy đủ, hợp lý để khai thác, phát huy mọi bản sắc, tập quán tốt đẹp của nhân dân. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các già làng, trưởng bản, nhân sĩ, chức sắc tôn giáo trong công tác vận động quần chúng. Thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo; tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân.
Đầu tư xây dựng phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo, nâng cao dân trí và đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số.
Đề cao dân chủ, tôn trọng tập quán, tự do, tín ngưỡng của cả người có đạo và người không có đạo, đi đôi với chống mọi hủ tục lạc hậu, mọi biểu hiện mê tín dị đoan, mọi hành vi lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để gây rối trật tự trị an, tiếp tay cho địch xây dựng, cài cắm lực lượng, tổ chức phản động, chống phá Đảng, chống chủ nghĩa xã hội.
d) Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh
Trong chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ, địch rất coi trọng các hoạt động tình báo, gián điệp, răn đe quân sự, xâm nhập nội bộ, phá hoại ta từ bên trong; hỗ trợ và chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang phản động. Vì vậy, chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh cần quán triệt sâu sắc: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh  là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe doạ an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh.[21]
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với sự nghiệp quốc phòng, an ninh; xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, sẵn sàng chiến đấu, đập tan mọi âm mưu và hành động bạo loạn lật đổ của địch; không để địch cài cắm, móc nối, mua chuộc nội bộ; bảo vệ bí mật quân đội, quốc gia. Đồng thời, nâng cao năng lực và hiệu quả làm tham mưu đối với Đảng và Nhà nước của các Bộ, ngành, cơ quan chức năng về quốc phòng an ninh; luôn chủ động, có những quyết sách đúng đắn để làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của địch.
Tích cực xây dựng cơ sở chính trị, làm tốt công tác vận động quần chúng, đặc biệt ở những địa bàn trọng yếu, vùng rừng núi, biên giới, hải đảo. Làm tốt công tác giáo dục, vận động nhân dân nâng cao cảnh giác cách mạng, tham gia tích cực vào sự nghiệp quốc phòng - an ninh, phòng chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ.
Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, nhân dân.
Tiếp tục xây dựng, củng cố, hoàn chỉnh thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa phương. Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố), huyện (quận) ngày càng vững chắc, từng bước bổ sung và hoàn thiện kế hoạch A và A2 trên từng địa bàn, làm thất bại âm mưu gây mất ổn định trên đất nước ta của địch.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng - an ninh. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành tập trung thống nhất của Nhà nước. Giữ vững nguyên  tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt với lực lượng vũ trang nhân dân và công an nhân dân. Kiên quyết không để kẻ địch thực hiện âm mưu phi chính trị hoá tiến tới vô hiệu hoá lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân của ta.
e)  Trên lĩnh vực ngoại giao
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ XI của Đảng xác định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới[22].
Trên cơ sở bảo đảm độc lập, chủ quyền quốc gia, mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp tục thực hiện đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, nhưng phải bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xâu dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực; bình đẳng cùng có lợi, giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hoà bình; làm thất bại mọi âm mưu  và hành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền của chủ nghĩa đế quốc. Trong bối cảnh phức tạp hiện nay, ta phải không ngừng nâng cao cảnh giác, hành động thận trọng và tỉnh táo, không để rơi vào tình thế bị động, khó khăn. Để làm tốt hoạt động đối ngoại trong phòng, chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ, cần làm tốt các vấn đề sau:
Đổi mới tư duy đối ngoại để phù hợp với sự phát triển mau lẹ của tình hình thế giới. Có dự báo đúng tình hình thế giới, khu vực, chiều hướng vận động của các mối quan hệ quốc tế và âm mưu, thủ đoạn chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của kẻ thù đối với Việt Nam; cảnh giác, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch trên lĩnh vực ngoại giao để có biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa.
Xác định đúng đối tượng, đối tác trên các lĩnh vực; khai thác sự đồng thuận trong các quan hệ lợi ích đan xen, phụ thuộc lẫn nhau trên thế giới, trong khu vực và với Việt Nam, để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ động tiến công trên hoạt động đối ngoại, vạch trần và làm thất bại các luận điệu xuyên tạc, vu cáo, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới mọi hình thức.
Vận động Việt kiều tham gia phát hiện, đấu tranh với những âm mưu và hành động chống phá của bọn phản động người Việt lưu vong.
Phối hợp đối ngoại với an ninh - quốc phòng trong phòng, chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ. Không cho địch lợi dụng lãnh thổ các nước láng giềng để xâm nhập, hỗ trợ, chỉ đạo chống phá Việt Nam.
 Làm tốt công tác đối ngoại nhân dân nhất là các tỉnh biên giới, hải đảo, thành phố, thị xã và các khu công nghiệp tập trung các nước đầu tư cho nước ta.
3. Phòng, chống bạo loạn lật đổ
a) Tư tưởng chỉ đạo (khi có bạo loạn xảy ra)
Một là, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị.
Hai là, thực hiện nhanh gọn, kiên quyết, linh hoạt, đúng đối tượng, không để lan rộng kéo dài.
Ba là, Biện pháp tiến hành phải hết sức mềm dẻo, nhưng kiên quyết, phải tìm được kẻ cầm đầu để trừng trị.
b) Nguyên tắc xử trí
 Một là, giữ vững quan điểm lập trường, linh hoạt về biện pháp, phân hóa cô lập kẻ thù, tranh thủ sự đồng tình của nhân dân cả nước và dư luận quốc tế.
Hai là, phát huy dân chủ, vận động thuyết phục nhưng giữ vững kỷ cương, pháp luật và kỷ luật nội bộ.
Ba là, phân hóa cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, xử lý kiên quyết nghiêm minh kết hợp với giáo dục, vận động những người bị kích động, dụ dỗ.
Bốn là, kiên quyết tiêu điệt bọn ác ôn ngoan cố, lực lượng vũ trang của bọn phản động; kết hợp công tác địch vận; khoan hồng, nhân đạo đối với những người trở về với nhân dân.
Năm là, mọi hoạt động phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền, các ngành tham mưu, quân đội, công an chỉ huy thống nhất các lực lượng thuộc quyền.
c) Biện pháp phòng, ngừa và xử trí
- Một số biện pháp phòng, ngừa bạo loạn lật đổ
Thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, vì mục tiêu của ta là không để bạo loạn diễn ra. Muốn vậy, phải nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng cho mọi cấp, mọi ngành và mỗi người dân Việt Nam để kịp thời phát hiện, vô hiệu hóa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch tiến hành bạo loạn lật đổ. Vì thế, cần quan tâm thích đáng nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho mọi đối tượng trong xã hội, đặc biệt là nhân dân ỏ vùng sâu, vùng xa...
Chăm lo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh về mọi mặt. Đây là biện pháp có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến hoạt động phòng, chống bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch ở Việt Nam hiện nay. Hệ thống chính trị ở các xã, phường, thị trấn trên phạm vi cả nước có vai trò trực tiếp trong việc lãnh đạo nhân dân thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế - xã hội, văn hóa, quốc phòng - an ninh và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Vì thế, chỉ có quan tâm bồi dưỡng phẩm chất, năng lực toàn diện cho cán bộ, công chức ở các xã, phường, thị trấn và thường xuyên củng cố kiện toàn các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở mới có thể đập tan âm mưu, thủ đoạn bạo loạn lật đổ chính quyến địa phương của các thế lực thù địch. Đặc biệt, chú trọng nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động phòng, chống bạo loạn lật đổ và dự báo các tình huống có thể xảy ra ở địa phương mình.
 Chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, dân quân tự vệ vững mạnh làm nòng cốt thực hiện nhiệm vụ phòng, chống bạo loạn lật đổ. Các thế lực thù địch sử dụng âm mưu, thủ đoạn bạo loạn lật đổ có tổ chức, có lực lượng, nên chúng ta muốn phòng chống nó có hiệu quả thì phải chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, dân quân tự vệ vững mạnh về mọi mặt. Đây là lực lượng trực tiếp bảo vệ chính quyền địa phương, giữ gìn ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ nhân dân và ngăn ngừa những hoạt động của các thế lực thù địch lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc quần chúng nhân dân lao động...
 Quan tâm nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân lao động. Khi sử dụng âm mưu, thủ đoạn bạo loạn lật đổ, các thế lực thù địch ưu tiên dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo quần chúng nhân dân lao động ở những địa bàn còn nhiều khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần, như ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng... Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót về thực hiện chính sách xã hội của chính quyền địa phương để kích động, mâu thuẫn, gây chia rẽ nội bộ, quan hệ giữa Đảng và chính quyền với nhân dân. Vì thế, việc chăm lo xây dựng thế trận lòng dân, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thì sẽ vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
- Xử trí bạo loạn chính trị cần tập trung giải quyết các vấn đề là:
Nhanh chóng cô lập những điểm bạo loạn ở địa bàn cụ thể; ngăn chặn không cho quần chúng kéo vào các đô thị để biểu tình; vận động thuyết phục giải tán các đám đông ở các tụ điểm thành phố; đánh phá thông tin liên lạc của địch, cô lập bắt giữ bọn cầm đầu; bảo vệ các mục tiêu trọng yếu; nhanh chóng khắc phục hiệu quả đưa đồng bào bị lừa về địa phương; không cho phóng viên, cơ quan ngoại giao vào nơi bạo loạn; kịp thời đấu tranh vạch trần, làm thất bại âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù.
Phương thức xử trí: Một là, phát huy sức mạnh của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, đấu tranh toàn diện với các thế lực thù địch. Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị, quân sự, an ninh, kinh tế, hành chính và ngoại giao. Hai là, kết hợp tiêu diệt làm tan rã các lực lượng phản động với bảo vệ mục tiêu trọng yếu về chính trị, kinh tế, quân sự... phải dựa vào dân, giữ dân, giành dân, bảo vệ dân, kết hợp giữa tieu diệt địch, trừng trị bọn đầu sỏ với tuyên truyền vận động nhân dân để nhanh chóng làm tan rã kẻ thù. Tuyệt đối không được dùng vũ lực chống lại nhân dân.
Hoạt động của Đảng, Nhà nước: Thứ nhất, sự lãnh đạo của Đảng: quyết định những vấn đề lớn như chủ trương, quân điểm, phương châm, phương thức, hình thức đấu tranh, sử dụng lực lượng. Thứ hai, điều hành của Nhà nước là nắm vững quan điểm của Đảng, trên cơ sở hiến pháp, pháp luật hiện hành; ban hành các văn bản cần thiết (lệnh về tình hình khẩn cấpl, chỉ thị của thủ tướng...) đạo điều kiện về pháp lý cho các lực lượng tiến hành xử trí bạo loạn. Giao nhiệm vụ cho các bộ, ban ngành, địa phương; chỉ đạo các mặt đâu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao... trong chống bạo loạn... Thông qua các cơ quan chính phủ, viện kiểm soát và chính quyền địa phương để thực hiện quyền hạn xử lý bạo loạn. Thứ ba, sử dụng lực lượng vũ trang phải dựa vào luật như Luật quốc phòng, Luật an ninh, Pháp lệnh về tình hình khẩn cấp... Khi sử dụng quân đội để chống bạo loạn phải do Bộ trưởng Bộ quốc phòng hoặc tổng tham mưu trưởng trực tiếp ra lệnh theo sự lãnh đạo của bộ chính trị. Hành động của lực lượng vũ trang lấy răn đe phòng ngừa là chính, đúng luật, đúng mục tiêu; hành động kiên quyết nhưng không manh động và kết hợp đấu tranh chính trị, địch vận, ngoại giao...
- Xử lý bạo loạn có vũ trang
Phương thức xử trí: Phát huy sức mạnh của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, lực lượng tại chỗ của địa phương, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt; kết hợp các mặt đấu tranh, sử dụng toàn diện các biện pháp chính trị, quân sự, an ninh, kinh tế... Bảo vệ chắc các mục tiêu trọng yếu, cô lập khu vực bạo loạn, không để cho địch bân ngoài xâm nhập, cô lập kẻ thù, tập trung trừng trị những tên cầm đầu; không để cho nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của ta; nhanh chống khắc phục hậu quả, ổn định đời sống nhân dân...
Tổ chức sử dụng lực lượng gồm: lực lượng đấu tranh chính trị; lực lượng giữ gìn an ninh, trật tự; lực lượng tiến công quân sự; lực lượng bảo đảm; lực lượng khắc phục hậu quả.
 Tổ chức lãnh đạo, điều hành chỉ huy: Về cơ chế lãnh đạo: Thực hiện nhiệm vụ phòng chống bạo loạn lật đổ, phải đặ dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng cộng sản Việt Nam. Cơ chế lãnh đạo theo nghị quyết 02 của Bộ chính trị: “Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, điều hành theo pháp luật, cơ quan công an, quân sự và các cơ quan khác làm tham mưu theo chức năng (1987). Chỉ huy trưởng quân sự, công an chỉ huy thống nhất các lực lượng thuộc quyền làm nhiệm vụ chống bạo loạn lật đổ; về tổ chức chỉ huy: khi có bạo loạn chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp trực tiếp điều hành. Khi cần thiết có địa bàn trọng yếu, quân khu có thể tổ chức sở chỉ huy tiền phương để điều hành, chỉ huy lực lượng vũ trang của quân khu và địa phương.
Khi có tình trạng khẩn cấp về quốc phòng - an ninh, Nhà nước tổ chức Ban chỉ đạo của chính phủ để điều hành.
Phát huy vai trò, chức năng của quân đội, công an: Thực hiện theo chức năng của từng lực lượng, mối quan hệ của hai lực lượng theo chỉ thị 107/TTg của thủ tướng, thong tư 284 của Bộ quốc phòng, thông tư 14 của Bộ công an. Từng địa phương, chỉ huy trưởng quân sự, công an làm tham mưu và chỉ huy lực lượng thuộc quyền. Quân đội là lực lượng tiến công chủ yếu, chỉ huy thống nhất các hoạt động tiến công địch đánh chiếm mục tiêu, đánh bại lực lượng quân sự nước ngoài can thiệp.
Hoạt động của Đ ảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang: sự lãnh đạo của Đảng: quyết định những vấn đề lớn như chủ trương, quan điểm, phương châm, phương thức, hình thức đấu tranh, sử dụng lực lượng; điều hành của Nhà nước: Nắm vững quan điểm của Đảng, trên cơ sở hiến pháp, pháp luật hiện hành; ban hành các văn bản cần thiết (lệnh về tình hình khẩn cấp, chỉ thị của thủ tướng...) tạo điều kiện về pháp lý cho các lực lượng tiến hành xử trí bạo loạn.
Giao nhiệm vụ cho các bộ, ban ngành, địa phương; chỉ đạo các mặt đâu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao... để chống bạo loạn. Thông qua các cơ quan chính phủ, viện kiểm soát và chính quyền địa phương để thực hiện quyền hạn xử lý bạo loạn.
Lực lượng vũ trang nhân dân: Là lực lượng nòng cốt trong đấu tranh quân sự, giữ vai trò quyết định đập tan bạo loạn có vũ trang của địch. Bảo vệ và khôi phục mục tiêu trọng yếu; tiêu diệt lực lượng vũ trang của bọn phản động nội địa; ngăn chặn không để lực lượng vũ trang của địch từ bên ngoài xâm nhập; sẵn sàng đối phó với chiến tranh xâm lược của kẻ địch gây ra.
Nguyên tắc hành động đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền, chỉ huy thống nhất từ Bộ tổng tham mưu. Sử dụng lực lượng vũ trang phù hợp, kiên quyết. Đánh đúng đối tượng, đúng thời cơ. Vận dung linh hoạt các hình thức chiến thuật, các thủ đoạn chiến đấu, hình thức đấu tranh để nhanh chóng tiêu diệt lực lượng vũ trang phản động và sẵn sàng đánh bại lực lượng vũ trang can thiệp. Kết hợp chặt chẽ giữa tiêu diệt địch và bảo vệ ta. Sau khi đập tan bạo loạn phải nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định mọi mặt đời sống xã hội.
4. Một số giải pháp chủ yếu trong phòng, chống diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay
a) Thường xuyên chú trọng tuyên truyền, giáo dục quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước và phát huy sức mạnh toàn dân tộc nhằm phòng, chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ
Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta có nhiều tư duy đổi mới trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, đối tượng và đối tác. Đồng thời, đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở đó đã đưa ra quan điểm chỉ đạo phòng, chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam hiện nay. Vì thế, phải thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước ta về phòng, chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam hiện nay. Có như vậy mới nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân lao động, mọi cấp, mọi ngành về âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù và quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về phòng, chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch sử dụng chống phá cách mạng nước ta. Đồng thời, đây là cơ sở để tạo ra sự đồng thuận, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, mọi cấp, mọi ngành và mỗi người dân Việt Nam.
Hình thức tuyên truyền, giáo dục âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam và quan điểm chỉ đạo của Đảng ta, chủ trương biện pháp phòng, chống âm mưu, thủ đoạn đó của Nhà nước ta phải tiến hành phong phú, đa dạng. Vận dụng linh hoạt, sát với trình độ nhận thức, môi trường, điều kiện cơ sở vật chất, cương vị chức trách được giao để xác định nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục cho hiệu quả. Cần khắc phục những hiện tượng lệch lạc như coi nhẹ việc tuyên truyền, giáo dục quan điểm của Đảng, chủ trương biện pháp của Nhà nước về phòng, chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Phê pháp quan điểm cho rằng, không có chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam, mà do chung ta cường điệu hóa lên. Nếu có thì đó là trách nhiệm của lực lượng vũ trang, chứ không phải trách nhiệm của hệ thống chính trị, mọi cấp, mọi ngành và của mỗi người dân Việt Nam.
b) Xây dựng hệ thống chính trị, nhất là các tổ chức đảng và bộ máy chính quyền từ trung ương đến cơ sở thực sự trong sạch vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân, lãnh đạo và quản lý xã hội có uy tín và hiệu quả
Điều cốt lõi trong xây dựng hệ thống chính trị là xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong đó, cần tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, nhất là tổ chức đảng ở các cơ quan cấp chiến dịch - chiến lược, tăng cường quản lý giáo dục rèn luyện để nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức là lối sống, năng lực trí tuệ và trình độ tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đồng thời, không ngừng bổ sung hoàn thiện cơ chế và hệ thống định chế, đổi mới phương thức lãnh đạo để nâng cao hiệu lực lãnh đạo của Đảng với các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là đối với những quyết sách chiến lược, các quyết định xử trí các tình huống nhạy cảm có ảnh hưởng đến chính trị - xã hội, liên quan tới sự sống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vấn đề then chốt có ý nghĩa quyết định là phải xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược cán bộ đúng đắn, nhất là khi chúng ta đang trong quá trình chuyển tiếp các thế hệ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Trong công tác tổ chức, sắp xếp cán bộ từ Ban chấp hành Trung ương Đảng đến các cáp ủy, bộ máy Nhà nước và tổ chức chính trị -  xã hội các cấp từ Trung ương đến các địa phương, nhất là những vị trí chủ chốt cần chú ý lựa chọn đúng những người tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, đạo đức và lối sống, năng lực trí tuệ và trình độ tổ chức thực tiễn, gần gũi quần chúng và được tín nhiệm. Kiên quyết không bố trí, sắp xếp những người có biểu hiện tha hóa về chính trị - tư tưởng, về đạo đức và lối sống, cơ hội, thực dụng, xa rời quần chúng và bảo đảm được sự kế tiếp vững chắc các thế hệ cán bộ.
Cần tích cực củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, phát huy vai trò là cơ sở chính trị của Đảng và chính quyền nhân dâ n, động viên và tổ chức nhân dân tạo thành phong trào chính trị quần chúng sâu rộng, mạnh mẽ để thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân và thực hiện quyền dân chủ, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Tích cực đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác dân vận, đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng các thiết chế tạo điều kiện để nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ trong moi lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện giám sát của nhân dân đối với đạo đức, lối sống, chất lượng công tác của cán bộ, đảng viên và cơ quan của Đảng và Nhà nước, phát hiện và đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng. Mở rộng dân chủ phải gắn chặt với tăng cường kỷ cương, kỷ luật. Kiên quyết khắc phục tình trạng vô kỷ luật, dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để gây rối. Chủ động đấu tranh làm thất bại những âm mưu thủ đoạn lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để gây mất ổn định chính trị - xã hội thực hiện diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
c) Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, kiên trì xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, bảo đảm an sinh xã hội
Cần ra sức xây dựng nền khoa học - công nghệ Việt Nam hiện đại, vững mạnh cân đối và hiệu quả, có khả năng tiếp thu tốt những thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới, tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển kinh tế theo chiều sâu và bền vững. Phát huy vai trò Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong định hướng, quản lý điều hành sự phát triển của khoa học - công nghệ đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cần lựa chọn đúng cách thức, bước đi phù hợp và bảo đảm tính hiệu quả, khéo kết hợp tuần tự với hiệu quả, đi tắt đón đầu, tạo nên những lĩnh vực và những tập đoàn kinh tế mạnh, phát triển các ngành và các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn dựa trên công nghệ hiện đại, làm tăng năng suât lao động, nâng cao sức cạnh tranh ở cả thị trường trong nước và quốc tế.
Gắn với quá trình phát triển khoa học - công nghệ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cần tích cực bồi dưỡng, phát triển và sử dụng tối ưu nguồn nhân lực, trước hết cần xây dựng cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý (chủ yếu là cơ cấu nghề nghiệp), định hướng đúng đắn việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ cán bộ quản lý, không chỉ tạo ra những người lao động có kỹ thuật và năng suất cao, những nhà doanh nghiệp giỏi mà trước hết là những người có lòng yêu nước và tự tôn dân tộc, có nhận thức sâu sắc và niềm tin vững chắc đối với chủ nghĩa xã hội, có bản lĩnh, trí tuệ và đạo đức trong sáng, lành mạnh, kiên quyết bảo vệ lợi ích dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Trong qúa trình phát triển kinh tế đặc biệt coi trọng định hướng và quản lý điều hành sự vân động, phát triển của các quan hệ sản xuất xã hội. Đây là tiêu điểm của việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và phòng, chống diễn biến hòa bình trên lĩnh vực kinh tế ở nước ta. Cần chủ động định hướng phát triển và giải quyết đúng đắn vị trí, mối quan hệ của các thành phần kinh tế, các quan hệ sở hữu. Trên cơ sở tập trung đầu tư phát triển và xác định thực tế vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, làm cho kinh tế Nhà nước và kinh tế hợp tác xã thực sự là nền tảng của kinh tế quốc dân, cần định hướng khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước. Đồng thời, cần chủ động phát hiện, phòng ngừa sự hình thành và tác động tiêu cực của một số tập đoàn lợi ích đặc biệt tìm cách thao túng nền kinh tế và bộ máy lãnh đạo, quản lý điều hành đất nước (nhất là cơ quan quyền lực Nhà nước và hệ thống chính sách, pháp luật). Đây là hiện tượng tiêu cực nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thương mại hóa mà một số nước thường gặp - một nguy cơ dẫn tới sự khủng hoảng và sự suy vong của quốc gia, dân tộc. Khắc phục tính tự phát của nền kinh tế thị trường và phòng, chống có hiệu quả diễn biến hòa bình trên lĩnh vực kinh tế ở nước ta, vấn đề có ý nghĩa quyết định là giữ vững và tăng cường sức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực điều hành của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế. Cần đặc biệt chăm lo nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ban cán sự Đảng, Chính phủ, các ban cán sự và đảng ủy ở các bộ, ngành và cơ quan tham mưu chiến lược, các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty, các tổ chức cơ sở đảng ở các doanh nghiệp... để nghiêm túc quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội. Phải giữ vững sự ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh về tài chính - tiền tệ, năng lượng, lương thực và các nhu cầu thiết yếu của đời sống nhân dân, không để xảy ra những rối loạn và xáo động lớn. Chủ động phát hiện và xử lý nghiêm những hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, những thủ đoạn làm ăn phi pháp, làm giàu bất chính của những phần tử xấu; tỉnh táo và kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại, lũng đoạn và thao túng nền kinh tế của các thế lực thù địch.
d) Giải quyết tốt các vấn đề văn hóa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn là nền tảng của kiểu nhân cách có bản lĩnh và sáng tạo, của môi trường xã hội lành mạnh, là cơ sở rất quan trọng bảo đảm cho sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia, dân tộc và chế độ xã hội. Cần có sự đổi mới mạnh mẽ, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và của cả toàn dân đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới.
Để đất nước luôn ổn định và phát triển bền vững, phải thường xuyên chăm lo giải quyết tốt các vấn đề xã hội, hướng vào nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo được sự đồng thuận cao, quy tụ và phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nòng cốt là liên minh của giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Trước hết, cần đẩy mạnh việc điều tra xã hội học, nghiên cứu dự báo được những biến động về cơ cấu xã hội, sự phân hóa xã hội, những khó khăn, bức xúc và bất bình của nhân dân... để chủ động điều tiết và giải quyết.
Bảo đảm lợi ích cơ bản của công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức, của đồng bào các dân tộc, kiểm soát và điều tiết thu nhập một cách hợp lý không để cho sự phân hóa giàu - nghèo phát triển tự phát dẫn tới bất bình đẳng và xung đột xã hội. Cùng với khuyến khích làm giàu chính đáng, cần tích cực đào tạo, bồi dưỡng và giải quyết việc làm cho người lao động, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của các tầng lớp nhân dân, nhất là ở nông thôn, miền núi, hải đảo và đồng bào các dân tộc còn nhiều khó khăn gian khổ, thực hiện tốt việc đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công và gia đình chính sách. Điều này thể hiện sâu sắc tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, truyền thống và đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Các cơ quan và cán bộ, công chức trong bộ máy chính quyền các cấp phải thường xuyên được củng cố, xây dựng theo tinh thần nhà nước của dân, do dân và vì dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin yêu và tín nhiệm, phát huy được vai trò và quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý xã hội, đồng thời tăng cường được sự quản lý, điều hành tập trung thống nhất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Các cơ quan và cán bộ của Đảng và Nhà nước cần đặc biệt quan tâm lắng nghe ý kiến của nhân dân, kịp thời phát hiện và tích cực giải quyết những khó khăn và vướng mắc của nhân dân, không để tích tụ thành những bức xúc xã hội và bất bình đẳng của nhân dân có thể dẫn tới xáo động gây mất ổn định chính trị - xã hội, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng kích động quần chúng chống lại chính quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ của chúng.
e) Xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân gắn liền với lực lượng và thế trận an ninh nhân dân vững mạnh; xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại làm nòng cốt trong đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch
Về bản chất, nền quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nền quốc phòng, an ninh kiểu mới với quan điểm chủ đạo lấy dân làm gốc, thực sự của dân, do dân và vì dân, do Đảng cộng sản lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt và Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý và điều hành tập trung thống nhất. Do đó, trong đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, trước hết cần làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bồi dưỡng và phát huy cao độ tiềm lực và sức mạnh tổng hợp, đặc biệt là tiềm lực và sức mạnh chính trị - tinh thần của đất nước và của dân tộc. Công tác giáo dục, bồi dưỡng những kiến thức cần thiết về quốc phòng, an ninh phải được coi là một phận rất quan trọng của nền giáo dục quốc dân, được phổ cập sâu rộng và phù hợp với từng đối tượng trong các tầng lớp nhân dân; là điều kiện và tiêu chuẩn bắt buộc đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt ở các cấp, các ngành và các địa phương nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, năng lực chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Trong quá trình đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, điều đặc biệt quan trọng là trong mọi tình huống phải luôn kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Cần tỉnh táo và kiên quyết đấu tranh chống phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, đáng chú ý là xu hướng đòi quốc gia hóa quân đội, yêu cầu luật hóa mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của quân đội và quân đội chỉ hành động theo pháp luật. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ thẩm quyền và mối quan hệ của các tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nhất là của Ban chấp hành Trung ương, Bộ chính trị, Ban Bí thư Trung ương; Quân ủy Trung ương và Đảng ủy Công an Trung ương. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lĩnh vực quốc phòng và an ninh, đối với Quân đội và Công an; xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh toàn diện, trước hết và quan trọng nhất là vững mạnh về chính trị, thực sự là lực lượng chính trị - lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, của Nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân.
Thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân (nhất là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân) vững mạnh toàn diện, có bản lĩnh chính trị vững vàng và sức chiến đấu cao, luôn thực sự trung thành và tin cậy về chính trị làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc, trong đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Đây là nhân tố quan trọng bảo đảm cho đất nước luôn chủ động về chiến lược trong mọi tình huống, buộc các thế lực thù địch phải cân nhắc khi toan tính những âm mưu, thủ đoạn chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
f) Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, tăng cường hợp tác quốc tế, kết hợp chặt chẽ sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại để đấu tranh làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch
Chiến lược ngoại giao là một bộ phận quan trọng hợp thành chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Trong xu thế đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ giữa các quốc gia ngày càng gia tăng, chúng ta cần đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, tăng cường hợp tác quốc tế, tạo dựng và phát triển thế đối ngoại vững mạnh, rộng mở và năng động, tích cực góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cần thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định và điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự phát triển bền vững của đất nước. Cần chủ động xử lý tốt mối quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng và các nước trong khu vực, tạo được thế đan xen lợi ích giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế, tránh rơi vào thế đối đầu, bị cô lập hoặc lệ thuộc, không để bị động về chiến lược.
Hoạt động đối ngoại cần tích cực tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để vu cáo và cô lập Việt Nam, tạo cớ can thiệp hoặc lợi dụng việc mở cửa giao lưu quốc tế để đưa lực lượng phản động, các phần tử xấu xâm nhập vào nước ta, tạo dụng ngọn cờ thúc đẩy diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ. Cần tăng cường giáo dục, quản lý, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức và lối sống của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, những cán bộ, học sinh, sinh viên đi công công tác và học tập ở nước ngoài, không để bị các thế lực thù địch lôi kéo, mua chuộc ở lại hoặc tổ chức huấn luyện cài cắm về nước trở thành nhân mối thực hiện diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ...
g) Thường xuyên nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, xây dựng các phương án A1, A2 và luyện tập các phương án sát với diễn biến của từng địa phương, đơn vị, từng cấp, từng ngành
Tăng cường các biện pháp nắm địch, nắm tình hình, kịp thời phát hiện hoạt động xâm nhập của bọn phản động ở nước ngoài và sự móc nối của chúng ở trong và ngoài nước. Chủ động triển khai lực lượng, biện pháp quản lý và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại ý đồ xâm nhập, móc nối chống phá dưới mọi hình thức.
Tổ chức các tổ, đội trinh sát, quân báo nhân dân hoạt động có hiệu quả, nắm chắc hoạt động của bọn phản động trong nội địa, địch xâm nhập bên ngoài một cách chính xác để có biện pháp xử lý thích hợp.
Chuẩn bị đầy đủ các phương án đề phòng các tình huống xảy ra. Hiệp đồng chặt chẽ, phối hợp nhịp nhàng, thống nhất để xử trí các tình huống kịp thời và hiệu quả. Lấy phòng ngừa tích cực là chính, khi tình huống xảy ra thì sử lý kiên quyết và khôn khéo, kịp thời, nhanh gọn, không để kéo dài và lan rộng làm cho vụ việc phức tạp thêm, không để các thế lực thù địch lợi dụng tạo cớ can thiệp. Cần kiên định nguyên tắc chiến lược, đồng thời linh hoạt về sách lược trong xử trí các tình huống liên quan đến quốc phòng, an ninh, không để bị động và mắc sai lầm về chiến lược.
Để đấu tranh phòng, chống chiến lược diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ ở Việt Nam có hiệu quả, chúng ta cần thực hiện đồng bộ và toàn diện những giải pháp nêu trên.
Tóm lại: Phòng, chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trên đất nước ta là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc dưới hình thức mới, nhằm giải quyết triệt để vấn đề ai thắng ai giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản ở nước ta và góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng thế giới. Cuộc đấu tranh này của nhân dân ta diễn ra trong bối cảnh thế giới, khu vực đầy biến động phức tạp và có nhiều khó khăn cho chúng ta, do đó sẽ còn lâu dài và gian khổ.
Vì vậy, chúng ta phải thường xuyên quán triệt sâu sắc mục tiêu, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ đã đề ra. Đặc biệt là đối với cán bộ công chức thuộc các cơ quan, tổ chức ở Trung ương, phải làm tốt công tác tham mưu và trực tiếp cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, hành động kịp thời có hiệu quả, nhất định chúng ta sẽ đánh bại hoàn toàn chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch?
2. Chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ở Việt Nam hiện nay?
3. Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, phương châm chỉ đạo và giải pháp cơ bản phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Liên hệ với vai trũ, trỏch nhiệm của cỏn bộ, đảng viên trong phũng, chống chiến lược “diễn biến hũa bỡnh”, bạo loạn lật đổ?
Chuyên đề 3
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH
                                    Biên soạn: Đại tá, ThS Đào Văn Dụng
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở VIỆT NAM
1. Một số khái niệm
Hoạt động kinh tế là hoạt động cơ bản, thường xuyên, gắn liền với sự tồn tại của xã hội loài người. Đó là toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất và tái sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, phục vụ cho nhu cầu đời sống con người.
Khoản 1, Điều 3 của Luật Quốc phòng đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, chỉ rõ: Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp, toàn diện của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt.
“Quốc phòng, công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể  hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học của nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, nhằm giữ vững hoà bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, quy mô. Quốc phòng trở thành hoạt động của cả nước, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Quốc phòng phải kết hợp chặt chẽ với an ninh để bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ. Quốc phòng - an ninh phải kết hợp chặt chẽ với kinh tế để bảo vệ và xây dựng đất nước. Tổ chức quốc phòng của mỗi nước phụ thuộc trực tiếp vào chế độ chính trị - xã hội, truyền thống dân tộc và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước. Nhiều nước quan niệm quốc phòng là một bộ phận của an ninh quốc gia.[23]
Khoản 1 Điều 3 của Luật về An ninh Quốc gia đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004, chỉ rõ: An ninh Quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. 
“An ninh quốc gia, trạng thái ổn định vững chắc của chế độ chính trị - xã hội, chủ quyền quốc gia được toàn vẹn. An ninh quốc gia bao gồm: an ninh kinh tế, an ninh chính trị, an ninh quân sự, an ninh văn hoá - tư tưởng và trật tự an toàn xã hội, trong đó an ninh chính trị là nòng cốt, xuyên suốt trong sự kết hợp chặt chẽ với quốc phòng và công tác đối ngoại;  Bảo vệ an ninh quốc gia được xác định là một nhiệm vụ trọng yếu của mọi quốc gia. Ở Việt Nam, bảo vệ an ninh quốc gia thuộc trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, trong đó công an nhân dân và quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt[24].
Kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh ở nước ta là hoạt động tích cực, chủ động của Nhà nước và nhân dân (dưới sự lãnh đạo của Đảng) trong việc gắn kết chặt chẽ hoạt động kinh tế, quốc phòng, an ninh trong một chỉnh thể thống nhất trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương, thúc đẩy nhau cùng phát triển, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định, để thực hiện thắng lợi hai  nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, chúng ta phải kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh trong một chính thể thống nhất. Quan điểm trên là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, có cơ sở lý luận và thực tiễn.
2. Cơ sở lý luận của sự kết hợp
Một là, xuất phát từ quy luật dựng nước phải đi đôi với giữ nước.
Dựng nước đi đôi với giữ nước là vấn đề có tính quy luật chung của mọi quốc gia, mọi chế độ xã hội khi còn tồn tại giai cấp và nhà nước. Vì vậy, mọi quốc gia, dân tộc đều quan tâm gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh.
Ở Việt Nam, dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc... Theo đó, ý thức kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh đã sớm được hình thành trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là quy luật phổ biến của mọi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội, có cả Học thuyết về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa do V.I.Lênin khởi xướng và xây dựng, gắn liền với Học thuyết này là các quan điểm chiến lược quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa.
          Để giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tất yếu phải kết hợp kinh tế với quốc phòng.
Hai là, theo quan điểm của các nhà kinh điển Mác-Lênin: kinh tế, quốc phòng, an ninh là những mặt hoạt động cơ bản của mỗi quốc gia, dân tộc độc lập có chủ quyền. Mỗi lĩnh vực có mục đích, cách thức hoạt động riêng và chịu sự chi phối của hệ thống quy luật riêng, song giữa chúng lại có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, kinh tế là yếu tố suy cho đến cùng quyết định đến quốc phòng, an ninh; ngược lại, quốc phòng - an ninh cũng có tác động trở lại đối với kinh tế.
Kinh tế quyết định đến nguồn gốc ra đời, bản chất của quốc phòng, an ninh. Lợi ích kinh tế, suy cho đến cùng là nguyên nhân làm nảy sinh các mâu thuẫn và xung đột xã hội. Để giải quyết mâu thuẫn đó, phải có hoạt động quốc phòng, an ninh.
Bản chất của chế độ kinh tế - xã hội quyết định đến bản chất của quốc phòng, an ninh. Xây dựng sức mạnh quốc phòng - an ninh vì mục đích bảo vệ và đem lại lợi ích cho mọi thành viên trong xã hội là do bản chất của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa quy định; còn tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh vì mục đích bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản cầm quyền, thực hiện chiến tranh xâm lược là do bản chất của chế độ kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa quyết định.
Kinh tế quyết định đến việc cung cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực cho hoạt động quốc phòng - an ninh. Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Không có gì phụ thuộc vào kinh tế tiên quyết hơn là chính quân đội và hạm đội[25]; “Thắng lợi hay thất bại của chiến tranh đều phụ thuộc vào điều kiện kinh tế[26]... Vì vậy, để xây dựng quốc phòng, an ninh vững mạnh phải xây dựng, phát triển kinh tế.
Kinh tế quyết định đến việc cung cấp số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cho quốc phòng, an ninh, từ đó quyết định đến tổ chức biên chế của lực lượng vũ trang; quyết định đến đường lối chiến lược quốc phòng - an ninh. Để xây dựng chiến lược quốc phòng - an ninh quốc gia của mỗi nước, phải căn cứ vào nhiều yếu tố, trong đó tổ chức biên chế của lực lượng vũ trang và trang bị vũ khí kỹ thuật hiện có là căn cứ đặc biệt quan trọng. Những yếu tố này đều phụ thuộc vào nền kinh tế.
Quốc phòng - an ninh không chỉ phụ thuộc vào kinh tế mà còn tác động trở lại đối với kinh tế trên cả góc độ tích cực và tiêu cực.
Quốc phòng - an ninh vững mạnh sẽ tạo môi trường hoà bình, ổn định lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế. Quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong thời bình, ở mức độ nhất định cũng có tác dụng kích thích kinh tế phát triển. Tiêu dùng cho hoạt động quốc phòng - an ninh, một mặt, đặt ra cho nền kinh tế phải sản xuất ra sản phẩm, hoặc thông qua mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nó; mặt khác, sẽ tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm của nền kinh tế.
Hoạt động quốc phòng - an ninh tiêu tốn đáng kể một phần nguồn nhân lực, vật lực, tài chính của xã hội. Những tiêu dùng này, như V.I.Lênin đánh giá, là tiêu dùng mất đi, không quay vào tái sản xuất xã hội. Do đó, sẽ ảnh hưởng đến tiêu dùng của xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế. Hoạt động quốc phòng - an ninh (thông qua học thuyết quân sự, chiến lược quân sự quốc phòng, an ninh) còn ảnh hưởng đến đường lối phát triển kinh tế, cơ cấu của nền kinh tế. Hoạt động quốc phòng - an ninh còn có thể dẫn đến huỷ hoại môi trường sinh thái, để lại hậu quả nặng nề cho nền kinh tế, nhất là khi chiến tranh xảy ra. Để hạn chế những tác động tiêu cực này, phải kết hợp tốt củng cố tăng cường quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế vào một chỉnh thể thống nhất.
Kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh là một tất yếu khách quan. Mỗi lĩnh vực hoạt động có nội dung, phương thức riêng nhưng lại có sự thống nhất ở mục đích chung, cái này là điều kiện tồn tại của cái kia và ngược lại. Tuy nhiên, cần phải nhận thức rõ mỗi lĩnh vực có quy luật phát triển đặc thù, do đó, việc kết hợp phải được thực hiện một cách khoa học, hợp lý, cân đối và hài hòa.
3. Cơ sở thực tiễn của sự kết hợp
Kết hợp kinh tế với quốc phòng là vấn đề có tính quy luật của xã hội có giai cấp và nhà nước. Thực tiễn lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới chỉ ra rằng, dù là nước lớn hay nước nhỏ; kinh tế phát triển hay chưa phát triển; dù chế độ chính trị như thế nào thì mỗi quốc gia cũng đều chăm lo thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, kể cả những nước mà hàng trăm năm nay chưa có chiến tranh.
Tuy nhiên, các nước khác nhau, với chế độ chính trị - xã hội khác nhau, điều kiện hoàn cảnh khác nhau thì sự kết hợp cũng có sự khác nhau về mục đích, nội dung, phương thức và kết quả. Ngay trong một nước, trong mỗi giai đoạn phát triển thì sự kết hợp cũng khác nhau. Đối với các nước có nền công nghiệp hiện đại, có tiềm lực khoa học kỹ thuật quân sự phát triển thì thông qua xuất khẩu vũ khí để bổ sung ngân sách nhà nước. Đối với các nước đang phát triển thì chủ yếu là tập trung thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế để có đủ lực nhập khẩu vũ khí, trang thiết bị phục vụ cho nhu cầu của quốc phòng - an ninh. Các nước đều chú ý xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách nhằm huy động các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực từ nền kinh tế cho hoạt động quốc phòng - an ninh
Thực tiễn ở Việt Nam, sự kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh đã có lịch sử lâu dài. Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam.
Trong các triều đại phong kiến Việt Nam luôn lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm trọng, đề ra kế sách giữ nước với tư tưởng: nước lấy dân làm gốc, dân giàu, nước mạnh, quốc phú binh cường; thực hiện khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc để yên dân mà vẹn đất. Thực hiện kế sách ngụ binh ư nông, động vi binh, tĩnh vi dân để vừa phát triển kinh tế, vừa tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Trong xây dựng, phát triển kinh tế, đã sử dụng nhiều chính sách như khai hoang lập ấp ở những nơi xung yếu để phục binh sẵn, phá thế giặc dữ từ xa; phát triển nghề thủ công để vừa sản xuất ra các công cụ sản xuất, vừa sản xuất ra các vũ khí, phương tiện phục vụ cho toàn dân đánh giặc; chăm lo mở mang đường sá, đào sông ngòi, kênh rạch, xây đắp đê điều để vừa phát triển kinh tế, vừa tạo thế trận đánh giặc, cơ động lực lượng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, do nắm vững quy luật và biết kế thừa kinh nghiệm của lịch sử nên đã thực hiện sự kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh một cách nhất quán với những chủ trương sáng tạo, phù hợp với từng thời kỳ của cách mạng.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) Đảng ta đề ra chủ trương Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, “Vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; vừa thực hiện phát triển kinh tế ở địa phương vừa tiến hành chiến tranh nhân dân rộng khắp; “Xây dựng làng kháng chiến, địch đến thì đánh, địch lui ta lại tăng gia sản xuất.
 Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh đã được Đảng ta chỉ đạo thực hiện ở mỗi miền với nội dung và hình thức thích hợp.
 Ở miền Bắc, để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và xây dựng hậu phương lớn cho miền Nam đánh giặc, Đại hội lần thứ III của Đảng đã đề ra chủ trương: Trong xây dựng kinh tế, phải thấu suốt nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, cũng như trong củng cố quốc phòng phải khéo sắp xếp cho ăn khớp với công cuộc xây dựng kinh tế. Theo tinh thần đó, miền Bắc đã xây dựng, phát triển chế độ xã hội mới, nền kinh tế, văn hoá mới, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; đồng thời kết hợp chặt chẽ với chăm lo củng cố quốc phòng - an ninh vững mạnh, đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
 Ở miền Nam, Đảng chỉ đạo quân và dân ta kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch với củng cố mở rộng hậu phương, xây dựng căn cứ địa miền Nam vững mạnh. Đây chính là một điều kiện cơ bản bảo đảm cho cách mạng nước ta đi đến thắng lợi.
 Thời kỳ cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội (từ 1975 đến nay) kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh được Đảng ta khẳng định là một nội dung quan trọng trong đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và được triển khai trên quy mô rộng lớn, toàn diện hơn. Từ năm 1986 đến nay, với tư duy mới về kinh tế và quốc phòng, an ninh, việc kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, bộ, ban ngành có bước chuyển biến cả trong nhận thức và tổ chức thực hiện, đã thu được nhiều kết quả quan trọng, cụ thể:
Đảng ta luôn luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác quốc phòng, an ninh và việc kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh. Do đó, trong hầu hết các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng đều có nội dung lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác quốc phòng - an ninh nói chung và việc kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, coi đó là một nội dung quan trọng trong đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quốc hội và Chính phủ đã ban hành hàng loạt các luật, pháp lệnh, nghị định liên quan đến quốc phòng - an ninh và kết hợp kinh tế với quốc phòng như: Luật Quốc phòng, Luật An ninh quốc gia, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Công an nhân dân, Luật Dân quân tự vệ, Luật Biên giới quốc gia, Luật Biển Việt Nam… Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp, Pháp lệnh Bộ đội biên phòng, Pháp lệnh Lực lượng cảnh sát biển Việt Nam, Pháp lệnh Tình báo, Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng, Pháp lệnh Công an xã,…Nghị định của Chính phủ về công tác quốc phòng ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ và địa phương
Công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh đã được triển khai thực hiện đối với mọi đối tượng. Nhờ đó, ý thức về nhiệm vụ quốc phòng -an ninh và năng lực tổ chức thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh của các tầng lớp nhân dân, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp đã được nâng lên một bước.
Trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhiều ngành, lĩnh vực và các công trình trọng điểm quốc gia đã thể hiện được kết hợp kinh tế với quốc phòng như: ngành đóng tàu; bưu chính viễn thông; giao thông vận tải; hoạt động đối ngoại; Công trình Thuỷ điện sông Đà; Đường Hồ Chí Minh; Đường dây 500KW; phát triển Chương trình cơ khí trọng điểm quốc gia
Trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh: Quân đội nhân dân và Công an nhân dân tiếp tục được củng cố, xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, thực sự là lực lượng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; làm tốt công tác tham mưu, góp phần chủ động phòng ngừa, làm thất bại âm mưu diễn biến hoà bình, hoạt động gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch... quân đội và công an đã phát huy tốt vai trò tham gia phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống và khắc phục thiên tai; đặc biệt là phát triển các khu kinh tế - quốc phòng, các khu quốc phòng - kinh tế
Tuy nhiên, lĩnh vực quốc phòng - an ninh còn một số mặt hạn chế, như trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ ra rằng: “Một số quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đại hội X về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh chưa được triển khai thực hiện kịp thời. Nhận thức về quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân của một số cán bộ, đảng viên trong các ngành, các cấp chưa đầy đủ, sâu sắc, thiếu cảnh giác trước âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch và tự diễn biến, tự chuyển hoá trong nội bộ. Công tác bảo vệ an ninh trong một số lĩnh vực còn có những thiếu sót; xử lý tình hình phức tạp nảy sinh ở cơ sở có lúc, có nơi còn bị động, tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở một số địa bàn còn diễn biến phức tạp. Việc gắn kết giữa phát triển kinh tế với củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh, đặc biệt là tại các vùng chiến lược, biển, đảo còn chưa chặt chẽ. Công nghiệp quốc phòng - an ninh chưa đáp ứng yêu cầu trang bị cho các lực lượng vũ trang.[27]
4. Quan điểm của Đảng về xây dựng phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh
 Xây dựng phát triển kinh tế gắn với củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh là quan điểm, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện trong hầu hết các văn kiện của Đảng, được tổ chức triển khai chặt chẽ. Đó là sự kế thừa và phát triển phù hợp với quy luật dựng nước và giữ nước của dân tộc ta trong tình hình mới.
 a. Xây dựng phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh phải toàn diện, cơ bản lâu dài ngay từ trong chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và củng cố, tăng cường quốc phòng - an ninh             
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định phải: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội;…”[28]. Quán triệt quan điểm này, cần thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Phải tạo ra được thế bố trí thống nhất giữa kinh tế với quốc phòng phù hợp với phương án tác chiến phòng thủ của từng địa phương và chiến lược quốc phòng chung của cả nước.
 Phải tạo ra được sự ổn định chính trị, trật tự, an ninh, an toàn xã hội, phòng, chống có hiệu quả chiến lược diễn biến hoà bình, hoạt động gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
 Phải nâng cao năng lực quản lý kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh của chính quyền các cấp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng - an ninh đất nước.
 b. Kết hợp chặt chẽ quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn lãnh thổ, quan tâm đặc biệt đến các vùng, địa bàn trọng điểm[29]
Quán triệt quan điểm trên, trong tình hình hiện nay, việc kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh không chỉ là kết hợp giữa kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh một cách toàn diện, cơ bản lâu dài trên phạm vi cả nước, mà còn là kết hợp giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế - xã hội trên từng địa bàn lãnh thổ, đồng thời phải chú trọng ở những vùng, địa bàn chiến lược trọng yếu như vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ... Do đó, chúng ta phải tranh thủ thời cơ thuận lợi tập trung sức xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phải tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảonhằm tạo ra sức mạnh răn đe và đánh thắng mọi âm mưu, thủ đoạn của bất cứ kẻ thù nào, trong mọi tình huống, giữ vững ổn định đất nước, tạo điều kiện lâu dài cho kinh tế phát triển, lấy việc giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc.
 c. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong quá trình kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh
 Hiện nay, chủ nghĩa xã hội không còn tồn tại với tư cách là một hệ thống nữa, nước ta không còn nhận được viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa như trước đây. Vì vậy, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phải coi trọng phát huy nội lực, tự lực, tự cường, phát huy truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng của đất nước cho quá trình kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Đồng thời tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập, tận dụng tốt các nguồn ngoại lực cho phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh.
 d. Kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh phải vừa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh, vừa nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
 Mọi thành quả đạt được của quá trình phát triển kinh tế - xã hội là nhằm ngày càng đáp ứng tốt nhất cho sự tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, cũng như nâng cao được đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đồng thời, mọi hoạt động quốc phòng - an ninh là nhằm tạo ra và gìn giữ được môi trường hoà bình ổn định để đẩy mạnh phát triển kinh tế, bảo vệ sự phát triển kinh tế, bảo vệ cuộc sống của dân cư và tạo ra cơ sở chính trị tinh thần của nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.
 Muốn đáp ứng được các nhu cầu trên phải kết hợp đúng đắn giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh. Thực hiện ở đâu có hoạt động kinh tế - xã hội, ở đó phải gắn với củng cố quốc phòng - an ninh; ở đâu có hoạt động quốc phòng - an ninh, ở đó phải gắn với kinh tế - xã hội nhằm bảo vệ công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội.
 II. PHƯƠNG HƯỚNG, NỘI DUNG KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VỚI QUỐC PHÒNG - AN NINH Ở CẤP HUYỆN             
1. Phương hướng
 a) Xây dựng phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng cơ sở chính trị, tinh thần, xây dựng lực lượng vũ trang ở cấp huyện vững mạnh toàn diện
 Trong các hoạt động kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, quân sự hiện nay, kinh tế là mặt trận phát triển rất quan trọng nhằm góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Kinh tế ở địa phương phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, chính trị xã hội ổn định là nền tảng quốc phòng - an ninh ở địa phương.
 Thông qua phát triển kinh tế - xã hội giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân nâng cao ý thức làm chủ lao động sản xuất, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa phương, xây dựng địa phương vững mạnh về mọi mặt. Đi đôi với giáo dục chính trị, củng cố trận địa chính trị, tư tưởng của nhân dân địa phương, kiên định mục tiêu con đường xã hội chủ nghĩa, đồng thời phải tích cực chủ động đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Xây dựng lực lượng vũ trang địa phương làm nòng cốt cho thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân nhằm bảo vệ địa phương vững chắc.
 b) Kết hợp bố trí cơ cấu kinh tế - xã hội, dân cư gắn với bố trí thế trận quốc phòng - an ninh ở từng cơ sở, trên từng địa bàn ở địa phương
 Bố trí vùng kinh tế, xây dựng các ngành kinh tế kỹ thuật ở địa phương nhằm tạo ra thế bố trí trong quy hoạch tổng thể cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh, bảo đảm cho kinh tế - xã hội của địa phương phát triển thuận lợi trong thời bình, khi chuyển sang thời chiến không bị xáo trộn lớn, có thể tiếp tục phát triển sản xuất phục vụ yêu cầu chiến tranh và phục vụ đời sống nhân dân. Việc kết hợp phải cơ bản lâu dài theo định hướng sau:
 Kết hợp xây dựng phát triển kinh tế - xã hội với xây dựng các khu vực phòng thủ cấp huyện vững chắc: Vững về kinh tế, phát triển về văn hoá xã hội, mạnh về quốc phòng - an ninh, thực sự là trận địa vững chắc của chế độ.
 Các huyện ở địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng như các huyện ven biển, biên giới, hải đảo, phát triển kinh tế xã hội kết hợp điều chỉnh dân cư, bố trí các khu kinh tế hình thành các cụm kinh tế kỹ thuật gắn với xây dựng các tuyến phòng thủ có chiều rộng và chiều sâu thích hợp để khi chiến tranh xảy ra buộc địch phải đột phá qua nhiều tuyến làng, xã chiến đấu.
 Các huyện, quận ở các thành phố lớn, ở các trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị càng phải xây dựng phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh chặt chẽ hơn, quy hoạch tổng thể xây dựng phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc.
 c) Kết hợp phát triển các ngành kinh tế, kỹ thuật của địa phương gắn với củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh trên từng địa bàn ở địa phương
 Trong quy hoạch phát triển kinh tế ở địa phương phải gắn với việc củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng ở tất cả các ngành kinh tế. Mọi ngành kinh tế khi có chỉ tiêu nhiệm vụ, phải xây dựng kế hoạch động viên kinh tế trong trường hợp địa phương chuyển sang chiến tranh. Phải có kế hoạch bảo đảm cả về lực lượng, phương tiện, kỹ thuật, hậu cần tại chỗ để địa phương chiến đấu dài ngày.
 2. Nội dung chủ yếu của việc kết hợp xây dựng phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh ở cấp huyện
 Kết hợp xây dựng phát triển kinh tế - xã hội  với quốc phòng - an ninh là hoạt động phối hợp của các ngành, các cấp dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước tạo nên sức mạnh tổng hợp cho cả kinh tế và quốc phòng - an ninh
 Kết hợp xây dựng phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh có quy mô rộng lớn, toàn diện cho nên phải phối hợp; đó là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của toàn xã hội, đến mọi công dân, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn nhất làm cho kinh tế phát triển, quốc phòng, an ninh luôn được củng cố vững chắc.
Cấp huyện là những đơn vị hành chính có vị trí quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, có vai trò to lớn trong xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh. Mỗi huyện có đặc điểm, thuận lợi, khó khăn riêng. Việc phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh cũng khác nhau.
 Kết hợp xây dựng phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh ở cấp huyện phải dựa vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và thế trận khu vực phòng thủ của huyện, tỉnh, thế bố trí chiến lược phòng thủ chung của cả nước, đồng thời phải phù hợp với đặc điểm địa bàn của từng huyện.
 Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh ở cấp huyện cần thực hiện tốt các nội dung sau:
 a) Kết hợp xây dựng phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh  ngay trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
 Mục đích của kết hợp là nhằm thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
 Trong khi hoạch định phát triển kinh tế - xã hội của địa phương phải tính đến những yêu cầu của quốc phòng - an ninh đặt ra cho từng ngành, từng địa phương và cơ sở để lựa chọn phương hướng phát triển, các giải pháp tốt nhất là vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, vừa củng cố quốc phòng - an ninh vững mạnh đủ sức bảo vệ công cuộc xây dựng địa phương, xây dựng đất nước.
 Việc củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân phải dựa vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội để kết hợp chặt chẽ.
 Xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng - an ninh của nước ta hiện nay phải dựa trên cơ sở phát huy nội lực, tự lực, tự cường. Đất nước đang ở thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên khả năng đầu tư lớn nhằm hiện đại hoá quốc phòng - an ninh còn hạn chế, đây là một thách thức lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh phải được thực hiện một cách có hiệu quả; quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải gắn với xây dựng, củng cố quốc phòng - an ninh, vì quốc phòng - an ninh mạnh sẽ tạo ra môi trường ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ thành quả kinh tế tạo ra. Để thực hiện nội dung trên, cần giải quyết tốt một số vấn đề sau:
 Kết hợp xây dựng phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh được tiến hành đồng thời với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
 Các chương trình, các dự án phát triển kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải thể hiện được lợi ích của kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh.
 Sự kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh phải được thực hiện ngay trên từng địa bàn lãnh thổ, từ công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch và hình thành các dự án đầu tư phát triển.
 Bố trí thế trận quốc phòng, an ninh phù hợp với tình hình mới và kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội. Phát huy các nguồn lực xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng và các khu quốc phòng - kinh tế ở vùng biên giới, hải đảo. Có chính sách đặc biệt phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân tại các khu vực có yêu cầu đặc thù về quốc phòng - an ninh.
 Bảo đảm tốt đời sống vật chất tinh thần, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu cho lực lượng vũ trang.
 Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Ngăn chặn kịp thời, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động của các thế lực thù địch.
 Củng cố quốc phòng, an ninh đủ sức bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước, của địa phương và tận dụng những thành tựu khoa học - công nghệ mới để từng bước đầu tư xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh. Lực lượng vũ trang địa phương phát huy tiềm năng của mình góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
b) Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh trên từng địa bàn ở cấp huyện
Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh trên địa bàn ở từng địa phương là sự gắn kết chặt chẽ phát triển vùng kinh tế với xây dựng sức mạnh quốc phòng - an ninh trên từng địa bàn, nhằm tạo ra thế bố trí mới cả về kinh tế lẫn quốc phòng - an ninh trên từng địa bàn huyện, quận, tỉnh, thành phố và trên từng vùng lãnh thổ của cả nước theo ý đồ phòng thủ chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam vững trên toàn cục và mạnh ở từng trọng điểm.
Việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh ở các vùng lãnh thổ của cả nước cũng như trên địa bàn ở từng địa phương phải được thể hiện những nội dung chủ yếu sau:
Một là, kết hợp trong xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh của vùng, cũng như­ trên địa bàn từng tỉnh, thành phố, huyện, quận.
Hai là, kết hợp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, cơ cấu kinh tế địa phương với xây dựng các khu vực phòng thủ then chốt, các cụm chiến đấu liên hoàn, các xã phường chiến đấu trên địa bàn của các tỉnh, thành phố, huyện, quận.
Ba là, kết hợp trong quá trình phân công lại lao động của vùng, phân bố lại dân c­ư với tổ chức xây dựng và điều chỉnh, sắp xếp bố trí lại lực lượng quốc phòng, an ninh trên từng địa bàn, lãnh thổ cho phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội và kế hoạch phòng thủ bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm ở đâu có đất, có biển, đảo là ở đó có dân và có lực l­ượng quốc phòng - an ninh để bảo vệ cơ sở, bảo vệ Tổ quốc.
Bốn là, kết hợp đầu t­ư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế với xây dựng các công trình quốc phòng, quân sự, phòng thủ dân sự... Bảo đảm tính "lưỡng dụng" trong mỗi công trình được xây dựng.
Năm là, kết hợp xây dựng các cơ sở kinh tế vững mạnh toàn diện, rộng khắp với xây dựng các căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu cần, kỹ thuật và hậu phương vững chắc cho mỗi vùng và ở các địa phương để sẵn sàng đối phó khi có chiến tranh xâm lược.
- Ở các vùng kinh tế trọng điểm
Hiện nay, nước ta xác định 3 vùng kinh tế trọng điểm: phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh); phía Nam (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu); miền Trung (Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Dung Quất - Quảng Ngãi).
Việc kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh của những địa phương ở các vùng này cần tập trung vào một số vấn đề sau:
Trong quy hoạch, kế hoạch xây dựng các khu đô thị, các khu công nghiệp cần lựa chọn quy mô trung bình, bố trí phân tán, trải đều trên diện rộng, không nên xây dựng tập trung thành những siêu đô thị lớn, để thuận lợi cho quản lý, giữ gìn an ninh chính trị trong thời bình và hạn chế hậu quả tiến công hoả lực của địch khi có chiến tranh.
Phải kết hợp chặt chẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế với kết cấu hạ tầng của nền quốc phòng toàn dân. Khắc phục tình trạng chỉ chú ý quan tâm đến lợi thế, hiệu quả kinh tế trước mắt mà quên đi nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và ng­ược lại khi bố trí các khu vực phòng thủ, các công trình quốc phòng, chỉ chú ý đến các yếu tố bảo đảm quốc phòng, an ninh mà không tính đến lợi ích kinh tế.
Trong quá trình xây dựng các khu công nghiệp tập trung, đặc khu kinh tế phải có sự gắn kết với quy hoạch xây dựng lực lư­ợng quốc phòng - an ninh, các tổ chức chính trị, đoàn thể ngay trong các tổ chức kinh tế đó. Lựa chọn đối tác đầu tư­, bố trí xen kẽ, tạo thế đan cài lợi ích giữa các nhà đầu tư­ nước ngoài trong các khu công nghiệp, đặc khu kinh tế, khu chế xuất.
Việc xây dựng, phát triển kinh tế của các địa phương ở các vùng kinh tế trọng điểm phải nhằm đáp ứng phục vụ nhu cầu dân sinh thời bình và cả cho việc chuẩn bị đáp ứng nhu cầu chi viện cho các chiến tr­ường khi chiến tranh xảy ra. Kết hợp phát triển kinh tế tại chỗ với xây dựng căn cứ hậu phương trên địa bàn của các địa phương để sẵn sàng chủ động di dời, sơ tán đến nơi an toàn khi có tình huống chiến tranh xâm lược.
- Ở vùng núi biên giới
Vùng núi biên giới của nước ta có chiều dài tiếp giáp với Trung Quốc, Lào, Cămpuchia. Đây là khu vực có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược phòng thủ bảo vệ Tổ quốc. Trong khi đó, ở đây còn nhiều khó khăn, yếu kém về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh dễ bị kẻ thù lợi dụng để lôi kéo, kích động đồng bào, thực hiện âm mư­u chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, nhiều nơi tình hình rất phức tạp. Vì vậy, trước mắt cũng như­ lâu dài, việc kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh ở vùng núi biên giới là đặc biệt quan trọng.
Việc kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh của các địa phương ở vùng núi biên giới cần tập trung vào một số nội dung sau:
Phải quan tâm đầu tư­ phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng - an ninh ở các vùng cửa khẩu, các vùng giáp biên giới với các nước.
Phải tổ chức tốt việc định canh, định cư­ tại chỗ; trên cơ sở chính sách của nhà nước cần có biện pháp phù hợp để động viên, điều chỉnh, thu hút dân cư từ các nơi khác đến vùng núi biên giới.
Tập trung xây dựng các xã trọng điểm về kinh tế và quốc phòng - an ninh. Trước hết, cần tập trung xây dựng phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở, mở mới và nâng cấp các tuyến đường dọc, ngang, các tuyến đường vành đai kinh tế.
Thực hiện tốt chương trình xoá đói, giảm nghèo, Chương trình 135 về phát triển kinh tế xã hội đối với các xã nghèo.
Đối với những nơi có địa thế quan trọng, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, cần kết hợp mọi nguồn lực, mọi lực lượng của cả Trung ­ương và địa phương để cùng lo, cùng làm.
Đặc biệt với các địa bàn chiến lược trọng yếu dọc sát biên giới, các địa phương cần phối kết hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang, lực lượng quân đội trong xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, hoặc các khu quốc phòng - kinh tế, nhằm tạo thế và lực mới cho phát triển kinh tế xã hội và tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh.
- Ở vùng biển đảo.
Nước ta có vùng biển rộng, với diện tích hơn 1 triệu km2 (gấp hơn 3 lần diện tích đất liền). Đây là vùng chiến lược về kinh tế, quốc phòng - an ninh, việc quan tâm thực hiện kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh trên vùng biển, đảo là đòi hỏi bức bách và rất quan trọng cả trước mắt cũng như­ lâu dài, nhằm nhanh chóng tạo ra thế và lực đủ sức bảo vệ, làm chủ toàn diện vùng biển, đảo, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế biển phát triển nhanh làm giàu cho Tổ quốc.
Việc kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh của các địa phương ở vùng biển đảo cần tập trung vào một số vấn đề sau:
Tập trung trước hết vào xây dựng, hoàn thiện kế hoạch phát triển kinh tế và xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh bảo vệ biển, đảo trong tình hình mới, làm cơ sở cho việc thực hiện kết hợp kinh tế xã hội với quốc phòng - an ninh một cách cơ bản, toàn diện, lâu dài.
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch từng bước đư­a dân ra vùng ven biển và các tuyến đảo gần trước để có lực lượng xây dựng căn cứ hậu phương, trụ bám phát triển kinh tế và bảo vệ biển, đảo một cách vững chắc, lâu dài.
Trên cơ sở cơ chế chính sách của nhà nước, các địa phương cần có các giải pháp về vật chất và tinh thần thoả đáng để động viên, khích lệ dân ra đảo trụ bám làm ăn lâu dài.
Phát triển các loại hình dịch vụ trên biển, đảo, tạo điều kiện cho dân bám trụ, sinh sống, làm ăn.
Các địa phương cần chủ động vận dụng tốt cơ chế, chính sách của nhà nước để mở rộng liên kết làm ăn kinh tế ở vùng biển, đảo thuộc chủ quyền nước ta với các đối tác của các nước phát triển, nhằm tạo ra các đối tác đan xen lợi ích và đối tượng chống lại sự lấn l­ướt của các nước lớn.
Chú trọng đầu t­ư phát triển chương trình đánh bắt xa bờ, thông qua đó xây dựng lực lượng dân quân biển, phối hợp với các hải đoàn tự vệ của ngành Hàng hải, Cảnh sát biển, kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn kịp thời những hoạt động vi phạm chủ quyền biển, đảo của nước ta,... Các địa phương phải tích cực tham gia xây dựng một số đơn vị kinh tế - quốc phòng mạnh trên biển, đảo để làm nòng cốt cho phát triển kinh tế biển và tạo thế bảo vệ biển, đảo vững chắc.
Trên cơ sở sự đầu tư của nhà nước để­ xây dựng lực lượng nòng cốt và thế trận phòng thủ trên biển, đảo, trước hết là phát triển và hiện đại hoá lực lượng Hải Quân nhân dân Việt Nam để đủ sức mạnh canh giữ, bảo vệ vùng biển, đảo. Các địa phương cần chủ động xây dựng các phương án đối phó với các tình huống có thể xảy ra ở vùng biển, đảo nước ta.
c) Kết hợp phát triển kinh tế, xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh trong một số ngành và lĩnh vực kinh tế chủ yếu của cấp huyện
- Kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh trong ngành công nghiệp địa phương
Ngành công nghiệp có vai trò cực kỳ quan trọng tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân.
Hoạt động kinh tế trong ngành công nghiệp có quy mô lớn, diện rộng, quá trình hoạt động cần gắn liền giữa dân sinh và quốc phòng - an ninh trước mắt và lâu dài, cả thời bình lẫn thời chiến.
Hiện nay, nước ta đang tập trung nguồn lực phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh tạo ra những sản phẩm và thu hút nhiều lao động như: chế biến nông, thuỷ sản, đóng tàu, thiết bị điện, công nghệ thông tin đây là những ngành kinh tế có thể kết hợp kinh tế với quốc phòng trong cả thời bình và thời chiến.
Kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh trong ngành công nghiệp theo phương thức:
Trong quy hoạch phát triển ngành công nghiệp, cần bố trí các khu công nghiệp tương đối đồng đều trên các vùng của huyện để sẵn sàng huy động cho quốc phòng - an ninh khi có chiến tranh.
Thông thường các khu công nghiệp được hình thành theo từng cụm, từng vùng để tiện cho hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, cần phải có biện pháp để bố trí sắp xếp, phát triển các khu công nghiệp đồng đều trên phạm vi cả huyện nhằm tận dụng nhân công, tạo công ăn việc làm cho nhân dân trong thời bình; khi chiến tranh xảy ra tránh được các đòn đánh phá tập trung của địch, đồng thời huy động phục vụ kịp thời cho quốc phòng trên từng hướng.
Cùng với sự phát triển các khu công nghiệp, sẽ hình thành các khu dân cư tập trung bảo đảm cho phát triển kinh tế xã hội, cũng như phát triển lực lượng chiến đấu tại chỗ trong thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.
Kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh trong ngành công nghiệp hiện nay, cần gắn hiệu quả kinh tế - xã hội với yêu cầu quốc phòng - an ninh. Để thực hiện được vấn đề đó, khi chuẩn bị triển khai dự án cần phải:
Xem xét xem các dự án có ảnh hưởng gì hay không tới vị trí đóng quân, vị trí bố trí các công trình quốc phòng.
Xem xét tư cách pháp nhân (tổ chức, cá nhân, lưu ý các dự án có liên quan đến nước ngoài).
Hoạt động của dự án có ảnh hưởng gì tới môi trường, dân sinh, văn hoá xã hội và nhiệm vụ quốc phòng - an ninh.
Những vấn đề cần kết hợp kinh tế, xã hội với quốc phòng có ảnh hưởng đến quy hoạch phát triển quốc phòng.
Kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích kinh tế - xã hội với lợi ích quốc phòng - an ninh, không vì lợi ích của mặt này mà làm ảnh hưởng đến mặt khác.
Nâng cao năng lực của ngành công nghiệp trong việc đáp ứng các nhu cầu vật chất kỹ thuật, công nghệ cho quốc phòng, an ninh; sẵn sàng huy động một bộ phận của ngành công nghiệp phục vụ cho quốc phòng, an ninh.
Để nâng cao năng lực của ngành công nghiệp trong việc đáp ứng các nhu cầu vật chất kỹ thuật, công nghệ cho quốc phòng - an ninh; sẵn sàng huy động phục vụ cho thời kỳ đầu chiến tranh, cần phải căn cứ vào những vấn đề sau:
+ Đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân.
+ Dự báo quy mô chiến tranh, phương thức tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
+ Nhu cầu và thực lực trang bị của quân đội.
+ Dự báo mức tiêu hao vũ khí, trang bị trong chiến tranh.
+ Khả năng sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị của các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng và bảo đảm từ các nguồn khác.
+ Kết quả khảo sát năng lực sản xuất, sửa chữa trang bị của các doanh nghiệp công nghiệp. Căn cứ vào kết quả khảo sát đó để báo cáo với cấp trên chuyển đổi, mở rộng các doanh nghiệp, nhà máy, xí nghiệp sang phục vụ quốc phòng cho hợp lý.
- Kết hợp kinh tế với quốc phòng,  an ninh trong nông, lâm, ngư­ nghiệp
Đây là ngành được hình thành trên phạm vi rộng của cả nước, trên đất liền và ở biển đảo. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ làm cho ngành này có bước chuyển dịch cả cơ cấu sản xuất và lao động. Vì vậy, khi kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh trong các lĩnh vực này cần tập trung chú ý một số vấn đề sau:
Trong hoạch định chiến lược phát triển nông, lâm, ngư nghiệp của từng địa phương cần gắn với thế trận quốc phòng - an ninh, tạo ra lực lượng phòng thủ tại chỗ, hậu cần tại chỗ.
Kết hợp phải nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đất, rừng, biển, đảo và lực lượng lao động ở từng địa phương để phát triển đa dạng ngành trong nông, lâm, ng­ư nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, làm ra nhiều sản phẩm hàng hoá có giá trị cao phục vụ tiêu dùng trong nước, xuất khẩu và có lượng dự trữ dồi dào về mọi mặt cho quốc phòng - an ninh.
Phân bố lao động trong nông, lâm, ngư nghiệp hợp lý, cân đối, nhất là ở vùng biên giới cần đẩy mạnh phát triển trồng rừng gắn với công tác định canh định c­ư, hình thành các cụm dân cư, kết hợp với lực lượng vũ trang xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, chủ động đối phó với các tình huống, giữ vững an ninh chính trị, bảo vệ và khai thác tốt nguồn tài nguyên.
Kết hợp trong nông, lâm, ng­ư nghiệp phải gắn với việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội như­ xoá đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí, chăm sóc sức khoẻ, đền ơn đáp nghĩa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, xây dựng nông thôn mới văn minh và hiện đại. Bảo đảm an ninh lư­ơng thực và an ninh nông thôn, góp phần tạo thế trận phòng thủ, "thế trận lòng dân" vững chắc.
Phải kết hợp gắn việc động viên đư­a dân ra lập nghiệp ở các đảo để xây dựng các làng, xã, huyện đảo vững mạnh với chú trọng đầu tư­ xây dựng phát triển các hợp tác xã, các đội tàu thuyền đánh cá xa bờ, xây dựng lực lượng tự vệ, lực lượng dân quân biển, đảo; phối hợp chặt chẽ với lực lượng Hải quân và Cảnh sát biển để bảo vệ biển, đảo.
Kết hợp việc phát triển lâm trường với giao rừng cho dân để phát triển rừng, vừa hình thành các cụm dân cư tập trung làm cho kinh tế - xã hội phát triển, bảo đảm môi trường sinh thái và bảo đảm che dấu các công trình quốc phòng, an ninh cũng như hoạt động quân sự nếu chiến tranh xảy ra.
- Trong giao thông vận tải
Quá trình xây dựng, cải tạo, nâng cấp hệ thống giao thông vận tải phải tính toán vừa có lợi cho kinh tế - xã hội, vừa có lợi cho quốc phòng - an ninh.
Phát triển hệ thống giao thông vận tải đồng bộ, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hoá ở từng địa phương cũng như trong cả nước và mở rộng giao lưu với bên ngoài.
Mạng đường bộ của các địa phương cần chú trọng liên kết với mạng đường bộ quốc gia, nhất là các tuyến trục dọc Bắc - Nam.
Trong thiết kế, thi công các công trình giao thông vận tải, đặc biệt là các tuyến vận tải huyết mạch, phải tính đến cả nhu cầu hoạt động thời bình và thời chiến; phải có nhiều đường vòng cung, vòng tránh, bến phà, bến vượt ngầm, đường ngầm, (đặc biệt là các đường ngầm ở các quận thuộc thành phố lớn), đường hầm xuyên núi, cải tạo các hang động sẵn có dọc hai bên đường làm kho trạm, nơi trú quân khi cần thiết...
Phải đặc biệt chú ý tới tính lưỡng dụng của kết cấu hạ tầng khi thiết kế, xây dựng các công trình giao thông vừa phải bảo đảm cho nhu cầu kinh tế, yêu cầu quốc phòng (cơ động lực lượng triển khai và xử trí các tình huống), đồng thời các công trình giao thông còn phải tính toán đến phòng thủ dân sự khi có chiến tranh xảy ra như bảo đảm giao thông thông suốt cho vận chuyển người, cơ sở vật chất đi sơ tán, phòng tránh và khắc phục hậu quả khi bị địch đánh phá.
Ở các vùng đồng bằng ven biển, đi đôi với phát triển hệ thống đường bộ, cần chú trọng cải tạo, phát triển đường sông, đường biển, xây dựng các cảng sông, cảng biển, bảo đảm đi lại, bốc dỡ thuận tiện.
Ở một số địa phương nếu sau này có tuyến đường xuyên Á được xây dựng đi qua, thì ở những nơi cửa khẩu, nơi tiếp giáp các nước bạn phải có kế hoạch xây dựng các khu vực phòng thủ kiên cố, vững chắc, đề phòng khả năng địch sử dụng các tuyến đường này khi tiến công xâm lược nước ta với quy mô lớn.
Xây dựng kế hoạch động viên giao thông vận tải cho thời chiến.
- Trong b­ưu chính viễn thông
Phải kết hợp chặt chẽ giữa ngành bư­u chính viễn thông với ngành thông tin quân đội, công an nhằm phục vụ tốt cho việc lãnh đạo chỉ huy, điều hành mọi hoạt động kinh tế xã hội và quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống, cả thời bình và thời chiến.
Khi xây dựng các tuyến thông tin liên lạc phải tính kỹ đến việc bảo vệ, bảo mật và nâng cao khả năng chống nhiễu của các phương tiện thông tin liên lạc, nhằm bảo đảm thông suốt trong mọi tình huống, nhất là khi có chiến tranh.
Để đáp ứng được các yêu cầu trên, cần xây dựng các tuyến phòng tránh, các đường cáp ngầm, phải có các phương án để tổ chức luyện tập triển khai mạng thông tin phục vụ cho căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương và bảo đảm thông tin cho bám trụ chiến đấu.
Trong quy hoạch ngành bưu chính viễn thông ở địa phương, phải có phương án động viên một bộ phận sẵn sàng phục vụ theo yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh khi chiến tranh xảy ra.
Quá trình quy hoạch xây dựng ngành phải tính đến việc nhận nhiệm vụ xây dựng các đơn vị dự bị động viên, đơn vị chuyên môn dự bị và công tác động viên công nghiệp phục vụ cho quốc phòng.
- Trong xây dựng cơ bản
Khi xây dựng bất cứ công trình nào, ở đâu, quy mô nào cũng phải tính đến yếu tố tự bảo vệ và có thể chuyển hoá phục vụ được cả cho quốc phòng, an ninh, cho phòng thủ tác chiến và phòng thủ dân sự.
Khi xây dựng các khu nhà cao tầng (nhất là ở các quận thuộc thành phố lớn, các đô thị ở vùng ven biển), phải gắn với các khu vực phòng thủ địa phương, phải xây dựng các công trình ngầm. Các khu nhà cao tầng đó vừa là nơi làm việc, là nơi ở trong thời bình, hoặc khi chiến tranh xảy ra, vừa có thể cải tạo để hình thành những ổ đề kháng chiến đấu cả ở mặt đất và trên không.
Khi xây dựng các khu công nghiệp tập trung, các nhà máy, xí nghiệp lớn, quan trọng đều phải tính đến khả năng bảo vệ và di dời khi cần thiết.
Đối với các xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, cần kết hợp trong nghiên cứu sáng chế, chế tạo những vật liệu siêu bền, có khả năng chống xuyên, chống mặn, chống bức xạ, dễ vận chuyển... phục vụ nhu cầu quốc phòng, an ninh.
Các dự án đầu tư­ xây dựng quan trọng, có đối tác nước ngoài, phải có sự tham gia ý kiến của cơ quan quân sự có thẩm quyền.
Cùng với quá trình phát triển của đất nước thì vấn đề xây dựng cơ bản cũng phát triển không ngừng. Cho nên, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trong xây dựng cơ bản có ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì đó là những công trình lớn, kiên cố, sử dụng lâu dài, nếu không tính toán để kết hợp ngay từ đầu, ngay từ khi thiết kế thì khi cần tận dụng cho quốc phòng sẽ phải cải tạo tốn rất nhiều công sức, tiền của mà hiệu quả không cao.
- Trong khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo
Đây là lĩnh vực đóng vai trò nền tảng, động lực, là quốc sách hàng đầu đối với sự phát triển của quốc gia. Vì vậy, việc kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh là tất yếu, không chỉ là vấn đề cơ bản lâu dài, mà còn là vấn đề cấp bách hiện nay, cụ thể là:
Quốc phòng, an ninh là lĩnh vực luôn đòi hỏi sự ứng dụng sớm nhất những thành tựu mới về khoa học và công nghệ. Vì vậy, việc hoạch định chiến lược phát triển và xác định quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển các ngành khoa học và công nghệ then chốt của cả nước cũng như từng địa phương phải gắn với yêu cầu phát triển các ngành khoa học và công nghệ của lĩnh vực quốc phòng - an ninh, sao cho mọi thành tựu, công trình nghiên cứu về khoa học công nghệ đều được phục vụ cho cả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết tránh tình trạng khép kín trong hoạt động khoa học và công nghệ, vừa gây lãng phí công sức, tiền của của quốc gia, vừa không tạo được sức mạnh tổng hợp cho cả xây dựng đất nước cũng như bảo vệ Tổ quốc.
Đồng thời phải có cơ chế, chính sách hợp lý để khuyến khích các tổ chức, cá nhân có đề tài khoa học, dự án công nghệ và sản xuất các sản phẩm có ý nghĩa vừa phục vụ cho nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vừa phục vụ nhu cầu quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Thực hiện đầu tư­ thoả đáng cho lĩnh vực nghiên cứu khoa học quân sự, khoa học xã hội nhân văn quân sự, khoa học kĩ thuật quân sự phục vụ cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Coi trọng công tác giáo dục bồi d­ưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài của đất nước, đáp ứng cả sự nghiệp xây dựng phát triển kinh tế xã hội, cả quốc phòng, an ninh. Thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng - an ninh cho các đối tượng, đặc biệt là trong các nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc gia.
- Trong lĩnh vực y tế
Phối kết hợp chặt chẽ giữa ngành y tế dân sự với y tế quân sự trong nghiên cứu, ứng dụng, trong đào tạo nguồn nhân lực, trong khám chữa bệnh cho nhân dân và các lực lượng vũ trang.
Xây dựng mô hình quân dân y kết hợp trên các địa bàn, đặc biệt là các địa phương ở miền núi, biên giới, hải đảo.
Xây dựng kế hoạch động viên y tế dân sự cho quân sự khi có chiến tranh xảy ra.
Phát huy vai trò của y tế quân sự trong phòng, chống, khám chữa bệnh cho nhân dân thời bình và thời chiến.
- Trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại
Trong hoạt động kinh tế đối ngoại của các địa phương phải quán triệt và thực hiện tốt nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc; giải quyết các tranh chấp bằng thư­ơng lượng hoà bình.
Phải kết hợp từ khâu lựa chọn đối tác có ­ưu thế chế ngự cạnh tranh với các thế lực mạnh bên ngoài. Kết hợp trong việc phân bổ đầu tư­ vào ngành nào, địa bàn nào có lợi cho phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của từng địa phương cũng như cả nước. Khắc phục tình trạng chỉ thấy lợi ích kinh tế trước mắt mà không tính đến lợi ích lâu dài và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Kết hợp trong xây dựng và quản lý các khu chế xuất, các đặc khu kinh tế liên doanh, liên kết đầu tư­ với nước ngoài, bảo vệ chủ quyền an ninh đất nước. Đồng thời phải chú trọng bồi dưỡng ý thức tự tôn dân tộc, tinh thần cảnh giác cho toàn dân để làm tốt công tác ngoại giao nhân dân, và cho cán bộ, nhân viên là ng­ười Việt Nam làm việc trong các cơ sở đối ngoại và kinh tế đối ngoại.
d) Kết hợp trong hoạt động của các lực lượng vũ trang
Tổ chức biên chế và bố trí lực lượng vũ trang phải phù hợp với điều kiện kinh tế và thế trận phòng thủ chung của cả nước cũng như từng địa phương.
Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất kĩ thuật trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của các lực lượng vũ trang.
Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của các lực lượng vũ trang cho phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng phát triển các khu kinh tế - quốc phòng, các khu quốc phòng - kinh tế trên các địa bàn miền núi biên giới, hải đảo, giúp đỡ nhân dân địa phương phát triển kinh tế, ổn định sản xuất, đời sống, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn. Thành lập các tổ, đội công tác để giúp đỡ các xã vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng cũ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh. Các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng đóng quân trên các địa bàn phải giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế xã hội; đồng thời trong điều kiện thời bình phải tận dụng tốt khả năng sản xuất để sản xuất hàng hoá dân sự phục vụ dân sinh và xuất khẩu
Phát huy tốt vai trò tham mư­u của các cơ quan quân sự, công an các cấp trong việc thẩm định, đánh giá các dự án đầu t­ư, nhất là các dự án đầu t­ư có vốn nước ngoài.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU KẾT HỢP KINH TẾ - XÃ HỘI VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG - AN NINH
1. Nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền các cấp và vai trò làm chủ của nhân dân trong thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh
 - Vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng trong việc kết hợp được thể hiện như sau:
 Thường xuyên nắm vững chủ trương đường lối của Đảng, kịp thời đề ra những quyết định lãnh đạo ngành, địa phương mình, thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh một cách đúng đắn, thường xuyên.
 Gắn chủ trương lãnh đạo với tăng cường kiểm tra việc thực hiện của chính quyền, đoàn thể, các tổ chức kinh tế thực hiện chủ trương đường lối về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh.
 Tổ chức tốt việc sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời để bổ sung chủ trương và chỉ đạo thực tiễn thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh ở ngành, địa phương thuộc phạm vi lãnh đạo của các cấp uỷ đảng.
 - Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền các cấp trong kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh:
 Từng cấp phải làm đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và Nghị định 119/2004/NĐ-CP của Chính phủ đã ban hành ngày 11 tháng 5 năm 2004.
 Bố trí sắp xếp bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm có liên quan đến việc tham mưu trong hoạch định các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh trong từng ngành, lĩnh vực, địa phương.
 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các quy hoạch, kế hoạch kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh ở ngành, bộ, địa phương cơ sở của mình dài hạn và hàng năm.
 Đổi mới nâng cao quy trình, phương pháp quản lý, điều hành của chính quyền các cấp từ khâu lập quy hoạch, kế hoạch, nắm tình hình, thu thập xử lý thông tin, định hướng hoạt động, tổ chức hướng dẫn chỉ đạo cấp dưới và kiểm tra ở mọi khâu, mọi bước của quá trình thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ở ngành, địa phương mình.
2. Tăng cường công tác giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ đảng viên và toàn dân về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh trong tình hình mới
 - Đối tượng được giáo dục quốc phòng - an ninh: là toàn dân, trong đó trọng điểm là cán bộ chủ trì các cấp, các bộ, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương và thanh niên (học sinh, sinh viên).
- Nội dung giáo dục quốc phòng - an ninh: căn cứ vào đối tượng, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra để chọn lựa nội dung, chương trình bồi dưỡng cho phù hợp và thiết thực nhằm nâng cao cả về nhận thức, kiến thức quốc phòng - an ninh và kinh tế cũng như năng lực tổ chức thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng - an ninh sát với cương vị đảm nhiệm và môi trường công tác của từng loại đối tượng.
- Hình thức giáo dục quốc phòng - an ninh: vận dụng linh hoạt; phải kết hợp bồi dưỡng tại trường với tại chức, kết hợp lý thuyết với thực hành. Thông qua sinh hoạt chính trị, qua các cuộc diễn tập thực nghiệm, thực tế ở các bộ, ngành, địa phương cơ sở để nâng cao hoàn thiện sự hiểu biết và năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ và của toàn dân, toàn quân về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh trong tình hình mới.
3. Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, chủ trương chính sách về kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh trong tình hình mới
Mọi chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta có liên quan đến kết hợp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh đều phải được thể chế hoá thành luật pháp, pháp lệnh, nghị định, văn bản dưới luật một cách đồng bộ, thống nhất để quản lý và tổ chức thực hiện nghiêm túc có hiệu lực và hiệu quả trong cả nước.
Trên cơ sở những văn bản, quy phạm pháp luật về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh và kết hợp quốc phòng - an ninh với kinh tế đã có, Nhà nước cần ban hành mới các văn bản cần thiết bảo đảm thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về kết hợp giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng - an ninh; quốc phòng, an ninh với kinh tế để từng địa phương quản lý và tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả.
Đảng và Nhà nước phải có chính sách khai thác các nguồn lực và vốn đầu tư cả trong và ngoài nước để thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; nhất là đối với các công trình trọng điểm, ở những địa bàn chiến lược trọng yếu như miền núi biên giới và hải đảo.
Việc xác lập cơ chế chính sách, bảo đảm ngân sách cho kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh cần được xây dựng theo quan điểm quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Việc phân bổ ngân sách đầu tư cho kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh phải theo hướng tập trung cho những mục tiêu chủ yếu, những công trình có tính lưỡng dụng cao đáp ứng cả cho phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng cả trước mắt và lâu dài.
Phải có chính sách khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với các tổ chức, cá nhân, các nhà đầu tư (cả trong và ngoài nước) có các đề tài khoa học, các dự án công nghệ sản xuất, xây dựng có ý nghĩa lưỡng dụng hoá cao phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Trên cơ sở luật pháp, cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước, các địa phương phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo bảo đảm vừa phát huy được vai trò của các sở, ban, ngành, các tổ chức chính trị, xã hội, các cơ sở sản xuất kinh doanh trong việc chăm lo sự nghiệp xây dựng đất nước cũng như sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Trong đó cần đặc biệt quan tâm đến phát huy vai trò tham mưu của cơ quan quân sự với cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương và sự phối kết hợp giữa cơ quan quân sự với các cơ quan ban ngành của địa phương bảo đảm ăn khớp, nhịp nhàng với nhau, khắc phục tình trạng chồng chéo hoặc gây cản trở lẫn nhau, thậm chí dẫn tới sơ hở không cần thiết và bỏ sót trong quản lý.
Để phát huy vai trò của cơ quan quân sự phải củng cố kiện toàn và nâng cao năng lực chuyên môn của cơ quan quân sự các cấp.
Căn cứ vào Nghị định 119/2004/NĐ-CP ngày 11/5/2004 của Chính phủ về Công tác quốc phòng ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ và các địa phương. Cần nghiên cứu bổ sung mở rộng thêm chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về quốc phòng - an ninh nói chung và về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh nói riêng trong thời kỳ mới.
Kết hợp chặt chẽ giữa chấn chỉnh, kiện toàn tổ chức với chăm lo bồi dưỡng nâng cao năng lực và trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ chuyên trách làm tham mưu cho Đảng, Nhà nước về thực hiện kết hợp phát triển kinh  tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh ngang tầm với nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
Kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh là một tất yếu khách quan, là quan điểm chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quá trình kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh ở cấp huyện phải tiến hành ngay trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, có sự phối hợp hoạt động của các ngành, các cấp dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền, vai trò làm tham mưu và tổ chức thực hiện của các cơ quan, ban, ngành, tạo nên sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh.
Nội dung kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh phạm vi rộng, toàn diện trên các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, cần tập trung vào các nội dung cơ bản như kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh trong phân vùng lãnh thổ ở địa phương, trong một số ngành kinh tế chủ chốt: công nghiệp, nông, lâm, ngư nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng và xây dựng cơ bản
Để thực hiện tốt việc kết hợp, cần quán triệt và thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó phải quán triệt sâu sắc hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam cho toàn dân, nhất là cho học sinh, sinh viên những ngư­ời quyết định tư­ơng lai của đất nước.
 
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Phân tích tính tất yếu phải kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh ở nước ta hiện nay?
2. Phương hướng, nội dung kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh ở cấp huyện?
3. Phân tích các giải pháp chủ yếu kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh?
 
Chuyên đề 4
QUẢN LÝ, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VÀ BIÊN GIỚI
QUỐC GIA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ MỚI
                                            Biên soạn: Thượng tá, ThS Nguyễn Xuân Thu
 
 I. QUẢN LÝ, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO
1. Khái niệm, đặc điểm quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo
a) Khái niệm quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo là bảo đảm thi hành pháp luật của Nhà nước, các điều ước quốc tế, hiệp định với các nước có liên quan mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, trên các vùng biển và thềm lục địa của quốc gia. Thông qua các hoạt động kiểm tra, kiểm soát, giám sát việc thi hành pháp luật trên biển; kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm ở trên biển, bảo đảm cho pháp luật về biển của Nhà nước được thi hành chính xác và nghiêm minh. Trên cơ sở đó, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển và thềm lục địa của quốc gia; bảo vệ nguồn lợi cho đất nước; bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, sự phát triển bền vững của kinh tế biển; duy trì an ninh chính trị, bảo đảm an toàn cho sản xuất, tính mạng và tài sản của Nhà nước và nhân dân; phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và xâm phạm chủ quyền trên vùng biển và thềm lục địa của quốc gia là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật của Nhà nước với quá trình kinh tế - xã hội, các hoạt động trên biển, đảo nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ, các hoạt động đó trong trật tự, theo đúng định hướng của Nhà nước trong việc thăm dò, khai thác các tiềm năng của biển, thực thi và bảo vệ chủ quyền, các quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, hải đảo và thềm lục địa của quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực.
b) Đặc điểm quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia có nội dung toàn diện phù hợp với luật pháp quốc tế và các hiệp định mà Việt Nam đã ký với các nước có liên quan. Quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia bao gồm, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển. Vùng biển bao gồm vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo và quần đảo.
Quản lý, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển còn là bảo vệ các quyền của quốc gia về biển phù hợp với luật pháp quốc tế và các hiệp định mà nước ta đã ký với các nước có liên quan. Đó là quyền của quốc gia về bảo tồn, quản lý, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên của biển, lòng đất dưới đáy biển, vùng trời, các đảo và quần đảo.
Quản lý, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biển, đảo quốc gia là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài. Diện tích biển của Việt Nam chiếm khoảng 29% Biển Đông, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền. Việt Nam còn có chủ quyền với hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ và hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa. Tài nguyên vùng biển và ven biển nước ta được đánh giá rất phong phú và đa dạng, phân bố rộng khắp trên dải đất liền ven biển đến các vùng nước ven bờ, các hải đảo và các vùng biển. Cả nước có 63 tỉnh, thành phố thì có 28 tỉnh, thành ven biển, trong đó có 11 huyện đảo. Trên 50% số dân của nước ta sống ở các tỉnh ven biển. Đó vừa là những điều kiện khách quan thuận lợi để chúng ta phát triển đa dạng các ngành kinh tế biển, đồng thời cũng đặt ra những khó khăn trong quản lý, bảo vệ biển đảo và khai thác lợi thế kinh tế từ biển, đảo.
Biển Đông là một biển lớn của Thái Bình Dương, nằm ở phía Đông lục địa Việt Nam, tiếp giáp với nhiều nước và vùng lãnh thổ như: Trung Quốc (gồm cả Đài Loan), Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Xingapo, Inđônêsia, Brunây và Philippin. Vấn đề tranh chấp ranh giới các vùng biển và thềm lục địa giữa các nước trong khu vực tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, làm cho tình hình trong khu vực vốn đã phức tạp càng trở nên phức tạp hơn.
Vì vậy, quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo của nước ta là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài; phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại.
2. Nội dung quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo
a) Bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển, đảo
Bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển, đảo cần thực hiện tốt việc quản lý, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển.
Vùng biển nước ta bao gồm vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, các hải đảo và quần đảo, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông.
Bảo vệ chủ quyền quốc gia ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là bảo vệ đặc quyền của quốc gia về bảo tồn, quản lý, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên của biển ở những nơi đó; thực chất là bảo vệ lợi ích kinh tế ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia. Như vậy, chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển gắn bó mật thiết. Các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường... ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là biểu hiện của quyền làm chủ trên biển của quốc gia. Những hành động khảo sát, tìm kiểm, thăm dò, khai thác tài nguyên... trái phép của tầu thuyền nước ngoài ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam là vi phạm chủ quyền, gây thiệt hại cho lợi ích quốc gia của Việt Nam và trái với Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước về Luật Biển năm 1982).
b) Bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội và văn hoá trên biển, đảo và vùng ven biển
An ninh, trật tự an toàn xã hội là nhu cầu và điều kiện cần thiết để con người tồn tại và hoạt động ở mọi môi trường địa lý. Biển là môi trường có điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và nhiều biến động, lại là môi trường mở, thường xuyên có sự giao lưu quốc tế, nên đòi hỏi về  bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội lại càng cao hơn. Diễn biến của tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội trên biển rất phức tạp, đặc biệt là phải tiến hành trong điều kiện quy chế pháp lý không đồng nhất giữa các vùng nước khác nhau trên biển. Bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trên biển không chỉ mang tính chất đối nội mà còn mang tính chất đối ngoại; là sự thể hiện năng lực làm chủ vùng biển quốc gia của nước ven biển trước cộng đồng thế giới và khu vực.
Nội dung chủ yếu của bảo vệ an ninh chính trị, kinh tế, trật tự an toàn xã hội và văn hóa trên biển và vùng ven biển của nước ta là:
- Bảo vệ an ninh quốc gia trên mọi lĩnh vực: chính trị, tư tưởng, văn hoá, khoa học công nghệ, quốc phòng - an ninh...;
- Ngăn chặn kịp thời người và phương tiện xâm nhập đất liền để tiến hành các hoạt động phá hoại, gây rối, làm gián điệp, truyền bá văn hoá đồi truỵ và thực hiện các hành vi tội phạm khác;
- Bảo vệ lao động sản xuất, tính mạng và tài sản của Nhà nước và nhân dân trên biển và ven biển;
- Bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên biển và ven biển;
- Bảo vệ môi trường, xử lý các vụ ô nhiễm môi trường trên biển và ven biển;
- Phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai;
- Thực hiện tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn;
- Phòng ngừa, chế ngự, xử lý các xung đột do tranh chấp lợi ích giữa các tổ chức và cá nhân trong sử dụng và khai thác biển.
3. Mục tiêu, phương thức quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo
a) Mục tiêu quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Nghị quyết đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định: Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống. Quán triệt quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc, mục tiêu quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo của nước ta là:
- Giữ vững độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia trên biển, đảo gắn liền với bảo vệ chủ nghĩa xã hội.
Giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển đảo gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một nguyên tắc hiến định. Hiến pháp năm 1992, quy định: Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước có độc lập, có chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo. Thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm lãnh thổ đất liền, vùng biển, lòng đất, vùng trời, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ là một trong những nguyên tắc cơ bản được pháp luật quốc tế hiện đại công nhận, bắt nguồn từ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, tôn trọng quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ. Bất khả xâm phạm lãnh thổ có nghĩa là không được xâm phạm lãnh thổ của một quốc gia bằng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hay bằng bất cứ cách nào khác. Toàn vẹn lãnh thổ có nghĩa là nghiêm cấm chia cắt lãnh thổ hoặc xâm chiếm một phần lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào. Điều 2, khoản 4, Hiến chương Liên Hợp quốc đã ghi rõ: Tất cả các thành viên Liên hợp quốc cần phải tự kiềm chế, không được đe dọa hoặc sử dụng vũ lực để chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc nền độc lập chính trị của bất kỳ nước nào hoặc bằng bất cứ cách nào khác trái với mục đích của Liên Hợp quốc.
Mặc dù, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia của dân tộc đã được luật pháp quốc tế công nhận, song các nước đế quốc và các thế lực bành trướng vẫn luôn tìm mọi âm mưu và thủ đoạn để xâm phạm, can thiệp bằng nhiều hình thức khác nhau. Lịch sử dân tộc ta cho thấy, để thực hiện được mục tiêu giữ vững độc lập, chủ quyền lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phải trải qua gần nửa thế kỷ đấu tranh gian khổ, hy sinh nhiều xương máu mới giành được. Điều đó cũng cho thấy, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước xã hội chủ nghĩa mới đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu rất quan trọng. Giờ đây và những năm tới, nhân dân ta quyết tâm đẩy mạnh công cuộc đổi mới để xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đối với Việt Nam, Tổ quốc là Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tổ quốc phải gắn với Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa, với sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo.
Vì vậy, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển đảo phải gắn với chủ nghĩa xã hội, gắn với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia dân tộc là mục tiêu bất di bất dịch của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
- Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định lâu dài là lợi ích cao nhất.
Cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của dân tộc ta đã trải qua các cuộc kháng chiến chống xâm lược với những chặng đường đầy khó khăn, gian khổ, sự hy sinh xương máu của biết bao thế hệ. Do đó, hơn ai hết, dân tộc Việt Nam thiết tha yêu chuộc hoà bình, độc lập, tự do, mong muốn giữ vững môi trường hòa bình, ổn định lâu dài, bền vững để xây dựng và phát triển đất nước.  
Ngày nay, chúng ta kiên trì phấn đấu theo quan điểm của Đảng là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập dân tộc và phát triển, tạo môi trường hoà bình, ổn định, tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp nối quan điểm đó, Đại hội Đảng XI đã đề ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ, chủ động và hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam giàu mạnh.
Tư tưởng mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương các quan hệ quốc tế trong đường lối đối ngoại của Đảng ta thể hiện quan điểm độc lập, tự chủ, không để bất cứ một thế lực nào lôi kéo. Độc lập, tự chủ chính là tự mình quyết định các vấn đề về đường lối, chính sách, các mục tiêu và các quyết sách về đối nội và đối ngoại phù hợp với mục tiêu và nghĩa vụ quốc gia, thích ứng với xu thế thời đại. Đó chính là thực hiện quyền tự quyết trong quan hệ quốc tế, không chịu sự áp đặt về ý đồ và quyền lợi từ bất cứ phía nào. Đa phương hoá là nói đến nhiều đối tác trong quan hệ, nhưng vẫn có ưu tiên nhất định đối với bạn bè truyền thống và đối tác chiến lược; đa dạng hoá là nói đến việc sử dụng nhiều hình thức quan hệ để thực hiện đa phương hoá. Đây là chính sách ngoại giao mềm dẻo, cho phép nước ta "thêm bạn, bớt thù", tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để tranh thủ các nguồn lực bên ngoài cho phát triển đất nước.
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta, một mặt chủ động, tích cực, kiên quyết đấu tranh với những hoạt động xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc, chống âm mưu "diễn biến hoà bình" và các hoạt động lợi dụng chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền", "tự do tôn giáo" để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta; mặt khác, chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta đã ký Thoả thuận khai thác chung vùng biển chồng lấn với Malaysia; ký Hiệp định phân định vùng biển chồng lấn với Thái Lan và thực hiện tuần tra chung trên vùng biển chồng lấn; ký Hiệp định về biên giới trên bộ và phân định vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc; ký Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa với Inđônêxia; ký Hiệp định về biên giới trên bộ với Campuchia...
Như vậy, mục tiêu bảo vệ chủ quyền biển, đảo thể hiện cụ thể đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với mục tiêu chung của Đảng và nhân dân ta là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chỉ có giữ vững hoà bình, ổn định lâu dài mới có thể xây dựng và phát triển đất nước. Hoà bình, ổn định là điều kiện tiên quyết để xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định lâu dài trở thành lợi ích cao nhất hiện nay.
b) Phương thức quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI xác định: Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân. Quán triệt quan điểm đó của Đảng vào đặc điểm tình hình trên biển nước ta trong những năm qua và dự kiến sự phát triển tình hình trong những năm tới, thì phương thức bảo vệ biển, đảo là trên cơ sở nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân trên hướng biển, lấy khu vực phòng thủ ven biển làm chỗ dựa, lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam làm nòng cốt; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh của mọi ngành, mọi lực lượng trên hướng biển, vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh với tinh thần tự lực là chính để quản lý, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên các vùng biển; duy trì, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội trên biển và vùng ven biển; sẵn sàng ngăn chặn, đẩy lùi, đánh thắng các hành động xâm lấn của kẻ thù để bảo vệ biển, đảo. Để thực hiện phương thức trên, cần giải quyết tốt những vấn đề chủ yếu sau:
- Khi xử lý các vấn đề, các tình huống xảy ra trên biển, đảo cần hết sức khẩn trương, thận trọng. Bối cảnh hiện nay và trong những năm tới, tình hình trên Biển Đông vẫn là điểm nóng thu hút dư luận của cộng đồng quốc tế và còn diễn biến hết sức phức tạp. Cần nêu cao tinh thần cảnh giác, không mơ hồ, chủ quan khi phân tích, đánh giá tình hình trên biển, dự báo đúng âm mưu, ý đồ, khả năng, thủ đoạn của các đối tượng để có biện pháp đối phó kịp thời, phù hợp. Trong mọi trường hợp đều phải tính đến những tác động có thể có đối với mục tiêu hoà bình, ổn định để xử lý, nhằm triệt tiêu những nhân tố đối phương có thể lợi dụng để gây mất ổn định, dẫn tới xung đột vũ trang trên biển, đẩy đất nước vào tình thế khó khăn. Đồng thời kiên quyết đấu tranh đẩy lùi những nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, có phương án xử lý với các tình huống phức tạp có thể xảy ra như: biến động chính trị trong nước; bạo loạn lật đổ, ly khai ở một vùng hoặc nhiều vùng, gây nguy cơ chia rẽ đất nước; xung đột vũ trang và chiến tranh trên biển do tranh chấp chủ quyền, tài nguyên với các nước quanh Biển Đông, sự can thiệp, thoả thuận dàn xếp, đứng đằng sau của các nước lớn.
- Tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trên hướng biển, đẩy mạnh thực hiện các giải pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lấy xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh ở các tỉnh, thành phố ven biển, hải đảo làm trọng tâm để làm chỗ dựa cho các lực lượng làm kinh tế biển và quản lý, bảo vệ biển, đảo.
- Quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo cần thấm nhuần quan điểm quản lý, bảo vệ biển, đảo là sự nghiệp của toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng dân sự và quân sự trên hướng biển, trong đó lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam là nòng cốt; vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh, đặc biệt là kết hợp giữa đấu tranh chính trị trên mặt trận đối ngoại với đấu tranh quân sự là cơ sở tạo nên sức mạnh quyết định, đồng thời phải lấy yếu tố nội lực, dựa vào sức mình là chính để ngăn chặn, đẩy lùi xung đột vũ trang, giành thắng lợi trong mọi tình huống để bảo vệ vững chắc biển, đảo của Tổ quốc.
4. Giải pháp quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo
a) Tăng cường tiềm lực quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, tư tưởng - văn hóa, khoa học và giáo dục
- Tăng cường tiềm lực quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo phải hoàn thiện hệ thống các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách về biển, đảo.
Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: Kết hợp chặt chẽ quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn lãnh thổ, trong công tác quy hoạch, kế hoạch và các chương trình, dự án. Phát triển kinh tế ven biển và hải đảo theo định hướng Chiến lược biển đến năm 2020. Xây dựng hợp lý hệ thống cảng biển, các khu công nghiệp, khu kinh tế, đô thị ven biển gắn với phát triển công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, khai thác, chế biến dầu khí, du lịch biển; phát triển kinh tế đảo, khai thác hải sản xa bờ gắn với tìm kiểm cứu hộ, cứu nạn và giữ vững chủ quyền vùng biển quốc gia; đẩy mạnh việc điều tra cơ bản đối với một số loại tài nguyên biển quan trọng; khuyến khích cán bộ, viên chức nhà nước làm việc trên các đảo xa, khuyến khích di dân từ đất liền ra đảo để phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường quốc phòng - an ninh trên các đảo.
- Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho nhân dân về chủ quyền biển, đảo.
Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho nhân dân về biển đảo là biện pháp quan trọng làm cho quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với mọi người dân, biến những quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước thành sức mạnh hành động của cả dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi nhân dân được giác ngộ, nhất là thế hệ trẻ thấu suốt mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ biển đảo; ý thức về biển đảo của cả dân tộc được thức tỉnh sẽ tạo thành sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong bảo vệ Tổ quốc.
Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho nhân dân, trước hết cần làm cho mọi người dân nhận rõ về tình hình phức tạp trên Biển Đông hiện nay và những năm tới; quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước trong giải quyết vấn đề biển đảo, cũng như chủ trương tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế gắn với nhiệm vụ bảo vệ biển đảo; trách nhiệm của ngư dân trong khai thác biển đảo làm giàu cho quê hương, đất nước, đồng thời góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
- Thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở vùng ven biển, đảo làm nền tảng giữ vững ổn định, bảo vệ biển, đảo.
Thực hiện thắng lợi Chiến lược biển đến năm 2020 sẽ tạo ra nền tảng vật chất không ngừng cải thiện đời sống nhân dân, chăm lo phát triển vùng ven biển, hải đảo, bảo đảm công bằng xã hội nhằm giữ yên lòng dân, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế phát triển, xã hội ổn định thì sức mạnh quốc phòng - an ninh được tăng cường. Đất nước có điều kiện đầu tư cho lực lượng vũ trang những trang bị kỹ thuật hiện đại, nhất là lực lượng Hải quân, Phòng không - Không quân là những quân chủng sử dụng nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật cao trong tác chiến. Kinh tế - xã hội ở vùng ven biển, hải đảo phát triển là nguồn nội lực bảo đảm vững chắc cho lực lượng vũ trang trên hướng biển về mọi mặt, không chỉ về cơ sở vật chất hậu cần - kỹ thuật, lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược... mà còn cung cấp cho các lực lượng vũ trang những con người toàn diện, có phẩm chất chính trị, đạo đức và trình độ năng lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo.
- Bồi dưỡng nguồn nhân lực, xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ biển.
Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Vì vậy, bồi dưỡng nguồn lao động, xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ biển là việc làm cần thiết hiện nay để phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đồng thời đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong tình hình mới.
Hiện nay, hơn 50% dân số nước ta sống ở các tỉnh ven biển; mức tăng dân số tự nhiên và cơ học đều cao hơn mức trung bình của cả nước. Trong khi đó, trình độ học vấn của dân cư ven biển thấp hơn các vùng khác; lao động ngư nghiệp chỉ chiếm tỷ lệ hơn 10%, phần đông không được đào tạo nghề. Dân trí thấp gây khó khăn cho việc tiếp thu công nghệ mới, chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về khai thác biển đảo, bảo vệ tài nguyên, môi trường và xây dựng "thế trận lòng dân" trong tình hình mới.
ở nước ta, khoa học công nghệ chưa trở thành động lực phát triển kinh tế biển. Cán bộ khoa học công nghệ biển có trình độ cao chiếm tỷ lệ thấp, số lượng công trình khoa học công nghệ được ứng dụng vào khai thác biển không nhiều, Vì vậy, đẩy mạnh công tác đào tạo, tăng nhanh số, chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ biển và các công trình nghiên cứu khoa học công nghệ biển là đòi hỏi cấp bách hiện nay để phát triển kinh tế biển và tăng cường quốc phòng - an ninh trên biển đảo.
b) Tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh trên biển, đảo
- Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trên biển, vùng ven biển.
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, vì vậy, để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trên biển, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về khai thác, quản lý biển với nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều ngành nghề, nhiều vùng, nhiều quy mô, nhiều trình độ; phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đặc điểm của biển, vùng ven biển nước ta là "mở cửa lớn" để giao lưu với thế giới, đồng thời kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh.
Cùng với hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, cần tăng cường khả năng bảo đảm thi hành pháp luật trên biển, vùng ven biển, bao gồm các hoạt động kiểm tra, kiểm soát, giám sát việc thi hành pháp luật, kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm, bảo đảm cho pháp luật về biển của Nhà nước được thi hành chính xác và nghiêm minh.
Đầu tư các phương tiện, trang thiết bị hiện đại để lực lượng cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, lực lượng kiểm ngư, lực lượng an ninh và cảnh sát nhân dân, dân quân tự vệ biển... thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trên biển, đảo và vùng ven biển.
- Xây dựng thế trận kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh trên biển.
Thế trận kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh trên biển là sự bố trí các lượng lượng, các cơ sở vật chất - kỹ thuật của các ngành kinh tế biển, của quốc phòng - an ninh trên biển và ven biển theo ý định, quy hoạch và kế hoạch thống nhất, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng và Nhà nước trong phạm vi cả nước và trong từng vùng, từng địa phương, nhằm tạo được sự thuận lợi cho nhau, hỗ trợ lẫn nhau giữa kinh tế với quốc phòng - an ninh trên biển, bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững của kinh tế biển, đồng thời tăng cường được sức mạnh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia trên biển và vùng ven biển.
Thế trận kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh trên biển nhằm chống lại mọi âm mưu và hành động xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, lãnh hải và an ninh quốc gia trên hướng biển, bảo đảm hoà bình và ổn định để phát triển kinh tế biển; đồng thời là cơ sở để chuyển sang thế trận chiến tranh nhân dân trên biển khi xảy ra chiến tranh. Thế trận kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh trên biển nằm trong thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân của cả nước; gắn kết chặt chẽ giữa biển, đảo với vùng ven biển.
Xây dựng thế trận kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh trên biển cần phải dựa vào các vùng kinh tế, trước hết là vùng kinh tế trọng điểm đã được quy hoạch, để thực hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh và quốc phòng - an ninh với kinh tế trong các kế hoạch phát triển vùng. Mỗi vùng được quy hoạch đều có những kế hoạch khác nhau để phát triển toàn diện về chính trị, kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, xây dựng kết cấu hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, bố trí dân cư... Xây dựng thế trận kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh cần được hiểu là thực hiện sự kết hợp tất cả các lĩnh vực đó với quốc phòng - an ninh và quốc phòng - an ninh với các lĩnh vực đó ngay từ khâu điều tra, phân tích, đánh giá và dự báo các nguồn lực (bên trong và bên ngoài) phát triển vùng; trong khi thiết kế quy hoạch và trong quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch.
Nội dung chính của việc xây dựng thế trận kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh trên biển là xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng - an ninh và quốc phòng - an ninh - kinh tế trên biển và ven biển.
Trong quy hoạch các vùng kinh tế, các khu công nghiệp, các khu trung tâm kinh tế trọng điểm... ở vùng ven biển, cần kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế với bảo đảm quốc phòng - an ninh trong bố trí các cơ sở vật chất - kỹ thuật, cũng như trong xây dựng kết cấu hạ tầng sao cho vừa phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội, vừa sử dụng được cho quốc phòng, an ninh khi cần thiết. Thực chất là cần kết hợp chặt chẽ việc phát triển đô thị, xây dựng các khu kinh tế ven biển với xây dựng các khu vực phòng thủ của các tỉnh, huyện ven biển và huyện đảo.
Trong phân bố cơ sở vật chất - kỹ thuật của các ngành kinh tế biển, cần tránh những vị trí có địa hình khống chế khu vực. Dành cho các lực lượng vũ trang một số địa bàn có giá trị đặc biệt về quốc phòng - an ninh ở ven biển. ở những địa hình này có thể hình thành khu vực kết hợp quốc phòng - an ninh với kinh tế, do quốc phòng - an ninh quản lý, lực lượng sản xuất ở đây là những đơn vị lực lượng vũ trang làm kinh tế kết hợp quốc phòng - an ninh, các cơ sở công nghiệp quốc phòng tận dụng năng lực, tham gia sản xuất hàng dân dụng hoặc các mặt hàng vừa phục vụ kinh tế, vừa phục vụ quốc phòng - an ninh.
Xác định các vùng biển trọng điểm về quốc phòng - an ninh kết hợp với các vùng kinh tế ở ven biển như: vùng biển vịnh Bắc Bộ với đồng bằng Sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa với duyên hải Trung Bộ và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, vùng biển khai thác dầu khí với miền Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng biển Tây Nam với đồng bằng Sông Cửu Long. Các vùng kinh tế ở ven biển trọng điểm là căn cứ, hậu phương trực tiếp của các vùng biển trọng điểm, bảo đảm khi cần thiết có thể huy động nguồn lực tại chỗ, đáp ứng yêu cầu xử lý các tình huống trong thời bình và khi xảy ra chiến tranh.
ở những vùng biển trọng điểm cần xác định rõ mục tiêu quốc phòng - an ninh của từng vùng; đối tượng đấu tranh, thành phần lực lượng vũ trang làm nòng cốt, dự kiến các tình huống có thể xảy ra và các biện pháp xử lý... Cần có chính sách khuyến khích ngư dân khai thác hải sản ở vùng biển trọng điểm để khẳng định chủ quyền và hỗ trợ lực lượng vũ trang hoạt động. Bố trí các lực lượng làm kinh tế biển của Hải quân (với danh nghĩa các công ty khai thác hải sản) hoạt động ở những khu vực căng thẳng về quốc phòng - an ninh, vừa sản xuất vừa làm nhiệm vụ quản lý biển và làm chỗ dựa cho ngư dân khai thác biển.
Hệ thống đảo và quần đảo có tầm quan trọng đặc biệt đối với kinh tế biển, cần được xây dựng thành những căn cứ vững chắc để tiến ra khai thác và hoạt động ở biển xa, đồng thời là tuyến phòng thủ bảo vệ đất liền. Xây dựng các huyện đảo mạnh về kinh tế, vững về chính trị và quốc phòng - an ninh. Củng cố hệ thống công trình phòng thủ và xây dựng một số cơ sở dịch vụ khai thác biển trên các đảo xa bờ để tăng thêm thành phần dân sự, thành phần kinh tế và tính pháp lý của chủ quyền quốc gia đối với các đảo này.     
- Xây dựng Quân đội nhân dân đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới.
Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc phải bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; nâng cao hiệu quản lý nhà nước về quốc phòng an ninh. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh; tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang từng bước được trang bị hiện đại, trước hết là cho lực lượng hải quân, không quân, lực lượng an ninh, tình báo, cảnh sát cơ động.
Đối với Quân đội ta, tăng cường sức mạnh chiến đấu trên biển, trước hết là tăng cường sức mạnh chiến đấu của hải quân, không quân, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển và những đơn vị binh chủng hợp thành thuộc các quân khu, quân đoàn ở vùng ven biển, hải đảo và quần đảo.
c) Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế, tạo lập môi trường thuận lợi để phát triển
Trước những diễn biến phức tạp trên Biển Đông thời gian vừa qua, hoạt động đối ngoại có vai trò hết sức quan trọng, góp phần to lớn bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, giữ vững hoà bình và ổn định trên biển.
Đại hội lần thứ XI của Đảng khẳng định: Thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực; làm tốt công tác quản lý biên giới, xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Quán triệt quan điểm của Đảng về đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển đảo, cần kiên trì chủ trương nhất quán là mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực theo các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; bình đẳng và cùng có lợi, giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hoà bình; làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt, bành trướng.
Hoạt động đối ngoại phục vụ mục tiêu bảo vệ chủ quyền biển đảo phải ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi nguy cơ phá vỡ hoà bình, ổn định trong khu vực; ngăn chặn và làm thất bại ý đồ, hành động của nước ngoài nhằm biến vùng không tranh chấp thành "những khu vực tranh chấp" trên vùng biển và thềm lục địa của nước ta.
Hoạt động đối ngoại về kinh tế có vai trò tích cực trong phát triển quan hệ quốc tế trong lĩnh vực khai thác tài nguyên biển, công nghiệp hoá, hiện đại hoá kinh tế biển. Hợp tác quốc tế và khu vực về nghiên cứu biển giúp tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tăng thêm lòng tin giữa các bên hữu quan.
Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại về quốc phòng - an ninh tạo sự tin cậy và không khí hoà dịu trong khu vực và thế giới; bảo đảm thi hành pháp luật trên biển trong các hoạt động chống buôn lậu, buôn bán ma tuý, chống cướp biển, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn trên biển, góp phần giữ vững an ninh, trật tự và ổn định lâu dài ở Biển Đông.
Hợp tác quốc tế và khu vực về bảo vệ môi trường biển và tìm kiếm, cứu nạn trên biển sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, có lợi hơn cho mỗi quốc gia, các nước trong khu vực và thế giới, đồng thời cũng góp phần thúc đẩy tiến trình đàm phán giải quyết tranh chấp giữa các nước về biển, đảo.
Tích cực tuyên truyền đối ngoại bằng các hình thức đa dạng, phong phú làm cho thế giới ngày càng hiểu rõ hơn về lịch sử, đất nước và con người Việt Nam, về đường lối đối ngoại và cơ sở pháp lý, lịch sử của Việt Nam trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển, đảo.
d) Tăng cường hoạt động pháp lý trên trường quốc tế, tạo cơ sở bảo vệ chủ quyền biển, đảo bền vững
Hoạt động pháp lý là một lĩnh vực quan trọng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của nước ta hiện nay. Hoạt động pháp lý về biển nhằm thiết lập các điều khoản cần tuân theo giữa hai hoặc nhiều nước dưới các hình thức: luật, hiệp định, công ước, tuyên bố, thoả thuận...
Trong lịch sử nhân loại, các hoạt động pháp lý trên biển đã hình thành và phát triển để điều chỉnh, giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp về quyền lợi trên biển giữa các quốc gia, dân tộc. Kết quả quá trình đấu tranh thông qua các hội nghị do Liên Hợp quốc chủ trì là sự ra đời của Công ước về Luật biển năm 1982.
Trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã chủ động, tích cực đàm phán với các bên hữu quan để giải quyết những vấn đề về vùng biển chồng lấn, tranh chấp chủ quyền biển, đảo. Các hiệp định về phân định ranh giới trên biển và thềm lục địa được ký kết giữa Việt Nam với các nước là cơ sở pháp lý để quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh và các quyền lợi quốc gia, dân tộc trên các vùng biển phù hợp với luật pháp quốc tế.
Trong những năm tới, chúng ta cần tăng cường các hoạt động pháp lý để đi đến ký kết các hiệp định nhằm giải quyết những vấn đề trên biển với các nước có liên quan, tạo môi trường thuận lợi, cơ sở pháp lý vững chắc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
II. QUẢN LÝ, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIÊN GIỚI QUỐC GIA
1. Khái niệm, đặc điểm quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới  quốc gia
a) Khái niệm quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia
Tất cả các quốc gia có độc lập, chủ quyền lãnh thổ đều có biên giới quốc gia. Biên giới quốc gia được quy định bởi các hiệp ước, hiệp định giữa các nước có chung biên giới phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế.
Biên giới quốc gia của Việt Nam là đường thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh của đất nước.
Trong lịch sử cũng như hiện nay, biên giới luôn là cửa ngõ của Tổ Quốc, là “tuyến đầu” phát hiện, ngăn chặn, che chở, bảo vệ chống lại mọi sự xâm nhập, phá hoại, xâm lược của kẻ thù từ bên ngoài; bảo vệ, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ yên bờ cõi để xây dựng, phát triển đất nước.
Biên giới quốc gia còn là "cửa ngõ" trong quan hệ giao lưu quốc tế, địa bàn trực tiếp thực hiện chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta là mở cửa, hội nhập, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ với các nước và các tổ chức quốc tế.
Quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia là quá trình tổ chức, điều chỉnh bằng pháp luật của Nhà nước đối với các lực lượng quản lý, bảo vệ biên giới, mà trực tiếp là lực lượng chuyên trách, nòng cốt nhằm giữ gìn, bảo vệ và chống lại mọi sự xâm phạm chủ quyền và an ninh biên giới.
b) Đặc điểm quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia
Quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia gắn liền với bảo vệ Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhất là trong bối cảnh giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, các thế lực thù địch tăng cường xâm nhập qua biên giới để hoạt động tình báo, gián điệp, thực hiện "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ phá hoại trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, ngoại giao, quốc phòng - an ninh. Hoạt động của các thế lực thù địch kích động, móc nối với các phần tử cực đoan đòi ly khai, tự trị; lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tập hợp quần chúng gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống phá Đảng, Nhà nước ta đều bắt nguồn từ khu vực biên giới. Vì vậy, quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia gắn liền với bảo vệ Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia là cuộc đấu tranh toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Trong đó, bao gồm, quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới trên đất liền, trên biển, trên không và trong lòng đất; quản lý, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên khu vực biên giới; quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường, lợi ích quốc gia trên khu vực biên giới và vùng biển quốc gia; quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và các công trình bảo vệ biên giới; quản lý, bảo vệ việc chấp hành pháp luật, quy chế biên giới và các điều ước quốc tế về biên giới mà Việt Nam đã ký hoặc tham gia; quản lý xuất nhập biên, xuất nhập cảnh, quá cảnh tại các cửa khẩu biên giới và các cửa khẩu cảng biển.
Quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, dựa trên nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy vai trò tham mưu của lực lượng chuyên trách nòng cốt. Do đó, đòi hỏi có sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Bộ Chính trị, Nhà nước, sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ của các ngành, các cấp ở Trung ương và địa phương, phát huy sức mạnh của toàn dân và cả hệ thống chính trị. Quan tâm xây dựng Bộ đội Biên phòng, lực lượng chuyên trách, nòng cốt trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia vững mạnh là điều kiện không thể thiếu được trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.
2. Quan điểm của Đảng ta về quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia
a) Bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia là nhiệm vụ to lớn, nặng nề và lâu dài nhằm góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Đảng ta luôn xác định biên giới là địa bàn chiến lược, có địa vị cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng của đất nước. Tuy nhiên, địa bàn biên giới phần lớn là miền núi, vì vậy, bảo vệ biên giới quốc gia là một công tác khó khăn, phải giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến đường lối ngoại giao, chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, xây dựng phát triển kinh tế miền núi, khu vực biên giới, tăng cường khả năng quốc phòng - an ninh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, bao gồm bảo vệ biên giới trên bộ, trên biển, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống xâm nhập trái phép và chống buôn lậu qua biên giới, bảo vệ tài nguyên của đất nước; xây dựng biên giới hoà bình hữu nghị, hợp tác, phát triển với các nước láng giềng.
b) Quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành
Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 08 tháng 8 năm 1995 về xây dựng Bộ đội Biên phòng trong tình hình mới xác định, phải phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với biên giới quốc gia. Bộ Quốc phòng có trách nhiệm chỉ huy, quản lý toàn diện Bộ đội Biên phòng. Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) có trách nhiệm phối hợp với Bộ Quốc phòng về mặt công tác an ninh. Bộ ngoại giao có trách nhiệm phối hợp với Bộ Quốc phòng hướng dẫn nghiệp vụ đối ngoại và pháp luật về biên giới. Như vậy, Bộ đội Biên phòng không chỉ thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, mà còn thực hiện nhiệm vụ an ninh và đối ngoại để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biên giới quốc gia.
c) Dựa vào nhân dân, trực tiếp là đồng bào các dân tộc ở biên giới, đồng thời coi trọng xây dựng Bộ đội Biên phòng làm lực lượng chuyên trách, nòng cốt quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia
Nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng và truyền thống kinh nghiệm đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của ông, cha ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Chúng ta phải dựa vào dân, nhất là Công an biên phòng, ở những nơi đồng bào thiểu số, phải chú ý đến phong tục tập quán của đồng bào, luôn giáo dục đồng bào, làm cho đồng bào tin yêu, phục đồng bào thì đồng bào sẽ hết sức giúp đỡ, có khi hy sinh cả cho ta. Đối với những đơn vị ở biên thùy hay các hải đảo việc ấy phải hết sức chú ý; phải giúp đỡ dân, ngày thường tìm mọi cách giáo dục họ, giúp đỡ, tổ chức họ. Muốn làm như thế, phải nắm vững chính sách đối với đồng bào thiểu số, điều đó rất cần thiết.
Quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia phải coi trọng xây dựng Bộ đội Biên phòng là lực lượng chuyên trách, nòng cốt; được tổ chức, chỉ huy thống nhất từ Trung ương đến cơ sở; đồng thời là lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng làm công tác biên phòng. Trước yêu cầu và nhiệm vụ công tác biên phòng trong tình hình mới, Đảng ta xác định, Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt  trong lực lượng bảo vệ, quản lý, giữ gìn an ninh trật tự biên giới của Tổ quốc, là lực lượng thành viên của các khu vực phòng thủ tỉnh, huyện biên giới. Bộ đội Biên phòng cần xác định được xây dựng vững mạnh theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng cao, số lượng phù hợp, tổ chức hợp lý, chức năng, nhiệm vụ rõ ràng. Đây là sự quan tâm của Đảng đối với lực lượng chuyên trách, nòng cốt trong quản lý bảo vệ biên cương trong thời kỳ mới, thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm xây dựng và phát triển đất nước.
3. Nguyên tắc quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia
a) Quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước, sự phân cấp và phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương với địa phương
Xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh của đất nước. Vì vậy, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Chỉ có sự lãnh đạo của Đảng mới bảo đảm sự ổn định của biên giới lãnh thổ, ổn định chính trị - xã hội, phát triển biên giới hoà bình, hữu nghị với các nước láng giềng, tăng cường khả năng quốc phòng, an ninh bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an ninh biên giới. Mặt khác, biên giới quốc gia là thống nhất, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia là nhiệm vụ đặc biệt của Nhà nước. Vì vậy, Nhà nước quản lý tập trung thống nhất bằng pháp luật trên tất cả các lĩnh vực đối với biên giới quốc gia, làm cho chính sách, pháp luật về biên giới được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong phạm vi cả nước.
Thực hiện quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, Nhà nước tổ chức ra bộ máy và các lực lượng quân đội, công an, hải quan..., đồng thời Nhà nước còn tổ chức ra lực lượng chuyên trách (Bộ đội Biên phòng) làm nòng cốt để quản lý, bảo vệ biên giới theo quy định của pháp luật. Mặt khác, để tăng cường trách nhiệm, hiệu quả quản lý, bảo vệ biên giới của chính quyền địa phương các cấp, Nhà nước phân cấp trách nhiệm, quyền hạn quản lý, bảo vệ biên giới cho chính quyền địa phương, kết hợp giữa Trung ương với địa phương, khắc phục tình trạng thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý, tuỳ tiện, sơ hở, kém hiệu quả, cục bộ địa phương, tiêu cực, phiền hà, tuỳ tiện đặt ra các quy định trái pháp luật của Nhà nước về quản lý biên giới gây tổn hại đến an ninh quốc gia, lợi ích kinh tế và trật tự an toàn xã hội, gây khó khăn cản trở cho các hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới của các ngành, các lực lượng.
b) Dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước và vai trò tham mưu của lực lượng chuyên trách nòng cốt, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia
Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, tham gia quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội. Công tác quản lý, bảo vệ biên giới cũng như mọi công tác cách mạng khác đều phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc. Hơn nữa, địa bàn biên giới là nơi có nhiều khó khăn phức tạp, nơi cư trú hầu hết của đồng bào dân tộc thiểu số. Do kinh tế chậm phát triển, đời sống của đồng bào các dân tộc còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, nhiều tập quán lạc hậu, nên dễ bị kẻ địch và các phần tử xấu lôi kéo, lợi dụng, mua chuộc, sử dụng vào các hoạt động chống phá ta, gây mất an ninh, ổn định trên khu vực biên giới. Cơ sở chính quyền của các xã, bản giáp biên giới còn nhiều hạn chế, yếu kém, năng lực, hiệu quả quản lý của chính quyền cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quản lý an ninh trật tự trên địa bàn biên giới thuộc phạm vi quản lý của địa phương. Vì vậy, muốn quản lý, bảo vệ biên giới phải dựa vào nhân dân và vai trò tham mưu của lực lượng chuyên trách, nòng cốt, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.
Dựa vào nhân dân quản lý, bảo vệ biên giới, Nhà nước cần có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn biên giới, chăm lo đời sống vật chất tinh thần của đồng bào các dân tộc. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho đồng bào các dân tộc, nâng cao ý thức cảnh giác cho nhân dân, trên cơ sở đó tổ chức, hướng dẫn nhân dân tham gia quản lý, giúp đỡ Bộ đội Biên phòng và các cơ quan chức năng khác hoàn thành nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.
Quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia phải kết hợp giữa xây dựng biên giới vững mạnh toàn diện với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới và vai trò của lực lượng chuyên trách, nòng cốt làm tham mưu về công tác biên phòng cho Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, các cấp uỷ, chính quyền địa phương các tỉnh biên giới, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các ngành, các cấp, sức mạnh của cả hệ thống chính trị; sức mạnh của chính trị, tinh thần, kinh tế, quốc phòng - an ninh, sức mạnh của cả nước, của tuyến trước và tuyến sau, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vào nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.
c) Quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới gắn với bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích quốc gia, tài nguyên, môi trường
Các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ hòng xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo lôi kéo quần chúng chống lại chính quyền cách mạng, kích động đòi ly khai, tự trị, gây bạo loạn; tăng cường hoạt động xâm phạm gây mất trật tự an toàn xã hội, tính mạng, tài sản của nhân dân. Mặt khác, mặt trái của cơ chế thị trường, sức ép của tăng trưởng kinh tế và toàn cầu hoá đang gây tác hại tàn phá môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên; sự xâm nhập của "biên giới mềm", chính sách bá quyền của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đe dọa độc lập chủ quyền nước ta. Vì vậy, công tác quản lý, bảo vệ biên giới, chủ quyền lãnh thổ phải gắn liền với bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội... Sự gắn kết các mối quan hệ đó tồn tại thống nhất, hữu cơ trong một nhà nước độc lập, có chủ quyền, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
d) Phát huy ưu thế chính trị, tinh thần, dựa vào sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp tác chiến với địch vận, tuyên truyền, giáo dục thuyết phục với xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật
Biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Bảo vệ toàn vẹn biên giới quốc gia là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, dựa vào sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia phải coi trọng giáo dục, động viên tinh thần yêu nước, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa các lực lượng vũ trang với nhân dân các dân tộc trên biên giới nhằm phát huy cao độ ưu thế về chính trị, tinh thần, nêu cao chủ nghĩa yêu nước tạo nên sức mạnh đoàn kết quân dân ở khu vực biên giới trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Kết hợp chặt chẽ các phương thức tác chiến với địch vận, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; giữa tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục với quản lý bằng pháp luật làm cho mọi công dân nhận thức rõ quyền lợi và nghĩa vụ, ý thức và trách nhiệm tham gia bảo vệ biên giới; đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật về biên giới quốc gia.
4. Nội dung quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia
a) Quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới trên đất liền, trên biển, trên không và trong lòng đất
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời. Nhà nước thông qua các hoạt động thiết lập chủ quyền đối với lãnh thổ, quyền tài phán đối với các vùng biển, lãnh thổ, quyền phân định biên giới lãnh thổ của mình với các quốc gia khác; quyền xác lập quy chế pháp lý trên các vùng lãnh thổ của mình, đồng thời Nhà nước tổ chức ra các lực lượng để quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, vùng trời và lòng đất, các đảo và các quần đảo. Nhà nước còn thông qua các hoạt động ngoại giao độc lập, tự chủ của mình trong quá trình tham gia ký kết các điều ước quốc tế phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế và lợi ích của Việt Nam để bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc.
Biên giới quốc gia trên đất liền được quy hoạch và đánh dấu trên thực địa bằng hệ thống mốc quốc giới.
Biên giới quốc gia trên biển được hoạch định và đánh dấu bằng tọa độ trên hải đồ là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của hải đảo, lãnh hải của quần đảo của Việt Nam được xác định theo Công ước về Luật biển năm 1982 và các hiệp định, hiệp ước mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký với các quốc gia hữu quan.
Biên giới quốc gia trên không là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển lên vùng trời.
Biên giới quốc gia trong lòng đất là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển xuống lòng đất. Ranh giới trong lòng đất thuộc vùng biển là mặt thẳng đứng từ các đường ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa xuống lòng đất xác định quyền chủ quyền, quyền tài phán của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Công ước về Luật biển 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan.
b) Quản lý, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên khu vực biên giới
Khu vực biên giới bao gồm: khu vực biên giới trên đất liền, khu vực biên giới trên biển, khu vực biên giới trên không.
Khu vực biên giới trên đất liền gồm xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền. Khu vực biên giới trên biển tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo. Khu vực biên giới trên không gồm phần không gian dọc theo biên giới quốc gia có chiều rộng mười kilômét tính từ biên giới quốc gia trở vào.
Quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia phải gắn liền với quản lý, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên khu vực biên giới. Bộ đội Biên phòng tăng cường phối hợp với các lực lượng khác đấu tranh chống hoạt động tình báo, gián điệp, phản động, nội gián... câu kết với các thế lực bên ngoài gây bạo loạn, lật đổ, làm mất ổn định chính trị; đấu tranh chống các loại tội phạm, giữ vững trật tự xã hội. Tăng cường sức mạnh quốc phòng, khả năng sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân đánh thắng chiến tranh xâm lược, xung đột vũ trang, can thiệp quân sự kết hợp với bạo loạn lật đổ giữ vững ổn định biên giới, bảo vệ Đảng, chính quyền và nhân dân. Kết hợp chặt chẽ giữa an ninh biên phòng với an ninh nội địa, nắm chắc tình hình ngoại biên, tình hình khu vực biên giới và tình hình khu vực nội địa, quản lý chắc đối tượng, địa bàn, các di biến động trên địa bàn biên giới, phối hợp giữa tình báo biên phòng với phản gián, trinh sát kỹ thuật với điều tra hình sự, giữa nội biên với ngoại biên để chủ động nắm đánh địch, tấn công tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn biên giới, đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với an ninh trong bảo vệ biên giới quốc gia.         
c) Quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường và lợi ích quốc gia trên khu vực biên giới và vùng biển quốc gia
Tài nguyên, môi trường, lợi ích quốc gia luôn gắn liền với chủ quyền quốc gia. Bộ đội Biên phòng kết hợp chặt chẽ với các lực lượng Kiểm lâm, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường... và chính quyền địa phương tiến hành các hoạt động tuần tra, kiểm soát, điều tra để phát hiện, ngăn chặn, bắt giữ, xử lý các hành vi vi phạm về tài nguyên, môi trường, lợi ích quốc gia như: bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, nguồn nước, nguyên liệu, động vật hoang dã quý hiếm, khoáng sản.., chống thải chất độc hại gây ô nhiễm môi trường, nguồn nước trên các sông suối biên giới, vùng biển quốc gia.
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn hoàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam. Vì vậy, Bộ đội Biên phòng phối hợp với các lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Kiểm ngư và các cơ quan, bộ, ngành để quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường lợi ích quốc gia các vùng biển của Việt Nam.
d) Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng trên khu vực biên giới, các công trình bảo vệ biên giới
Các công trình quốc phòng trên khu vực biên giới gồm các công trình chiến đấu, phục vụ chiến đấu, công trình phòng thủ và phòng tránh thường được xây dựng từ thời bình. Các công trình quốc phòng trên khu vực biên giới, công trình bảo vệ biên giới là công trình có vị trí quan trọng bảo vệ biên giới quốc gia, đồng thời để chủ động đối phó chiến tranh xâm lược, xung đột vũ trang trong nhiệm vụ phòng thủ bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới. Bộ đội Biên phòng là thành viên trong khu vực phòng thủ tỉnh biên giới, lực lượng chuyên trách, nòng cốt trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Do đó, Bộ đội Biên phòng là lực lượng chuyên trách, nòng cốt quản lý địa bàn khu vực biên giới, quản lý bảo vệ đường biên, cột mốc, bảo vệ các công trình quốc phòng trên biên giới để tăng cường tiềm lực quốc phòng trong phòng thủ, bảo vệ biên giới.
e) Quản lý, bảo vệ việc chấp hành pháp luật, quy chế biên giới và các điều ước quốc tế về biên giới
Để quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, Nhà nước ban hành nhiều văn bản pháp luật về biên giới, ký kết các hiệp định về quy chế biên giới với các nước láng giềng và các điều ước quốc tế về biên giới. Bộ đội Biên phòng là cơ quan chủ trì và phối hợp với các lực lượng trong duy trì việc chấp hành pháp luật về biên giới, quy chế biên giới, các hiệp định về quy chế biên giới với các nước láng giềng và các điều ước quốc tế về biên giới để giữ vững chủ quyền, lợi ích quốc gia, an ninh biên giới và trật tự an toàn xã hội trên khu vực biên giới.
f) Quản lý xuất nhập biên, xuất nhập cảnh, quá cảnh tại các cửa khẩu biên giới và các cửa khẩu cảng biển
Quản lý xuất nhập biên, xuất nhập cảnh, quá cảnh tại các cửa khẩu biên giới và các cửa khẩu đường bộ, đường sắt, cảng biển là một nhiệm vụ quan trọng của Bộ đội Biên phòng trong quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới. Trên cơ sở các văn bản pháp luật về xuất, nhập cảnh, vận dụng các biện pháp công tác biên phòng để quản lý, kiểm soát việc qua lại biên giới đối với người, phương tiện và phối hợp với Hải quan kiểm soát hàng hoá, chống buôn lậu và gian lận thương mại, chống xâm nhập trái phép, vượt biên, vượt biển trái phép xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội... giữ vững ổn định biên giới, tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác quốc tế và tham gia hội nhập kinh tế trong khu vực và trên thế giới.
g) Quản lý hoạt động đối ngoại biên phòng
Đồn biên phòng là cơ quan đại diện cho Nhà nước trên biên giới trong quan hệ với lực lượng bảo vệ biên giới các nước láng giềng, cùng phối hợp bảo vệ sự ổn định của đường biên giới theo Hiệp định biên giới giữa hai nước, phối hợp đấu tranh chống tội phạm trên địa bàn biên giới, hợp tác giải quyết những vấn đề phức tạp, tranh chấp xảy ra trên biên giới theo hiệp định, quy chế biên giới góp phần xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị hợp tác phát triển giữa các nước. Các hoạt động của các ban, ngành và địa phương trên biên giới có liên quan đến nước ngoài để giải quyết những vấn đề có liên quan đến biên giới, hiệp định quy chế biên giới phải thông qua đồn biên phòng để quan hệ với lực lượng bảo vệ biên giới của nước láng giềng; ngược lại, địa phương biên giới và lực lượng bảo vệ biên giới nước láng giềng muốn quan hệ với Việt Nam để giải quyết các vấn đề có liên quan đến biên giới phải thông qua đồn biên phòng của Việt Nam như gặp gỡ, thăm thân, phản kháng, hội đàm... giữa các địa phương hai bên biên giới, tổ chức giao ban, cuộc họp thường niên theo định kỳ, hoặc giải quyết vụ việc đột xuất có liên quan đến biên giới đều phải thông qua đồn biên phòng để quan hệ tiếp nhận hoặc trao trả những người vi phạm hiệp định quy chế biên giới bị bắt giữ. Đồn biên phòng là cơ quan quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại biên phòng để giải quyết các vấn đề phức tạp xảy ra trên khu vực biên giới giữa hai nước theo quy định phân cấp của Chính phủ.
5. Giải pháp quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia
a) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, huy động toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia
Tăng cường sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Trung ương Đảng, các cấp uỷ đảng địa phương có biên giới; sự quản lý của Nhà nước, của chính quyền địa phương đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ biên giới là nhân tố quyết định bảo đảm sự ổn định lâu dài của biên giới quốc gia.
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh, muốn giữ yên bờ cõi phải dựa vào dân, huy động sức mạnh của nhân dân. Để bảo vệ vùng biên giới (vùng biên cương, biên ải), các triều đại phong kiến đều dựa vào sức dân tại chỗ là chủ yếu, bằng các biện pháp như: lập các đồn điền, đưa nhân dân ra lập các làng bản ở vùng biên cương, hình thành từng cụm, từng khu dân cư và được giao quản lý, bảo vệ từng đoạn, từng vùng biên giới của đất nước với hệ thống, tổ chức, hình thức, phương pháp theo quy định của từng triều đại phù hợp với từng thời kỳ.
Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng và Nhà nước ta xuyên suốt cả quá trình lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn vận dụng quan điểm lấy dân làm gốc trong mọi hoạt động của mình. Thực tiễn, sự thành công của nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, vùng biên giới dưới sự lãnh đạo của Đảng trong những năm qua đều khẳng định sức mạnh của nhân dân trong bảo vệ biên giới. Trên mặt trận quản lý, bảo vệ cũng như trong xây dựng vùng biên giới ổn định đều có sự đóng góp tích cực của nhân dân khu vực biên giới.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, huy động toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, cần tập trung vào những nội dung sau:
Bộ Chính trị, Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo các vấn đề đối nội, đối ngoại, quan hệ biên giới, đàm phán giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh toàn diện. Các cấp ủy đảng địa phương có biên giới lãnh đạo, chỉ đạo các vấn đề cụ thể thuộc thẩm quyền địa phương như: xây dựng, phát triển kinh, văn hóa - xã hội, quản lý bảo vệ an ninh, trật tự, chống tội phạm, chống buôn lậu qua biên giới. Tăng cường và nâng cao chất lượng lãnh đạo của tổ chức đảng với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, kết hợp chặt chẽ thế và lực giữa an ninh biên giới với an ninh quốc gia; giữa an ninh biên giới với quốc phòng; giữa an ninh biên giới với xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội.
Tăng cường quản lý nhà nước về biên giới, lãnh thổ, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Củng cố và phát huy vai trò quản lý thống nhất của Nhà nước đối với biên giới quốc gia. Đồng thời phân cấp trách nhiệm cho địa phương có biên giới trong nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới, an ninh, trật tự trên lãnh thổ của địa phương, phù hợp với các hiệp định, quy chế biên giới. Mọi chủ trương giải quyết về chủ quyền lãnh thổ biên giới, ký kết các hiệp định với nước ngoài liên quan đến biên giới quốc gia đều do Nhà nước thống nhất quản lý, khắc phục tình trạng tùy tiện, lạm quyền làm tổn hại đến lợi ích quốc gia.
Nền tảng, cốt lõi của huy động toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia là xây dựng ý chí sức mạnh của toàn dân, là “phòng tuyến nhân dân vững chắc” trong bảo vệ biên giới. Vì vậy, cần hoàn thiện chiến lược về xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới. Quan tâm, tập trung giải quyết cơ bản, ổn định việc định canh, định cư; giao đất, giao rừng cho từng hộ gia đình, từng bản làng, kết hợp bảo vệ rừng với bảo vệ đường biên, cột mốc biên giới với sự đầu tư kinh phí của Nhà nước và sự hướng dẫn của lực lượng chuyên trách. Củng cố hệ thống chính trị các địa phương biên giới, đủ khả năng tổ chức nhân dân phát triển kinh tế xã hội, đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân để họ tự nguyện gắn bó sinh sống và góp phần bảo vệ vùng biên giới. Tuyên truyền giáo dục ý thức trách nhiệm, bồi dưỡng nâng cao dân trí cho nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc khu vực biên giới về ý thức, trách nhiệm bảo vệ biên giới, trước hết là thực hiện tốt “Ngày Biên phòng toàn dân” trong cả nước.
b) Xây dựng chiến lược quốc gia về biên giới
Xây dựng chiến lược quốc gia về biên giới là giải pháp chủ yếu để bảo vệ và giữ vững ổn định lâu dài biên giới quốc gia. Xây dựng chiến lược quốc gia về biên giới có nội dung toàn diện bao gồm, xây dựng các chương trình quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng khu vực biên giới; xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, xã hội các huyện, xã biên giới vững mạnh; xây dựng lực lượng vũ trang nòng cốt, chuyên trách bảo vệ biên giới về mọi mặt; xây dựng thế trận biên phòng toàn dân, gắn với thế trận quốc phòng, an ninh bảo vệ biên giới; xây dựng công trình bảo vệ biên giới, công trình phòng thủ, chiến đấu; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, trực tiếp là sức mạnh của lực lượng tại chỗ ở biên giới đấu tranh chống tội phạm, nhất là hoạt động tình báo, gián điệp, sẵn sàng chiến đấu khi chiến tranh xảy ra.
Trong chiến lược quốc gia về biên giới phải kết hợp chặt chẽ kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh, hoạt động đối ngoại, phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững ổn định an ninh trong mở cửa quan hệ với bên ngoài.
Xây dựng chiến lược và chương trình quốc gia đẩy nhanh nhiệm vụ xây dựng khu vực biên giới, vùng biển, đảo vững mạnh toàn diện, làm cho nhân dân ở biên giới gắn bó với Đảng, với chế độ, với bản làng, gắn xây dựng củng cố toàn diện biên giới với nâng cao đời sống (kinh tế, chính trị, văn hóa...) cho nhân dân biên giới. Trong chiến lược, chương trình quốc gia phải kết hợp chặt chẽ kinh tế xã hội với an ninh, quốc phòng, hoạt động đối ngoại, phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững an ninh bên trong, mở cửa quan hệ với bên ngoài. Ngăn chặn, đẩy lùi các hoạt động thù địch, tạo thế, tạo lực giữ vững ổn định lâu dài biên giới quốc gia.
Tăng cường các mối quan hệ với nhân dân biên giới, thu hút và tranh thủ lòng dân, trong chỉ đạo phải vừa tiến hành xây dựng, định hình các vấn đề chiến lược vừa có kế hoạch, chính sách giải quyết các vấn đề cụ thể làm cho nhân dân hiểu và thống nhất với chủ trương, mục đích của Đảng, Nhà nước, bảo đảm lợi ích quốc gia và lợi ích chính đáng của địa phương, của nhân dân biên giới. Căn cứ vào thực trạng tình hình chính trị, kinh tế xã hội ở biên giới, cần tập trung xây dựng chính sách ưu tiên, ưu đãi về kinh tế xã hội đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo mở cửa biên giới, khuyến khích xuất khẩu, phát triển kinh tế biên giới nâng cao đời sống đồng bào dân tộc. Nghiên cứu đầu tư, mở tuyến du lịch, dịch vụ ra các đảo xa bờ, quần đảo Trường Sa, từng bước dân sự hóa, củng cố vững chắc cơ sở chính trị, pháp lý các đảo, quần đảo của nước ta. Thực hiện quy hoạch kinh tế vùng biên giới cho từng tuyến, từng tỉnh, từng tiểu vùng (cả về nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp theo ba cấp độ ngắn hạn, trung hạn, dài hạn), làm tốt công tác định canh, định cư công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình, xóa đói giảm nghèo các xã biên giới ở vùng sâu, vùng xa. Có chính sách cụ thể, thiết thực, tổ chức đào tạo cán bộ dân tộc, ưu đãi người có công trong bảo vệ chủ quyền biên giới.
Xây dựng chiến lược quốc gia về biên giới toàn diện, huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị, kết hợp nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền với phòng chống các loại tội phạm xâm nhập, câu móc phá hoại, nhất là hoạt động gián điệp, tình báo xâm nhập bằng các phương thức khác nhau. Không để địch lập mật khu, lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, gây tình hình mất ổn định bằng mọi biện pháp. Xóa bỏ các điểm nóng, dập tắt âm mưu nhen nhóm các tổ chức phản động, thực hiện phương châm “bóp chết từ trong trứng nước”, đánh bắt nhanh, gọn các toán gián điệp, phản động lưu vong xâm nhập, thực hiện tốt yêu cầu giữ vững an ninh bên trong, giữ vững lòng dân, đoàn kết dân tộc, bảo đảm an ninh chính trị nội bộ các tổ chức chính trị, xã hội, lực lượng vũ trang ở biên giới, hải đảo. Phối hợp với các nước láng giềng chống tội phạm, chống buôn lậu nhất là tội phạm ma túy.
d) Tăng cường hợp tác quốc tế và hoạt động đối ngoại để củng cố, phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị với Trung Quốc và các nước ASEAN
Tăng cường hợp tác quốc tế và hoạt động đối ngoại với các nước có chung biên giới và các nước ASEAN để củng cố, phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị, thực hiện chính sách mở cửa, hợp tác hữu nghị, mở rộng hợp tác đa phương, giao lưu, hợp tác kinh tế biên giới, hợp tác liên doanh, phát triển kinh tế biển, kinh tế biên giới trên các lĩnh vực dầu khí, hải sản, khoáng sản, lâm nghiệp, du lịch, bảo vệ môi trường, kết hợp với hoạt động ngoại giao, quốc phòng.
Trên từng tuyến biên giới cần chú trọng vận dụng các hình thức, nội dung phù hợp. Đối với tuyến biên giới phía Bắc, cần giữ vững ổn định, thực hiện phương châm “vừa hợp tác vừa đấu tranh” để giữ vững chủ quyền biên giới, bảo vệ chủ quyền đi đôi với tăng cường quan hệ hữu nghị, thực hiện phương châm “mềm mà chặt”. Trong phát triển kinh tế cần chú ý khai thác lợi thế của ta đối với thị trường Trung Quốc. Đối với các tuyến biên giới phía Tây, Tây Nam, cần giữ vững ổn định, đẩy mạnh hợp tác với Lào. Tập trung phát triển kinh tế, quan hệ buôn bán bảo đảm cho hàng hóa Việt Nam chiếm ưu thế trên thị trường Lào và Campuchia. Đối với vùng biển, đảo, tăng cường đầu tư, xây dựng cơ sở đánh bắt, chế biến, hoạt động xa bờ, kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Đầu tư xây dựng các đảo, quần đảo có dân sinh sống và các lực lượng phòng thủ thành cơ sở kinh tế quốc phòng vững mạnh, tăng cường sức mạnh kinh tế và phòng thủ từ xa. Đối với các nước ASEAN, có chính sách ưu đãi để thu hút các công ty đa quốc gia vào làm ăn với Việt Nam, nhất là các dự án trên biển, thông qua lợi ích kinh tế để ràng buộc họ với ta, tạo đối trọng trong quan hệ đối tác, quan hệ khu vực và quốc tế.
e) Chủ động đàm phán giải quyết các vấn đề tồn tại về biên giới với các nước có liên quan
Đàm phán để giải quyết các vấn đề về biên giới, lãnh thổ là giải pháp chủ yếu, phổ biến hiện nay của cộng đồng quốc tế. Điều 33, Hiến chương Liên hợp quốc cũng quy định: Các bên trong một vụ tranh chấp mà việc kéo dài có thể đe dọa việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế phải cố gắng giải quyết trước hết bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, cầu viện những cơ quan hoặc hiệp định khu vực hoặc bằng các phương thức hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của họ.
Trong bối cảnh tình hình quốc tế và quan hệ biên giới nước ta với các nước hiện nay, tiến hành đàm phán giải quyết với các nước về biên giới lãnh thổ, tạo môi trường ổn định, quan hệ láng giềng, hữu nghị là giải pháp cơ bản, chủ yếu, cấp thiết để bảo vệ và ổn định lâu dài biên giới quốc gia.
Mục tiêu đàm phán của ta với các nước là giải quyết dứt điểm các vấn đề tranh chấp, xác lập đường biên giới hòa bình, bền vững, ổn định lâu dài, xóa bỏ những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, lấn chiếm và sự quản lý tạm thời hiện nay. Các bên đàm phán phải có thiện chí, tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của nhau. Dựa vào những yếu tố pháp lý (luật pháp quốc tế, tư liệu, bản đồ, bằng chứng lịch sử để đàm phán), cùng nhau đàm phán ký kết hiệp ước bổ sung biên giới và phân giới, cắm mốc trên thực địa. Trên cơ sở mục tiêu đã xác định, trong đàm phán giải quyết các vấn đề biên giới với các nước láng giềng cần tiến hành theo cách: dễ trước khó sau, đủ điều kiện, cơ sở pháp lý, tài liệu trước, chưa đủ tài liệu, chứng cứ pháp lý sau. Trong đàm phán cần nhận rõ, giải quyết vấn đề biển - đảo phải kiên trì, kiềm chế, khôn khéo, không để sơ hở để họ tạo cớ gây căng thẳng, xung đột.
Đối với biên giới Việt Nam - Lào, cần tăng cường quan hệ giữa lực lượng bảo vệ biên giới, chính quyền hai bên biên giới phối hợp quản lý, bảo vệ biên giới, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, đồng thời thường xuyên phối hợp trong đấu tranh chống vi phạm quy chế biên giới.
Đối với biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Hiệp định biên giới đất liền được ký kết ngày 30 tháng 11 năm 1999 và đã được Quốc hội hai nước phê chuẩn. Đây là cơ sở để hai nước phối hợp trong quản lý, bảo vệ biên giới trên đất liền.
Đối với biên giới Việt Nam - Campuchia, trên cơ sở Hiệp ước biên giới năm 1985, tiếp tục đàm phán về những điểm do phía Campuchia nêu ra để hoàn thiện nội dung ký Hiệp ước bổ sung về biên giới trên đất liền.
Đối với vùng biển Việt Nam - Trung Quốc, Chính phủ hai nước đã ký Hiệp định vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa trên vịnh Bắc Bộ ngày 25 tháng 12 năm 2000, nhưng do Chính phủ hai nước chưa thống nhất được nội dung Nghị định thư về vùng dàn xếp quá độ của nghề cá, nên Quốc hội nước ta và ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân Trung Quốc cùng phê chuẩn hai Hiệp định trên. Do vậy, trên vùng biển vịnh Bắc Bộ ta vẫn bảo vệ như cũ (như khi chưa có Hiệp định) cho đến khi các Hiệp định và Nghị định thư được hai nước phê chuẩn.
Đối với vùng biển Việt Nam - Campuchia, trên cơ sở về vùng nước lịch sử năm 1982 đã được hai nước ký kết, tiếp tục đàm phán để xác định biên giới trên biển.
Đối với các nước và vùng lãnh thổ có vùng biển chồng lấn, Việt Nam mới ký kết với Thái Lan Hiệp định phân định ranh giới trên biển. Đối với Malaysia, ta mới thỏa thuận được việc hợp tác khai thác tài nguyên trên vùng biển chồng lấn. Cần tiếp tục đàm phán với Trung Quốc, Inđônêsia, Malaysia, Philippin, Campuchia để giải quyết vùng biển đảo chồng lấn, có tranh chấp.
f) Đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, xây dựng các dự án phục vụ xây dựng khu biên giới, hải đảo vững mạnh toàn diện
Xây dựng chương trình, dự án nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, khai thác tiềm năng biển phục vụ phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo tiềm lực mạnh để bảo vệ biên giới.
Nhà nước cần thống nhất chỉ đạo, tập trung đầu tư, đẩy mạnh công tác khảo sát, nghiên cứu khoa học, công nghệ của các ngành khoa học, như lịch sử biên giới biển - đảo để góp phần bảo vệ biên giới.
Đẩy mạnh nghiên cứu các lĩnh vực trên để khai thác tiềm năng một cách có kế hoạch, khoa học, hợp lý, vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi trường, sinh thái, tăng cường tiềm lực và sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, tài nguyên, môi trường, lợi ích quốc gia.
g) Xây dựng thế trận biên phòng toàn dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn biên giới
Thế trận biên phòng là hình thái tổ chức và bố trí lực lượng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, xã hội, các lực lượng vũ trang và nhân dân mà trực tiếp là quân và dân tại chỗ ở khu vực biên giới, ven biển, hải đảo để quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Thế trận biên phòng phải phục vụ có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ biên phòng và được xây dựng trên cơ sở các quan điểm, chủ trương chiến lược của Đảng, Nhà nước về bảo vệ biên giới quốc gia, gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nội dung xây dựng thế trận biên phòng trước hết, là xây dựng lực lượng quần chúng nhân dân tham gia bảo vệ biên giới, xây dựng “trận địa lòng dân”, “biên giới lòng dân” vững chắc; xây dựng các lực lượng chuyên trách và các lực lượng không chuyên trách cùng phối hợp quản lý, bảo vệ biên giới; xây dựng, bố trí lực lượng và lực lượng bí mật nắm được tình hình rộng rãi bên trong và ngoài biên giới, quán xuyến được địa bàn, đối tượng. Kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng với phương tiện nghiệp vụ, trang bị kỹ thuật để nắm tình hình từ xa, kết hợp với trận địa công sự và hệ thống công trình bảo vệ biên giới; kết hợp bố trí lực lượng tại chỗ để quản lý, bảo vệ biên giới với lực lượng cơ động để hỗ trợ xử trí các tình huống đột xuất; kết hợp giữa lực lượng tuyến trước với lực lượng tuyến sau tạo thành sức mạnh tổng hợp. Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, phương tiện nghiệp vụ với các biện pháp công tác biên phòng để nắm vững tình hình biên giới, nắm vững âm mưu, thủ đoạn hoạt động phá hoại của địch và các loại đối tượng xâm phạm chủ quyền an ninh biên giới, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên phòng, dự báo đúng tình hình phục vụ kịp thời cho chỉ huy, chỉ đạo quản lý, bảo vệ biên giới. Thế trận biên phòng phải gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân bảo đảm đánh địch vũ trang, chống xâm lược để bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo đảm đánh địch bí mật, chống phản cách mạng, chống tình báo, gián điệp, chống tội phạm khác hoạt động qua lại biên giới để giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực biên phòng. Đồng thời bảo đảm phục vụ cho đấu tranh ngoại giao để giữ vững chủ quyền biên giới, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng.
Tổ chức bố trí lực lượng của thế trận biên phòng bảo vệ biên giới phải hình thành thế liên hoàn, vững chắc, thống nhất, khép kín được biên giới và hỗ trợ lẫn nhau giữa các lực lượng, phương tiện, biện pháp công tác, giữa phía trước và phía sau trong quá trình quản lý, bảo vệ biên giới trong thời bình và khi có chiến tranh.
Xây dựng “trận địa lòng dân” là vấn đề cốt lõi của thế trận biên phòng. Bởi nhân dân là lực lượng to lớn tham gia bảo vệ biên giới, giúp đỡ Bộ đội Biên phòng chống lấn chiếm, đấu tranh chống tội phạm, giữ vững an ninh trật tự trên biên giới. Nhân dân còn là lực lượng hùng hậu để tiến hành chiến tranh nhân dân rộng khắp, tiến hành đấu tranh đối ngoại (ngoại giao nhân dân) để xây dựng biên giới hòa bình hữu nghị; là nền tảng của thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Trong cuộc đấu tranh này, ai nắm được dân thì chiến thắng, vì vậy, xây dựng “trận địa lòng dân” là vấn đề cốt lõi của thế trận biên phòng.
Xây dựng và bố trí lực lượng dân cư khép kín biên giới, những địa bàn biên giới chưa có dân phải quy hoạch kết hợp phát triển các đơn vị kinh tế quốc phòng để di dân ra biên giới. Việc tổ chức các cụm dân cư phải đáp ứng được yêu cầu xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở địa phương và tổ chức lực lượng quản lý, bảo vệ biên giới theo quan điểm biên phòng toàn dân, đưa dân ra biên giới, thực hiện các chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với quốc phòng, an ninh, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào trên địa bàn biên giới. Xây dựng “trận địa lòng dân” làm cho đời sống của dân nhân, dân trí được nâng cao, chính quyền vững mạnh, dân tin theo Đảng, gắn bó với chế độ xã hội chủ nghĩa, quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền biên giới quốc gia. Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định thế trận biên phòng, chừng nào dân còn đói kém, dân trí thấp, thiếu kỷ cương, dân chủ, tham nhũng hoành hành làm mất lòng tin của nhân dân với Đảng, với chính quyền thì không thể có trận địa biên phòng vững chắc, giữ được dân thì giữ được tất cả, để mất dân thì không còn nền tảng của thế trận biên phòng.
Cùng với việc xây dựng lực lượng quần chúng nhân dân phải quan tâm xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vững mạnh về chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, thành thạo về chiến thuật, kỹ thuật, biết làm tốt công tác vận động quần chúng, được xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức làm nòng cốt bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền biên giới, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Đầu tư mua sắm trang bị vũ khí, phương tiện nghiệp vụ tiên tiến và sản xuất trong nước các loại vũ khí trang bị đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng vũ khí trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân, đặc biệt là việc đầu tư để ứng dụng công nghệ mới vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới. Xây dựng lực lượng chuyên trách (Bộ đội Biên phòng) ổn định về tổ chức, vững mạnh về chính trị tư tưởng, được trang bị hiện đại làm nòng cốt cho toàn dân tham gia quản lý, bảo vệ biên giới. Xây dựng và bố trí mạng lưới bí mật đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, quán xuyến được địa bàn và đối tượng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới.
Xây dựng các công trình kỹ thuật bảo vệ biên giới, dựa vào thế thiên hiểm của địa hình để xây dựng trận địa, công sự phòng thủ, công sự chiến đấu kiên cố vững chắc, che dấu, bảo toàn được lực lượng, kết hợp phòng tránh và đánh trả có hiệu quả, tạo thế đánh địch từ xa, tiện cho cơ động tiến công địch, có trận địa nghi binh, đánh lừa địch, trận địa phòng thủ vững chắc, hệ thống đường cơ động thuận tiện cho tiến công, phòng ngự. Xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc để thực hiện chiến tranh nhân dân rộng khắp, hệ thống công trình bảo vệ biên giới kết hợp với hệ thống đê điều, công trình thủy lợi, đường tuần tra biên giới thuận lợi cho tuần tra bảo vệ biên giới và cơ động lực lượng.
Xây dựng hệ thống công trình kỹ thuật, công trình chiến đấu, các điểm tựa, cụm điểm tựa liên hoàn vững chắc đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đánh địch trong mọi tình huống, đồng thời phù hợp với nhiệm vụ, ý định bảo vệ chủ quyền biên giới trên địa bàn trọng điểm, hướng chủ yếu, kết hợp giữa quốc phòng, an ninh với quản lý, bảo vệ biên giới. Việc xây dựng công trình bảo vệ biên giới phải bảo đảm tính ổn định lâu dài, phù hợp với yêu cầu bảo vệ biên giới, kết hợp giữa quốc phòng, kinh tế với quản lý, bảo vệ biên giới.
Bố trí sử dụng lực lượng trong thế trận quốc phòng phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng thứ quân, từng lực lượng như Bộ đội Biên phòng, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, Công an nhân dân, dân quân tự vệ nhằm phát huy được hiệu quả chiến đấu của từng lực lượng vào nhiệm vụ tác chiến chống xâm lược, chống phản cách mạng, chống tội phạm và nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới đáp ứng được yêu cầu quản lý, bảo vệ biên giới thường xuyên và bảo đảm đánh địch xâm nhập phá hoại biên giới bằng cả hai phương thức hoạt động bí mật và công khai với các quy mô và thủ đoạn khác nhau.
Trong thế trận chung, cần hết sức chú ý tổ chức bố trí hợp lý lực lượng Bộ đội Biên phòng bao gồm: hệ thống đồn, trạm biên phòng; các hải đoàn, hải đội biên phòng; đơn vị cơ động, đơn vị đặc nhiệm biên phòng và các thành phần khác, bảo đảm thực hiện được đồng bộ các biện pháp công tác biên phòng trong quản lý, bảo vệ biên giới, làm tròn chức năng của lực lượng nòng cốt, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia. Bố trí lực lượng trong thế trận cần bảo đảm tính toàn diện và trọng điểm; phát huy được sức mạnh của hệ thống chính trị, sức mạnh của toàn dân, của các lực lượng vũ trang và lực lượng chuyên ngành, các phương tiện kỹ thuật và hệ thống trận địa công sự trên từng tuyến biên giới, vùng biển. Kết hợp chặt chẽ, đồng bộ lực lượng trực tiếp quản lý, bảo vệ biên giới với các lực lượng khác trong khu vực phòng thủ tỉnh, huyện biên giới. Bố trí lực lượng Bộ đội Biên phòng phải bảo đảm kết hợp chặt chẽ các lực lượng, biện pháp vũ trang, tuần tra bảo vệ biên giới, biện pháp hành chính qua lại biên giới, vùng biển, biện pháp vận động quần chúng, biện pháp trinh sát, hệ thống đài quan sát và trinh sát kỹ thuật. Bố trí lực lượng trinh sát biên phòng phải kết hợp chặt chẽ hoạt động của trinh sát nội biên và trinh sát ngoại biên, kết hợp sáu phương thức của trinh sát biên phòng với mạng lưới bí mật, tạo thành thế đan xen hỗ trợ lẫn nhau, làm cho thế trận biên phòng vừa liên hoàn, vừa hiểm hóc, kẻ địch khó phán đoán, khó đối phó và dễ bị ta phát hiện.
Tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo điều hành thế trận biên phòng phải thống nhất, chặt chẽ, hiệu quả cao. Thế trận biên phòng phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, thống nhất của cấp uỷ đảng, chỉ huy điều hành của chính quyền địa phương, Bộ đội Biên phòng làm tham mưu để bảo đảm lãnh đạo, chỉ huy, điều hành có hiệu quả; xây dựng cơ chế lãnh đạo, chỉ huy tập trung thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, các lực lượng bảo vệ biên giới cần tích cực chủ động phối hợp hiệp đồng và chấp hành nghiêm cơ chế lãnh đạo, chỉ huy, bảo đảm sự đoàn kết, hiệp đồng thống nhất, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.
h) Tăng cường xây dựng, củng cố lực lượng chuyên trách, nòng cốt vững mạnh và phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng tham gia bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia
- Tăng cường xây dựng, củng cố lực lượng chuyên trách, nòng cốt quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.
Nhà nước cần quan tâm xây dựng, củng cố lực lượng chuyên trách là Bộ đội Biên phòng vững mạnh toàn diện, chính quy, tinh nhuệ và ngày càng hiện đại cả về tổ chức, trang bị đồng bộ và huấn luyện toàn diện; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất từ Trung ương đến cơ sở, đủ khả năng làm tham mưu cho Nhà nước, chính quyền các cấp; làm nòng cốt, hướng dẫn các lực lượng tham gia quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và trực tiếp, chủ động, kịp thời phát hiện, ngăn chặn đấu tranh làm thất bại các ý đồ, các hoạt động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của các đối tượng, các thế lực thù. Xây dựng Bộ đội Biên phòng trong tình hình mới, cần tập trung vào một số nội dung sau:
Quán triệt Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 08 tháng 8 năm 1995 của Bộ Chính trị về xây dựng Bộ đội Biên phòng trong tình hình mới và Pháp lệnh về Bộ đội Biên phòng năm 1997, cần ổn định tổ chức, nghiên cứu, bố trí lực lượng tinh, gọn, nâng cao chất lượng, giảm các đầu mối trung gian và bộ phận hành chính gián tiếp..., tăng cường quân số cho các đồn, trạm biên phòng trên các tuyến trọng điểm.
Tập trung trang bị, kỹ thuật hiện đại phục vụ công tác biên phòng. Đầu tư xây dựng cơ bản cho các đồn, trạm biên phòng, nhất là các đồn cửa khẩu. Xây dựng đồn biên phòng vững mạnh trong khu vực phòng thủ, là điểm sáng văn hoá trong khu vực biên giới; nghiên cứu trang bị phương tiện kỹ thuật để đổi mới công tác quản lý, kiểm soát cửa khẩu, bảo đảm đúng nguyên tắc, chặt chẽ về nghiệp vụ, thông thoáng về thủ tục, nhanh chóng về thời gian, phục vụ tốt chủ trương mở rộng hợp tác với các nước, mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế; bảo đảm các phương tiện hiện đại, đồng bộ, nhất là hệ thống thông tin liên lạc từ đồn biên phòng đến các đội công tác. Bảo đảm ổn định về về tổ chức và cơ chế chỉ huy, chỉ đạo, hiệp đồng để Bộ đội Biên phòng hoàn thành tốt nhiệm vụ.
- Bộ đội Biên phòng chủ động phối hợp các lực lượng tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.
Quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia cần sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ của nhiều lực lượng để nắm tình hình và có biện pháp xử trí chính xác, phù hợp. Trong các lực lượng đó, có sự tham gia của tình báo quân đội, cơ quan an ninh, tình báo công an..., trong đó Bộ đội Biên phòng là lực lượng chuyên trách, nòng cốt phối hợp các lực lượng để quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Bộ đội Biên phòng cần chủ động phối hợp với các lực lượng trong thực hiện các biện pháp trinh sát, vận động quần chúng, biện pháp vũ trang và kiểm soát hành chính. Thông qua khai thác các đối tượng bị bắt, giữ, công tác đối ngoại biên phòng và phối hợp với Tổ chức Cảnh sát Hình sự quốc tế (INTERPOL) để tổng hợp tình hình có liên quan đến các loại đối tượng tội phạm trên địa bàn biên giới và địa bàn ngoại biên. Trong các biện pháp đó thì thông qua quần chúng để nắm tình hình là cơ bản, trinh sát biên phòng là mũi nhọn; đồng thời thông qua mạng lưới bí mật để nắm tình hình có chiều sâu ở những địa bàn trọng điểm, đối tượng trọng điểm; phát huy hiệu quả của trinh sát kỹ thuật trong thu tin, tổng hợp nghiên cứu thu thập tin tức qua báo chí và các phương tiện tuyên truyền công khai khác để chọn lọc những tin tức có liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Những tin tức phải được tổng hợp, báo cáo kịp thời, chính xác làm cơ sở cho Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng trong chỉ đạo chiến lược, đồng thời phục vụ cho chỉ huy, chỉ đạo phòng ngừa, không để bị động, bất ngờ trong quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia. Bên cạnh đó, Bộ đội Biên phòng cần chủ động phối hợp, hiệp đồng với các lực lượng vũ trang địa phương, các cơ quan, đơn vị đứng chân trên biên giới, phát huy sức mạnh tổng hợp đấu tranh, ngăn chặn các hành động xâm lấn, gây xung đột biên giới của các nước láng giềng.
CÂU HỎI ÔN TẬP
 1. Nội dung, mục tiêu và phương thức quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước ta?
 2. Những giải pháp quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước ta trong tình hình mới?
 3. Nguyên tắc quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia của Việt Nam?
 4. Nội dung, quan điểm và giải pháp quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia của nước ta trong tình hình mới?
 
 
 
Chuyên đề 5
XÂY DỰNG, HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG TỰ VỆ,
DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN Ở CƠ QUAN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ
TRONG TÌNH HÌNH MỚI
                                            Biên soạn: Đại tá, PGS. TS Trần Đăng Thanh
 
I. XÂY DỰNG, HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG TỰ VỆ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ TRONG TÌNH HÌNH MỚI
1. Xây dựng lực lượng tự vệ
a) Khái niệm
“Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng, không thoát ly sản xuất, công tác; là thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân, tài sản của nhà nước, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh. Lực lượng này được tổ chức ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) gọi là dân quân; được tổ chức ở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế gọi là tự vệ.1
b) Vị trí, vai trò của lực lượng dân quân tự vệ
Dân quân tự vệ là lực lượng chiến lược trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc bảo vệ quê hương, đất nước. Đánh giá về vai trò dân quân tự vệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó thì đều phải ta rã2.
Thực tiễn trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, dân quân tự vệ và du kích đã cùng nhân dân địa phương tiến hành chiến tranh nhân dân tiêu diệt nhiều sinh lực, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội chủ lực thực hiện những trận đánh lớn, quyết định để kết thúc chiến tranh. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dân quân tự vệ đang phối hợp chặt chẽ với các đơn vị quân đội nhân dân, công an nhân dân và các lực lượng khác trên địa bàn xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố), xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện; sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, phục vụ chiến đấu chống mọi tình huống chiến tranh xâm lược của các thế lực thù địch nếu chúng liều lĩnh xâm lược nước ta.
Dân quân tự vệ là một trong những công cụ để bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; bảo vệ Đảng, chính quyền; bảo vệ tính mạng và tài sản của Nhà nước và nhân dân tại địa phương, cơ sở.
Dân quân tự vệ không những là lực lượng vô địch của chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, mà còn là lực lượng nòng cốt giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; là công cụ chủ yếu để bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, tài sản Nhà nước, của tổ chức ở cơ sở, tính mạng tài sản của cá nhân nước ngoài, mục tiêu và công trình quốc phòng - an ninh trên địa bàn.
c) Nhiệm vụ của dân quân tự vệ
- Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và phục vụ chiến đấu để bảo vệ địa phương, cơ sở; phối hợp với các đơn vị bộ đội biên phòng, hải quân, cảnh sát biển và lực lượng khác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và chủ quyền, quyền chủ quyền trên các vùng biển Việt Nam.
- Phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước.
- Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu nạn, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, bảo vệ môi trường và nhiệm vụ phòng thủ dân sự khác.
- Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng - an ninh; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, cơ sở.
- Học tập chính trị, pháp luật, huấn luyện quân sự và diễn tập.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
d) Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của dân quân tự vệ
Dân quân tự vệ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước; sự quản lý, điều hành của Chính phủ mà trực tiếp là sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp; sự chỉ huy thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ huy trực tiếp của chỉ huy trưởng cơ quan quân sự địa phương.
Tổ chức và hoạt động của dân quân tự vệ phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; dựa vào dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân và hệ thống chính trị để thực hiện nhiệm vụ.
Tổ chức, biên chế của dân quân tự vệ phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh gắn với địa bàn và nhiệm vụ của đơn vị sản xuất, công tác; bảo đảm thuận tiện cho chỉ đạo, quản lý, chỉ huy và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương. 
đ) Nội dung xây dựng lực lượng tự vệ
* Thành phần, tỷ lệ, tổ chức biên chế, trang bị
- Tổ chức tự vệ có 2 lực lượng chính: Lực lượng nòng cốt (lực lượng chiến đấu) và lực lượng rộng rãi (lực lượng phục vụ chiến đấu).
+ Lực lượng tự vệ nòng cốt bao gồm:
Tự vệ bộ binh (tự vệ cơ động, tự vệ tại chỗ).
Tự vệ binh chủng (phòng không, pháo binh, công binh, trinh sát,..)
Tự vệ biển (đối với vùng có biển), được tổ chức thành lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ.
Thời hạn của tự vệ nòng cốt là 4 năm (Điều 10, Luật Dân quân tự vệ).
+ Lực lượng tự vệ rộng rãi: gồm cán bộ, chiến sỹ tự vệ nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ tự vệ và công dân trong độ tuổi quy định (nam từ đủ 18 đến hết 45, nữ từ đủ 18 đến hết 40 tuổi). Nếu tình nguyện tham gia tự vệ thì có thể đến 50 tuổi đối với nam, đến 45 tuổi đối với nữ.
Lực lượng tự vệ rộng rãi luôn sẵn sàng phát triển nhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, phòng thủ trên địa bàn tỉnh (thành) hoặc khi có chiến tranh. Đây là nguồn bổ sung cho lực lượng chiến đấu khi cần thiết, được sắp xếp thành các đơn vị ở thôn, bản, khu phố, trong các xí nghiệp, doanh nghiệp,...
- Tỷ lệ: Tùy theo tình hình cụ thể ở từng cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội để tổ chức cho phù hợp. Số lượng tự vệ ở cơ quan do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định. Định hướng chung tỷ lệ tự vệ đạt từ 10% đến 20% so với cán bộ, công nhân, viên chức. Hàng năm số tự vệ tuyển chọn để kết nạp mới phải tương ứng với số đó hoàn thành nghĩa vụ chuyển ra.
- Tổ chức và qui mô tổ chức.
+ Tổ chức gồm: Tổ, Tiểu đội, Khẩu đội; Trung đội; Đại đội, Hải đội; Tiểu đoàn, Hải đoàn.
+ Quy mô tổ chức: Cơ quan tổ chức tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn tự vệ. Cơ quan, tổ chức có phương tiện hoạt động trên biển tổ chức tiểu đội, trung đội, hải đội, hải đoàn tự vệ biển.
Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ tình hình cụ thể của các doanh nghiệp nhà nước đứng chân trên địa bàn để tổ chức các tiểu đoàn tự vệ bộ binh và các đại đội tự vệ pháo phòng không. Các thành phố lớn tổ chức lực lượng pháo phòng không tự vệ, các binh chủng khác tổ chức cấp đại đội.
Đối với doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp nhà nước quy mô tổ chức từ tiểu đội đến trung đội. Trường hợp mở rộng quy mô lực lượng tự vệ ở các trạng thái và các tình huống do Bộ trưởng Bộ quốc phòng quy định.
Các loại hình doanh nghiệp nếu có quy mô lao động phù hợp, được giao nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo kế hoạch của cơ quan quân sự địa phương thì có trách nhiệm tổ chức lực lượng tự vệ.
- Chức vụ chỉ huy cơ bản của tự vệ.
+ Chỉ huy đơn vị tự vệ gồm các cấp: Tiểu đội trưởng, Khẩu đội trưởng, Trung đội trưởng. Đ ại đội trưởng, Chính trị viên đại đội; Hải đội trưởng, Chính trị viên hải đội. Tiểu đoàn trưởng, Chính trị viên Tiểu đoàn; Hải đoàn trưởng, Chính trị viên hải đoàn.
+ Ban chỉ huy quân sự ở cơ sở gồm:
Chỉ huy trưởng, Chính trị viên Ban chỉ huy quân sự cơ quan
Chỉ huy trưởng, Chính trị viên Ban chỉ huy quân sự bộ, ngành trung ương.
- Cơ cấu biên chế.
Một là, Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở.
Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở gồm: Chỉ huy trưởng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức kiêm nhiệm; Chính trị viên, Chỉ huy phó, Chính trị viên phó là cán bộ kiêm nhiệm.
Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức cơ sở có nhiệm vụ:
Tham mưu cho cấp uỷ đảng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo công tác quốc phòng, quân sự của cơ quan, tổ chức mình; đăng ký, quản lý tự vệ tại cơ quan, tổ chức, thực hiện công tác tuyển quân và quản lý lực lượng dự bị động viên dưới sự chỉ đạo của cơ quan quân sự địa phương; thực hiện nhiệm vụ giáo dục quốc phòng - an ninh cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, tổ chức theo Nghị định 116/NĐ-CP của Chính phủ; thực hiện chính sách hậu phương quân đội.
Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch về công tác quốc phòng, quân sự của cơ quan, tổ chức; kế hoạch tổ chức lực lượng, huấn luyện và hoạt động của tự vệ; kế hoạch bảo vệ cơ quan, tổ chức; kế hoạch phòng thủ dân sự, kế hoạch bảo đảm hậu cần, kỹ thuật tại chỗ và tham gia xây dựng kế hoạch khác có liên quan đến nhiệm vụ quốc phòng - an ninh ở cơ sở.
Giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch động viên quốc phòng về người, phương tiện kỹ thuật và cơ sở vật chất khác theo chỉ tiêu của Nhà nước; tham gia xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, quân sự tại địa phương nơi đặt trụ sở
 Tổ chức xây dựng lực lượng, huấn luyện, giáo dục pháp luật cho tự vệ; chỉ huy tự vệ thực hiện nhiệm vụ quy định tại Điều 8 của Luật Dân quân tự vệ.
Tổ chức đăng ký, quản lý, bảo quản và sử dụng vũ khí, trang bị của các đơn vị tự vệ thuộc quyền theo quy định của pháp luật.
Giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết về công tác quốc phòng, quân sự, công tác tổ chức và hoạt động của tự vệ thuộc quyền.
Hai là, Ban chỉ huy quân sự bộ, ngành trung ương
Ban chỉ huy quân sự bộ, ngành trung ương gồm Chỉ huy trưởng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu ở bộ, ngành kiêm nhiệm; Chính trị viên, Chỉ huy phó, Chính trị viên phó là cán bộ kiêm nhiệm.
Ban chỉ huy quân sự bộ, ngành trung ương có chức năng tham mưu cho đảng đoàn, ban cán sự đảng, cấp uỷ đảng, người đứng đầu bộ, ngành trung ương về công tác quốc phòng của bộ, ngành; phối hợp với cấp ủy đảng, chính quyền địa phương chỉ đạo công tác quốc phòng, quân sự địa phương và công tác tự vệ. Nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế phối hợp hoạt động của Ban chỉ huy quân sự bộ, ngành trung ương do Chính phủ quy định, cụ thể: 
Tham mưu cho đảng đoàn, ban cán sự đảng, cấp uỷ đảng, người đứng đầu bộ, ngành trung ương về công tác giáo dục quốc phòng toàn dân đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan đơn vị thuộc bộ, ngành quản lý; phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan liên quan khác tổ chức, giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng... theo quy định của pháp luật (theo Nghị định 116 của Chính phủ).
Tham mưu cho Đảng đoàn, Ban cán sự Đảng, cấp uỷ đảng, người đứng đầu bộ, ngành trung ương về kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh; thẩm định các kế hoạch, quy hoạch và dự án phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật. Thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự và các nhiệm vụ động viên quốc phòng theo quy định của pháp luật.
Tham mưu cho Đảng đoàn, Ban cán sự Đảng, cấp uỷ đảng, người đứng đầu bộ, ngành trung ương phối hợp với Bộ Quốc phòng, các bộ, ngành và địa phương có liên quan xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng cơ quan đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện, tham gia xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững chắc; phối hợp và chỉ đạo diễn tập khu vực phòng thủ thuộc lĩnh vực bộ, ngành quản lý.
Chỉ đạo các cơ quan đơn vị thuộc bộ, ngành phối hợp chặt chẽ với cơ quan quân sự địa phương thực hiện công tác tổ chức, huấn luyện, hoạt động của lực lượng tự vệ; xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên; tuyển quân; tham gia xây dựng lực lượng vũ trang địa phương; phối hợp với cơ quan quân sự địa phương chỉ đạo các đơn vị thuộc quyền tổ chức đăng ký, quản lý, bảo quản và sử dụng vũ khí, trang bị của các đơn vị tự vệ thuộc quyền đúng quy định.
Chủ trì hoặc phối hợp với quân khu, Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh (thành phố) tổ chức hội thi, hội thao, diễn tập cho lực lượng vũ trang thuộc bộ, ngành mình theo sự hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ Quốc phòng. Thực hiện công tác chính trị, công tác thi đua, khen thưởng về nhiệm vụ quân sự, giáo dục quốc phòng, an ninh, phòng thủ dân sự và công tác tự vệ.
Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc quyền phối hợp với cơ quan quân sự địa phương xây dựng kế hoạch bảo đảm hậu cần, kỹ thuật tại chỗ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, quân sự của bộ, ngành. Giúp người đứng đầu bộ, ngành trung ương phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng tổ chức kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm về công tác quốc phòng, quân sự, giáo dục quốc phòng - an ninh, phòng thủ dân sự và công tác tự vệ tại cơ quan.
- Vũ khí trang bị của tự vệ.
+ Tự vệ được trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ và phương tiện kỹ thuật.
+ Việc trang bị, chế độ đăng ký quản lý, sử dụng vũ khí công cụ hỗ trợ và phương tiện kỹ thuật của tự vệ theo quy đinh của pháp luật.
Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư số 99/2010/TT - BQP ngày 19 tháng 7 năm 2010 về trang bị, đăng ký và quản lý vũ khí, đạn, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ của lực lượng dân quân tự vệ.
+ Vũ khí trang bị cho tự vệ từ các nguồn:
Do Bộ Quốc phòng cấp, các đơn vị tự chế tạo như chông, mìn, cạm bẫy hoặc thu được của địch trong chiến tranh. Song, dù từ nguồn nào, vũ khí trang bị cũng đều là tài sản của nhà nước giao cho tự vệ quản lý. Do vậy, phải đăng ký, quản lý, bảo quản chặt chẽ; sử dụng đúng mục đích và đúng quy định.
Cơ quan quân sự có thẩm quyền phải quyết định biên chế, trang bị và cấp giấy phép sử dụng tới từng đơn vị, cá nhân.
Vũ khí, trang bị phải được quản lý tập trung tại trụ sở, nơi làm việc của ban chỉ huy quân sự cơ quan, phải lau chùi, bảo dưỡng thường xuyên và có tủ sắt cất giữ. Cơ quan quân sự các cấp tăng cường công tác kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất vũ khí, trang bị của lực lượng tự vệ.
* Giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự đối với tự vệ
- Giáo dục chính trị
+ Nhằm làm cho mỗi cán bộ, chiến sỹ tự vệ nâng cao nhận thức về nhiệm vụ cách mạng, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, không dao động trước những khó khăn của đất nước. Trên cơ sở đó phát huy tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ, bảo vệ quê hương, địa phương nơi sinh sống và đơn vị công tác.
+ Nội dung giáo dục cần tập trung tăng cường bản chất cách mạng và tính tiền phong gương mẫu của giai cấp công nhân cho cán bộ, chiến sỹ tự vệ. Trên cơ sở đó, thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, nhận rõ bản chất, âm mưu thủ đoạn của kẻ thù. Rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tự giác chấp hành các quy định của lực lượng tự vệ.
Giáo dục truyền thống dân tộc, tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa; mục tiêu lý tưởng của Đảng. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn; quán triệt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, chống diễn biến hòa bình bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; công tác quân sự của các bộ, ngành trung ương và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Một số nội dung cơ bản về Hiến pháp, một số luật như: Luật Quốc phòng, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Dân quân tự vệ.. và nội dung, phương pháp tiến hành vận động quần chúng tại cơ quan, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội.
Trong thời bình, giáo dục chính trị theo kế hoạch hàng năm và gắn với huấn luyện quân sự. Khi có nhiệm vụ đột xuất hoặc đất nước có chiến tranh, thời gian giáo dục chính trị có thể kéo dài hơn theo chương trình đã quy định. Nội dung, giáo trình, tài liệu huấn luyện do Bộ Quốc phòng quy định để phù hợp với tình hình thực tiễn. Thời gian giáo dục chính trị khoảng 15% đến 20% so với tổng số thời gian huấn luyện chung của lực lượng dân quân tự vệ.
- Huấn luyện quân sự
+ Hàng năm lực lượng tự vệ được huấn luyện theo nội dung chương trình do Bộ Quốc phòng quy định (chương trình khung). Các nội dung huấn luyện cụ thể phải phù hợp với cơ quan, đơn vị cơ sở và do chỉ huy quân sự địa phương cấp huyện (quận), tỉnh (thành phố) xác định.
+ Mục đích huấn luyện quân sự nhằm nâng cao kiến thức toàn diện về quân sự cho lực lượng tự vệ, nhưng tập trung vào nội dung kỹ thuật, chiến thuật và phòng tránh đánh trả đòn tiến công hỏa lực của đối phương. Những kiến thức đó bảo đảm cho lực tượng tự vệ trong thời bình có đủ khả năng bảo vệ cơ quan, đơn vị, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trong thời chiến, sẵn sàng đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu của chiến tranh nhân dân địa phương bảo vệ Tổ quốc.
+ Thời gian huấn luyện quân sự khoảng 80 - 85% so với tổng thời gian quy định, trong đó kỹ thuật các quân binh chủng 35%, các nội dung hậu cần, quân y khoảng 10%, cụ thể:
15 ngày đối với tự vệ năm thứ nhất.
12 ngày đối với tự vệ cơ động, tự vệ biển, tự vệ phòng không, pháo binh, công binh, trinh sát, thông tin, phòng hoá, y tế.
7 ngày đối với tự vệ tại chỗ.
60 ngày đối với tự vệ thường trực.
Sau mỗi khoá huấn luyện, lực lượng tự vệ đều phải kiểm tra và được cấp giấy chứng nhận theo phân cấp quản lý.
* Xây dựng đội ngũ cán bộ tự vệ.
- Vị trí vai trò của đội ngũ cán bộ tự vệ
Bác Hồ đã chỉ rõ: Cán bộ là cái gốc của công việc; muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu, bồi dưỡng cán bộ là công việc gốc của Đảng. Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ tự vệ là góp phần thực hiện công việc gốc của Đ ảng. Đội ngũ cán bộ tự vệ có vị trí hết sức quan trọng, là người trực tiếp tổ chức, quản lý, điều hành mọi hoạt động và chỉ huy lực lượng tự vệ chiến đấu, phục vụ chiến đấu; giữ vững an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ quan. Xây dựng đội ngũ cán bộ tự vệ có đủ phẩm chất, năng lực, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ quốc phòng, quân sự là góp phần quan trong thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay.
- Nội dung yêu cầu
Hàng năm đội ngũ cán bộ trong lực lượng tự vệ được đào tạo bồi dưỡng chính trị, quân sự, chuyên môn kỹ thuật, pháp luật theo chương trình dài hạn, ngắn hạn để nâng cao trình độ kiến thức về mọi mặt.
- Đối tượng bồi dưỡng và tập huấn: theo Điều 27, 28 Nghị định số 58/2010/NĐ-CP quy định về mục tiêu, yêu cầu bồi dưỡng tập huấn và theo Thông tư 85/2010/BQP hướng dẫn thực hiện.
Cán bộ chuyên trách công tác quốc phòng, quân sự ở cơ quan, doanh nghiệp kinh tế nhà nước được tập huấn theo chương trình quy định tại trường quân sự cấp tỉnh, thời gian 10 ngày.
Cán bộ chỉ huy từ cấp trung đội đến cấp tiểu đoàn tự vệ bộ binh, cán bộ tiểu đội, trung đội binh chủng, cán bộ kiêm nhiệm công tác quốc phòng, quân sự ở cơ quan, tổ chức được tập huấn theo chương trình quy định tại cơ quan quân sự cấp huyện, thời gian 7 ngày. Sau khi hoàn thành chương trình huấn luyện được kiểm tra cấp giấy chứng nhận.
*  Tổ chức lãnh đạo, chỉ huy của dân quân tự vệ.
- Thực hiện nguyên tắc: “Dân quân tự vệ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý điều hành của Chính phủ mà trực tiếp là sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp; sự chỉ huy thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ huy trực tiếp của chỉ huy trưởng cơ quan quân sự địa phương[1]. Nghĩa là, ở từng đơn vị cơ sở, tổ chức hoạt động của lực lượng tự vệ phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng, sự quản lý nhà nước và điều hành của chính quyền các cấp, sự chỉ huy của ban chỉ huy quân sự cơ sở và cơ quan quân sự cấp trên. Nguyên tắc này bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi của Đảng đối với lực lượng vũ trang nói chung, của lực lượng tự vệ nói riêng. Lịch sử hơn 60 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành của lực lượng dân quân tự vệ đã minh chứng điều đó. Trong tình hình hiện nay, sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là cấp ủy đảng cơ sở và sự điều hành của thủ trưởng đơn vị các cấp có lực lượng tự vệ cần được tăng cường hơn nữa.
* Chế độ chính sách đối với tự vệ
Tự vệ là lực lượng không thoát ly sản xuất, hoạt động tại chỗ là chủ yếu, việc chăm lo tinh thần, vật chất, do các tổ chức, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị thuộc các ngành Nhà nước đảm nhiệm là chủ yếu. Nhưng để bảo đảm quyền lợi tối thiểu, Nhà nước có một số chế độ chính sách đối với tự vệ như: Chế độ phụ cấp trách nhiệm quản lý đơn vị của cán bộ, chỉ huy tự vệ do Chính phủ qui định. Khi làm việc xa nơi cư trú, không có điều kiện đi, về hàng ngày thì được bố trí nơi nghỉ, hỗ trợ phương tiện, chi phí đi lại hoặc thanh toán tiền tầu xe một lần đi, về Cán bộ, chiến sỹ tự vệ trong thời gian thực hiện nhiệm vụ theo mệnh lệnh của cấp có thẩm quyền được hưởng trợ cấp bằng ngày công lao động theo mức lương hiện hành do cơ quan quy định.
Cán bộ, chiến sĩ tự vệ nòng cốt được miễn nghĩa vụ lao động công ích hàng năm. Trong khi huấn luyện, cán bộ, chiến sĩ tự vệ chưa tham gia bảo hiểm y tế nếu bị ốm đau, tai nạn hoặc bị chết thì được hưởng các tiêu chuẩn như người tham gia đóng bảo hiểm xã hội
e) Một số biện pháp xây dựng tự vệ trong giai đoạn hiện nay
- Thường xuyên giáo dục, quán triệt sâu rộng các quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác tự vệ.
Xuất phát vị trí, vai trò của lực lượng tự vệ trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân bảo vệ Tổ quốc và nhận thức của tự vệ về nhiệm vụ cách mạng. Từ thực tiễn tổ chức, hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ nói chung và lực lượng tự vệ tại các cơ quan hành chính, các tổ chức chính trị, các doanh nghiệp và nhiệm vụ bảo vệ cơ quan, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay. Từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù, đặc biệt là tự diễn biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân; sự mơ hồ, mất cảnh giác của một bộ phận tự vệ khi làm nhiệm vụ trong thời gian vừa qua. Do đó, đòi hỏi phải làm tốt hơn nữa công tác giáo dục về mọi mặt, làm chuyển biến một cách căn bản về nhận thức cho lực lượng tự vệ trong tình hình hiện nay.
Phải thường xuyên giáo dục quán triệt sâu sắc hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi công dân đối với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh. Giáo dục lòng yêu quê hương, Tổ quốc, yêu mến cơ quan, đơn vị công tác của mình. Giáo dục về âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù để mỗi cán bộ, chiến sỹ tự vệ luôn cảnh giác và đề cao trách nhiệm trong công việc để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Tổ chức cho lực lượng tự vệ học tập để nắm chắc Luật Dân quân tự vệ; làm cho mỗi cán bộ, chiến sỹ tự vệ nắm chắc các nhiệm vụ (6 nhiệm vụ) để vận dụng vào công tác một cách hiệu quả, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại địa bàn đóng quân.
Tổ chức học tập các Nghị định, thông tư về thi hành Luật Dân quân tự vệ cho các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân, để mọi người, mọi tổ chức nhận thức đúng về công tác xây dựng lực lượng tự vệ. Đó là cơ sở để huy động sức mạnh của toàn dân, của cả hệ thống chính trị tham gia xây dựng tự vệ, làm cho công tác tự vệ trở thành việc làm thường xuyên của dân, do dân, vì dân.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của cơ quan và các lực lượng trên địa bàn địa phương trong xây dựng lực lượng tự vệ.
Xây dựng lực lượng tự vệ là trách nhiệm chung của các cấp, các ngành và của toàn dân, nhưng trước hết là trách nhiệm chính trị của cấp ủy đảng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức kinh tế của bộ, ngành trung ương và các địa phương, tỉnh (thành phố), huyện (quận). Do đó, cấp ủy và thủ trưởng đơn vị phải có nghị quyết lãnh đạo và kế hoạch cụ thể để thực hiện nghị quyết đó, bảo đảm cho đơn vị tự vệ vững mạnh về mọi mặt.
Xây dựng lực lượng tự vệ phải được kết hợp với các hoạt động phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh tại cơ quan và địa phương. Đồng thời, thông qua hoạt động thực tiễn để phát hiện các ưu điểm, khuyết điểm, kịp thời rút kinh nghiệm, từ đó nâng cao chất lượng mọi mặt của các đơn vị tự vệ. Mặt khác, có tác dụng kiểm tra và đôn đốc trách nhiệm của các cấp, các ngành ở địa phương đối với xây dựng tự vệ, đồng thời khắc phục những khuynh hướng đùn đẩy, khoán trắng cho Ban chỉ huy quân sự trong xây dựng lực lượng tự vệ tại cơ quan, đơn vị của một số cán bộ.
Phát huy sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và hoạt động của tự vệ. Kết hợp lực lượng tự vệ với các thành phần lực lượng khác nhất là lực lượng an ninh chuyên trách, trong xây dựng lực lượng quốc phòng - an ninh, tiềm lực quốc phòng, an ninh và thế trận quốc phòng, an ninh trên địa bàn. Không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động, chiến đấu và công tác của tự vệ.
- Xây dựng lực lượng tự vệ gắn với xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện
Xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện là xây dựng cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị Nội dung vững mạnh toàn diện được thể hiện trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, trong đó có một nội dung quan trọng là xây dựng về quốc phòng, an ninh.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nội dung quốc phòng làm tốt sẽ bảo đảm sự ổn định ở cơ sở, tạo điều kiện cho cán bộ công chức, các nhân viên và những người lao động khác thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, góp phần xây dựng các tổ chức Đ ảng, chính quyền cơ quan, cơ sở vững mạnh toàn diện.
Cơ sở vững mạnh toàn diện là môi trường xã hội có tính quyết định đến xây dựng lực lượng tự vệ vững mạnh; là hậu phương trực tiếp vững chắc của lực lượng tự vệ chiến đấu ở cơ sở, bảo đảm cho lực lượng tự vệ luôn sẵn sàng hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
-  Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước đối với lực lượng tự vệ.
Chế độ chính sách có ý nghĩa rất lớn, thể hiện sự quan tâm chăm sóc của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với lực lượng tự vệ. Do đó, cần phối hợp các ban, ngành, tổ chức hướng dẫn, thực hiện tốt chế độ, chính sách, chế độ khen thưởng, ngân sách bảo đảm trong tổ chức huấn luyện, hoạt động của lực lượng tự vệ đã được Luật Dân quân tự vệ, Nghị định 58/2010/NĐ-CP và Nghị định số 184/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ quy định. 
2. Hoạt động của lực lượng tự vệ
a) Lập, phê chuẩn kế hoạch hoạt động
Lực lượng tự vệ là một trong các thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân, được tổ chức rộng rãi trên phạm vi toàn quốc. Lực lượng tự vệ có nghĩa vụ xây dựng đất nước và tham gia bảo vệ Tổ quốc. Do đó, hoạt động của tự vệ được thể hiện cả trong thời bình và thời chiến trên nhiều lĩnh vực. Để lực lượng tự vệ hoạt động có hiệu quả, không bị chồng chéo, không ảnh hưởng đến nhiệm vụ thường xuyên của từng lĩnh vực chuyên môn, ban chỉ huy quân sự của cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp doanh nghiệp phải lập kế hoạch hoạt động từng năm.
Ban chỉ huy quân sự cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp lập kế hoạch theo sự chỉ đạo của thủ trưởng đơn vị và trình Chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự cấp trên trực tiếp phê chuẩn.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định nội dung, trình tự lập và phê chuẩn kế hoạch hoạt động của lực lượng tự vệ
b) Hoạt động của lực lượng tự vệ
Xuất phát từ nhiệm vụ của lực lượng dân quân tự vệ, do đó hoạt động của lực lượng tự vệ ở cơ quan được thể hiện trong các lĩnh vực như sau:
- Hoạt động sẵn sàng chiến đấu
Đ ây là hoạt động thường xuyên của các lực lượng vũ trang nói chung và của lực lượng tự vệ nói riêng. Hoạt động sẵn sàng chiến đấu của lực lượng tự vệ được thể hiện ở nội dung học tập chính trị, quân sự, làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ tự vệ có nhận thức đầy đủ về nhiệm vụ được giao. Sẵn sàng chiến đấu thể hiện trong tư tưởng, tác phong, tâm thế trong khi làm nhiệm vụ. Mặt khác, thường xuyên luyện tập các phương án sẵn sàng chiến đấu tại chỗ và sẵn sàng cơ động khi nhận nhiệm vụ được giao. Hoạt động sẵn sàng chiến đấu được thể hiện ở mọi lực lượng, nhất là lực lượng tự vệ nòng cốt với tinh thần là có lệnh là lên đường nhận nhiệm vụ hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
- Hoạt động chiến đấu của lực lượng tự vệ
Trong trường hợp đất nước ở trạng thái khẩn cấp về quốc phòng, an ninh hoặc bạo loạn lật đổ diễn ra ở một vùng (một số vùng) cần phải sử dụng lực lượng tự vệ phối hợp với các lực lượng khác tham gia chiến đấu để bảo vệ các mục tiêu (đánh chiếm các mục tiêu đã mất). Hoạt động chiến đấu của lực lượng tự vệ phải được tổ chức chặt chẽ, chỉ huy thống nhất của cấp có thẩm quyền (quy định của Bộ Quốc phòng) theo những phương án đã xác định.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, lực lượng tự vệ nhanh chóng bàn giao mục tiêu cho cơ quan, chính quyền địa phương (doanh nghiệp, đơn vị hành chính) ổn định tổ chức và sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới theo yêu cầu.
Đối với các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp gần với nơi diễn ra bạo loạn lật đổ hoặc xung đột vũ trang phải triển khai lực lượng theo phương án đã chuẩn bị để bảo vệ vững chắc cơ quan của mình trong phạm vi đảm nhiệm. Mỗi cán bộ chiến sỹ tự vệ phải đề cao cảnh giác, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của cấp có thẩm quyền giữ vững trận địa, không được rời khỏi cơ quan, công sở, nghiêm cấm mọi hành động tự phát, quá khích và sẵn sàng nhận nhiệm theo yêu cầu của cấp trên  
- Hoạt động bảo vệ biên giới, biển, đảo
Mặc dù đất nước ta đang ở trạng thái hòa bình, không phải đối mặt với một cuộc chiến tranh xâm lược bằng sức mạnh quân sự, nhưng nguy cơ về xung đột vũ trang vẫn có thể diễn ra ở biên giới, biển, đảo. Trong tình hình hiện nay, vấn đề tranh chấp tài nguyên trên nhiều vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam vẫn hàng ngày diễn ra. Mặc dù Nhà nước ta luôn có chủ trương giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, nhưng các lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng tự vệ nói riêng phải luôn đề cao hoạt động sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu khi có lệnh.
Hoạt động bảo vệ biên giới, biển, đảo của lực lượng tự vệ được thể hiện trong quá trình sản xuất đánh bắt thủy, hải sản trên biển kết hợp với bảo vệ chủ quyền; của lực lượng tự vệ ở các công trường, nông trường, lâm trường, xí nghiệp ở vùng biên giớiHoạt động bảo vệ biên giới, biển, đảo của lực lượng tự vệ phải nắm vững nguyên tắc chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia là bất khả xâm phạm. Hoạt động của lực lượng tự vệ phải thể hiện được tinh thần cảnh giác, kiên quyết, khôn khéo trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo và không mắc mưu khiêu khích của đối phương, không làm phương hại đến lợi ích quốc gia dân tộc, góp phần giữ vững môi trường hòa bình của đất nước để phát triển kinh tế.
Hoạt động bảo vệ biên giới, biển, đảo của lực lượng tự vệ phải phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an, các lực lượng khác trên địa bàn duy trì an ninh, trật tự, quản lý bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, kiểm soát xuất, nhập cảnh ở các cửa khẩu biên giới, cảng biển; quản lý vùng trời theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý người, phương tiện xuất, nhập cảnh trái phép qua biên giới, đường biển và vi phạm vùng trời Việt Nam. 
- Hoạt động bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội
Bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội là trách nhiệm của mọi công dân Việt Nam, trong đó tự vệ là một trong những lực lượng được điều động để phối hợp với lực lượng công an thực hiện nhiệm vụ.
Trong trường hợp ở khu vực địa bàn nơi cơ quan (tổ chức chính trị, xã hội, doanh nghiệp) đứng chân có diễn biến phức tạp về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, lực lượng tự vệ được điều động theo lệnh của cấp có thẩm quyền để làm nhiệm vụ. Lực lượng tự vệ phải nắm vững nhiệm vụ được giao, tổ chức chặt chẽ, phối hợp với lực lượng công an và các lực lượng khác tham gia tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân thực hiện đúng pháp luật; tham gia bảo vệ các trụ sở các cơ quan Đảng, chính quyền, các mục tiêu quan trọng theo phương án, kế hoạch chung đã được chuẩn bị. Trong hoạt động của lực lượng tự vệ phải đúng luật, nghiêm cấm những hành vi, hành động trái với pháp luật làm phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc và uy tín của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
- Vận động nhân dân và tham gia xây dựng cơ sở
Lực lượng tự vệ là những người được lựa chọn về phẩm chất đạo đức, năng lực và sức khỏe, do đó phải tích cực, chủ động phối hợp với lực lượng công an cùng cấp, các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tiến hành vận động quần chúng tham gia phong trào xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân. Tích cực tuyên truyền, giáo dục quốc phòng - an ninh, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng cho cán bộ, công chức, người lao động và nhân dân, góp phần xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh, tiềm lực, thế trận quốc phòng - an ninh.
Bằng những việc làm cụ thể, thiết thực cùng các cơ quan, tổ chức xã hội và công dân làm tròn nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, thông qua hoạt động cụ thể của lực lượng tự vệ góp phần củng cố hệ thống chính trị cơ sở, xây dựng xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị an toàn về mọi mặt. Phòng chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác, tích cực phát hiện và đấu tranh chống các âm mưu, hoạt động diễn biến hòa bình, phá hoại, gây rối, bạo loạn, khủng bố của địch, nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và độc lập, thống nhất chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Hoạt động phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu nạn, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, bảo vệ môi trường
Phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu nạn, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, bảo vệ môi trường là một nội dung của phòng thủ dân sự nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản của cá nhân và quốc gia. Do đó, trách nhiệm của mọi công dân phải tham gia, trong đó tự vệ là một trong những lực lượng nòng cốt. Mỗi cán bộ, chiến sỹ lực lượng tự vệ cần phát huy tinh thần xung kích để thực hiện tốt các nội dung phòng, chống và biện pháp khắc phục quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu nạn, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, bảo vệ môi trường theo quy định tại Nghị định số 117/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ về phòng thủ dân sự.
II. XÂY DỰNG, HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN Ở CƠ QUAN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM TRONG TÌNH HÌNH MỚI
1. Xây dựng lực lượng dự bị động viên ở cơ quan
a) Một số vấn đề chung
- Khái niệm: Lực lượng dự bị động viên gồm quân nhân dự bị và phương tiện kĩ thuật đã xếp trong kế hoạch bổ sung cho lực lượng thường trực của quân đội nhằm duy trì tiềm lực quân sự, là yếu tố góp phần quyết định sự thắng lợi trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Lực lượng dự bị động viên gồm 2 thành phần: Quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật đã được xếp trong kế hoạch bổ sung cho lực lượng thường trực của quân đội chứ không phải toàn bộ quân nhân dự bị (dự bị 1 và dự bị 2) và phương tiện của nền kinh tế quốc dân được quy định trong Nghị định số 168/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 1999 đã được đăng ký ở các địa phương hoặc cơ quan.
Quân nhân dự bị gồm sĩ quan dự bị, quân nhân chuyên nghiệp dự bị và hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị. Phư­ơng tiện kĩ thuật gồm phương tiện vận tải, làm đường, xếp dỡ, thông tin liên lạc, y tế và một số phương tiện khác. Danh mục phương tiện kĩ thuật do Chính phủ quy định tại Nghị định số 168/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 1999. Quân nhân dự bị, phư­ơng tiện kĩ thuật trong kế hoạch biên chế cho lực lượng th­ường trực của quân đội, thông qua các đơn vị dự bị động viên. Trong thời bình, lực l­ượng dự bị động viên đ ­ược đăng kí, quản lí, huấn luyện theo chương trình quy định và sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
- Vị trí công tác xây dựng lực l­ượng dự bị động viên
Công tác xây dựng lực l­ượng dự bị động viên giữ vị trí rất quan trọng trong chiến lư ­ợc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Là một trong những nhiệm vụ cơ bản nhất góp phần xây dựng tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, bảo đảm nguồn nhân lực bổ sung, mở rộng lực lượng quân đội khi chuyển đất nước sang trạng thái chiến tranh. Do vậy, công tác xây dựng lực lượng dự bị động viên giữ vị trí quan trọng đặc biệt trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc, trong chuẩn bị lực lượng vũ trang, chuẩn bị địa phương sẵn sàng chống xâm lược, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 
Lực lư ­ợng dự bị động viên phối hợp chặt chẽ với tự vệ, công an và các lực lượng khác làm tăng thêm sức mạnh chiến đấu tại cơ quan và trên các địa bàn trong khu vực phòng thủ, bảo đảm sự vững chắc của thế trận quốc phòng ở địa phương, cơ sở.
Xây dựng lực lư­ợng dự bị động viên hùng hậu là biểu hiện quán triệt quan điểm về sự kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến l­ược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế với nhiệm vụ xây dựng và củng cố quốc phòng, quốc phòng với kinh tế.
Lực l­ượng dự bị động viên đ ­ược xây dựng tại cơ quan, đơn vị để bổ sung cho lực lượng thường trực của quân đội. Đó cũng là lực lượng trực tiếp công tác trong tổ chức chính trị, xã hội; trực tiếp tham gia lao động sản xuất tại các thành phần kinh tế. Lực l­ượng dự bị động viên đư­ợc xây dựng tốt sẽ làm nòng cốt cho cả xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và cả trong thực hiện chiến lược quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Khi chiến tranh xảy ra, công tác huy động lực lượng dự bị động viên khi có lệnh sẽ bảo đảm nguồn bổ sung nhanh chóng cho các đơn vị quân đội nhằm tạo sức mạnh quân sự cần thiết đối phó với quân địch trong thời kỳ đầu và trong suốt quá trình chiến tranh.
- Nguyên tắc xây dựng và huy động lực lư ­ợng dự bị động viên
+ Xây dựng, huy động lực l­ượng dự bị động viên đặt d­ưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của cấp ủy đảng ở bộ, ngành và địa ph­ương.
Đây là nguyên tắc cơ bản nhằm bảo đảm cho lực l­ượng dự bị động viên luôn có nội dung, ph­ương hư ­ớng, mục tiêu xây dựng đúng đắn, nhằm bảo đảm sức mạnh của quân đội đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quân đội ta là công cụ của Đảng và Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chính quyền, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Do vậy, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội nói chung với công tác xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên là một nguyên tắc không bao giờ thay đổi.
Sự lãnh đạo của cấp ủy đảng ở bộ, ngành, địa ph­ương được thể hiện trên tất cả các khâu, các bước trong xây dựng, huy động lực lượng dự bị động viên, từ chuẩn bị đến thực hành động viên. Trong lãnh đạo phải đặc biệt chú ý đến vai trò của cấp ủy cơ sở. Sự lãnh đạo đó không những được thể hiện bằng nghị quyết, mà còn được cụ thể hóa bằng chỉ thị, các biện pháp thông qua hoạt động tổ chức, chỉ đạo, tuyên truyền, vận động, kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết của Đảng cũng như pháp luật của Nhà nước đối với tổ chức, cán bộ, chiến sĩ dự bị động viên.
+ Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị ở bộ, ngành, địa phương trong xây dựng, huy động lực lượng dự bị động viên.
Sức mạnh quốc phòng Việt Nam là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố tạo thành, được xây dựng toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ và quốc phòng - an ninh. Nhiệm vụ xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Do vậy, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị ở bộ, ngành, địa phương trong xây dựng, huy động lực lượng dự bị động viên là nội dung quan trong của nền quốc phòng toàn dân, một nguyên tắc trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong tình hình hiện nay, xu hướng xây dựng lực lượng vũ trang của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam là từng bước giảm dần lực lượng thường trực (chỉ duy trì số quân thường trực hợp lý theo đường lối quốc phòng của từng nước), tăng cường lực lượng dự bị để giảm gánh nặng về ngân sách quốc phòng. Do vậy, xây dựng lực l­ượng dự bị động viên là nhiệm vụ chính trị thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, về mọi mặt và đ ­ược thể chế hoá bằng các văn bản pháp luật của cơ quan lập pháp. Chính phủ, chính quyền địa phư ­ơng các cấp điều hành. Các đơn vị quân đội, cơ quan quân sự với các cơ quan trong hệ thống chính quyền, các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội... hiệp đồng thực hiện và sự chăm lo xây dựng của toàn xã hội.
+ Xây dựng lực l­ượng dự bị động viên hùng hậu bảo đảm đủ về số lượng, chất lượng cao, xây dựng toàn diện như ­ng có trọng tâm, trọng điểm.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống 1. Như vậy, cùng với xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, xây dựng lực l­ượng dự bị động viên ở n­ước ta hiện nay là một vấn đề hệ trọng, liên quan đến vận mệnh của quốc gia, đặc biệt khi phải đối phó với chiến tranh xâm lược dưới các quy mô.
Lực lượng dự bị động viên cần huy động bổ sung cho quân đội đáp ứng yêu cầu chiến tranh bảo vệ Tổ quốc lớn hơn nhiều lần so với lực lượng thường trực được duy trì trong thời bình. Số lượng lớn thể hiện ở quy mô, số lượng dự bị động viên, tổng quân số, tổng số phương tiện kỹ thuật được tổ chức xây dựng và chuẩn bị sẵn sàng huy động bổ sung cho các đơn vị quân đội. Khi thực hành động viên mà không đủ số lượng theo kế hoạch sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị quân đội. Do đó, các cơ quan bộ, ngành, đơn vị cơ sở được giao chỉ tiêu, nhiệm vụ xây dựng, huy động lực lượng dự bị động viên phải phấn đấu để hoàn thành tốt chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao.
Trong xây dựng lực lượng dự bị động viên, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề chất lượng. Chất lượng lực lượng dự bị động viên được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị tinh thần, tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, trình độ kỹ thuật, chiến thuật, nghiệp vụ chuyên môn, vũ khí trang bị, khả năng bảo đảm hậu cần, kỹ thuật Để mỗi cán bộ, chiến sĩ dự bị động viên thực sự tinh binh, tinh cán trước hết phải tập trung xây dựng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; tập trung giáo dục truyền thống, lòng yêu nước, quê hương, làng xóm; rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật và tình cảm đồng đội. Những con người có lòng trung thành và bản lĩnh như vậy, khi được tập hợp lại chắc chắn sẽ là những đơn vị mạnh toàn diện.
 
Đồng thời với xây dựng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, mỗi cán bộ, chiến sỹ dự bị động viên phải được huấn luyện để không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt như: trình độ kỹ thuật, chiến thuật, kỹ năng chiến đấu, chuyên môn nghiệp vụ, lãnh đạo, chỉ huy, quản lý Do đó, ngay từ thời bình, phải xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu theo kế hoạch đã xác định mới có khả năng giành thắng lợi khi có lệnh động viên.
b) Nội dung xây dựng lực lượng dự bị động viên
Cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế thực hiện hướng dẫn của ban chỉ huy quân sự xây dựng, quản lý, bồi dưỡng nguồn cho cấp trên; phối hợp với địa phương tổ chức hình thành các đơn vị dự bị động viên và chuyển giao cho các đơn vị chủ lực, theo nhiệm vụ. Do đó, cán bộ của ban chỉ huy quân sự cần nắm chắc nội dung xây dựng để chủ động trong công tác, góp phần xây dựng lực lượng dự bị động viên ở cơ quan đáp ứng yêu cầu hiện nay.
- Tạo nguồn, đăng kí, quản lí lực l­ượng dự bị động viên 
+ Tạo nguồn: Nguồn động viên bao gồm quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân và từng địa phương. Đây là yếu tố quan trọng để tổ chức các đơn vị dự bị động viên, trong đó quân nhân dự bị có vị trí quan trọng nhất. Có thể khẳng định không có quân nhân dự bị thì không có đơn vị dự bị động viên.
Biện pháp tạo nguồn là: Đào tạo, huấn luyện trước khi xuất ngũ; huấn luyện chuyển loại chuyên môn kỹ thuật; huấn luyện chuyển loại chuyên nghiệp quân sự; huấn luyện dự bị hạng 2 thành dự bị hạng 1. Ngoài ra phải làm tốt việc quy hoạch khu vực động viên, kết hợp với tuyển quân để góp phần tạo nguồn và nâng cao chất lượng nguồn động viên. 
+ Đăng kí, quản lí nguồn: Quân nhân dự bị, phương tiện kỹ thuật là những thành tố cơ bản để tổ chức đơn vị dự bị động viên, là cơ sở để lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên. Việc đăng kí, quản lí lực l­ượng dự bị động viên  phải có kế hoạch thường xuyên, chặt chẽ và chính xác, đăng kí quản lí cả con người và phương tiện kĩ thuật.
Đối với quân nhân dự bị đ ­ược tiến hành đăng kí, quản lí tại nơi công tác (cơ quan) do Ban chỉ huy quân sự thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Quốc phòng và phối hợp với cơ quan quân sự cấp huyện (quận), tỉnh (thành phố). Đăng ký, quản lý phải chính xác theo từng chuyên nghiệp quân sự, từng độ tuổi, loại sức khỏe, hoàn cảnh gia đình, trình độ văn hóa, nhận thức về chính trị, trình độ hiểu biết về quân sự, trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ... Chế độ, đối tượng, trình tự và thủ tục đăng ký, quản lý quân nhân dự bị thực hiện theo Nghị định số 83/2001/NĐ-CP ngày 9 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ và Hướng dẫn số 308/G6- ĐV ngày 9 tháng 5 năm 2005 của Cục Quân lực tại Hội nghị tập huấn nhiệm vụ công tác động viên năm 2005. 
Đối với phương tiện kỹ thuật: Có hai hình thức đăng ký phương tiện kỹ thuật là trực tiếp và gián tiếp. Phải đăng kí, quản lí chính xác thư ­ờng xuyên cả số lư ­ợng, chất lư­ợng, tình trạng kĩ thuật của từng phư ­ơng tiện, nghiên cứu phân loại từng phương tiện kỹ thuật để xếp vào kế hoạch; đồng thời phải luôn theo dõi những thay đổi của từng phương tiện kỹ thuật để kịp thời bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp. Chế độ đăng ký, quản lý phương tiện kỹ thuật thực hiện theo Nghị định số 168/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 11 năm 1999 quy định danh mục và chế độ, thủ tục đăng ký, quản lý phương tiện kỹ thuật thuộc diện huy động bổ sung cho lực lượng thường trực của quân đội.
-  Tổ chức biên chế đơn vị dự bị động viên
+ Khái niệm: Đơn vị dự bị động viên là tổ chức quân sự được biên chế chủ yếu hoặc hoàn toàn là quân nhân dự bị và một số phương tiện kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân, nhằm duy trì tiềm lực quân sự trong thời bình và để bổ sung cho lực lượng thường trực trong thời chiến, là yếu tố góp phần quyết định giành thắng lợi trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
+ Các loại đơn vị dự bị động viên: Tổ chức, biên chế lực lư ­ợng dự bị động viên là tổ chức sắp xếp quân nhân dự bị, ph­ương tiện kĩ thuật thành từng đơn vị dự bị động viên theo kế hoạch gồm các loại hình:
Đơn vị biên chế thiếu (TH).
Đơn vị biên chế khung thư­ờng trực (KTT).
Đơn vị không biên chế khung thường trực (KKTT).
Đơn vị chuyên môn cho thời chiến (CM).
Đơn vị xây dựng mới (XDM)
+ Nguyên tắc sắp xếp biên chế đơn vị dự bị động viên
Đối với quân nhân dự bị: Xếp người có trình độ chuyên nghiệp quân sự, chuyên môn kỹ thuật phù hợp với chức danh biên chế, nếu thiếu thì sắp xếp người có trình độ chuyên nghiệp quân sự, chuyên môn kỹ thuật tương ứng. Sắp xếp quân nhân dự bị hạng 1 trước, nếu thiếu thì sắp xếp quân nhân dự bị hạng 2. Sắp xếp những quân nhân dự bị có nơi cư trú gần nhau hoặc trong cùng cơ quan vào từng đơn vị.
Đối với phương tiện kỹ thuật: Phương tiện kỹ thuật được xếp vào các đơn vị dự bị động viên phải có tính năng tác dụng và tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với yêu cầu sử dụng trong biên chế của từng đơn vị quân đội; trường hợp không có phương tiện kỹ thuật đáp ứng yêu cầu sử dụng thì được sắp xếp phương tiện kỹ thuật tương ứng.
-  Huấn luyện diễn tập, kiểm tra đơn vị dự bị động viên
+ Giáo dục chính trị
Giáo dục chính trị là nhiệm vụ hàng đầu trong xây dựng lực l­ượng dự bị động viên. Nội dung giáo dục cần tập trung vào đ­ường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nư ­ớc, quan điểm quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, xây dựng lực l­ượng dự bị động viên, âm mưu thủ đoạn của kẻ thù đối với cách mạng, truyền thống đánh giặc giữ n­ước của dân tộc ta và những tấm gương của cán bộ, chiến sĩ ở cơ quan.
Nội dung giáo dục chính trị phải đạt được mục tiêu là làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ dự bị động viên ở từng cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội thấy được vị trí chiến lược, tầm quan trong của xây dựng lực lượng dự bị động viên trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từ đó, xác định rõ trách nhiệm chính trị của bản thân trong thực hiện nhiệm vụ của người cán bộ, chiến sĩ dự bị động viên, khắc phục mọi khó khăn trong công việc của cơ quan, doanh nghiệp hoặc gia đình để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
+ Công tác huấn luyện các nội dung khác
Các nội dung huấn luyện khác phải theo phư­ơng châm Chất l­ượng, thiết thực, hiệu quả, tập trung, có trọng tâm, trọng điểm. Nội dung huấn luyện gồm kĩ thuật bộ binh, binh chủng; chiến thuật từng ngư ­ời đến cấp đại đội, công tác hậu cần, băng bó cứu th­ương và hoạt động chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ. Có thể huấn luyện tập trung tại các đơn vị dự bị động viên hoặc phân tán tại các địa phư­ơng, cơ sở. Cần vận dụng sáng tạo, linh hoạt những phư­ơng pháp huấn luyện thích hợp sát đối tư ­ợng, sát thực tế.
Các cơ quan, đơn vị thuộc bộ, ngành trung ương đến cơ sở cần phải nắm chắc lực lượng dự bị động viên trong phạm vi quản lý. Hiệp đồng chặt chẽ với cơ quan quân sự và các đơn vị quân đội để nắm chắc về thời gian, địa điểm tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra hàng năm. Có kế hoạch, biện pháp tuyên truyền, động viên, đôn đốc và tạo điều kiện cho quân nhân dự bị thực hiện đúng kế hoạch của cấp trên. Theo chức năng, quyền hạn của mình, từng cơ quan, đơn vị cơ sở cần thực hiện đúng chế độ, chính sách đối với quân nhân dự bị và gia đình của họ trong thời gian quân nhân dự bị tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu.
Cơ quan quân sự và các cơ quan chức năng có trách nhiệm giúp cấp ủy đảng, người chỉ huy kiểm tra những nội dung thuộc phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình và kiểm tra những nội dung khác được ủy quyền trong xây dựng lực lượng dự bị động viên đối với cá nhân, tập thể thuộc quyền kiểm tra của lãnh đạo và chỉ huy cấp mình. Ngoài ra, cơ quan quân sự các đơn vị cơ sở cần phối hợp với cơ quan quân sự địa phương, đơn vị quân đội kiểm tra một số nội dung cần thiết theo kế hoạch.
-  Thực hiện công tác đảng, công tác chính trị
+ Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng dự bị động viên tại cơ quan, đơn vị cơ sở.
Đối với cấp ủy đảng, chính quyền ở các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị cần quán triệt nắm vững mục tiêu nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong từng thời kỳ cách mạng và tư duy mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và những kiến thức cơ bản về công tác động viên quân đội để nâng cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của cấp ủy, chính quyền.
Đối với cán bộ, nhân viên trong cơ quan, doanh nghiệp thông qua hoạt động chính trị của các tổ chức đoàn thể như đoàn thanh niên, tổ chức công đoàn, hội phụ nữ để tuyên truyền, giáo dục về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh. Bằng những hình thức biện pháp sáng tạo, giáo dục cho cán bộ, nhân viên, người lao động lòng yêu nước, yêu quê hương, truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong tình hình hiện nay.
+ Phối hợp hiệp đồng giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ quan, đơn vị cơ sở và đơn vị quân đội, nâng cao chất lượng chính trị cho lực lượng dự bị động viên.
Đây là vấn đề quan trọng bảo đảm cho lực lượng dự bị động viên luôn sẵn sàng về tư tưởng, tổ chức để thực hành huấn luyện, diễn tập và sẵn sàng nhận nhiệm vụ trong mọi điều kiện. Cần duy trì chặt chẽ chế độ học tập chính trị cho quân nhân dự bị, thường xuyên nắm vững tư tưởng, hoàn cảnh gia đình để có biện pháp chủ động giải quyết những khó khăn cho quân nhân dự bị. Chú trọng công tác phát triển Đảng, phát triển đoàn cho quân nhân dự bị, bảo đảm tỷ lệ lãnh đạo cần thiết trong đơn vị và giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện đảng viên là quân nhân dự bị.
+ Phát huy hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng, huấn luyện, diễn tập lực lượng dự bị động viên.
Đối với cấp ủy đảng, chính quyền ở các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị cần đề cao tinh thần trách nhiệm, chủ động khắc phục khó khăn, chỉ đạo, điều hành linh hoạt sáng tạo trong mọi điều kiện hoàn cảnh để thực hiện tốt các nội dung công việc. Trong xây dựng, huấn luyện, diễn tập phải quán triệt và chấp hành nghiêm chỉnh Nghị quyết của cấp ủy đảng, mệnh lệnh của người chỉ huy, chỉ thị hướng dẫn của cơ quan chính trị cấp trên.
+ Xây dựng đội ngũ sĩ quan dự bị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Phải luôn coi trọng công tác bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ sỹ quan dự bị, làm cho đội ngũ sỹ quan luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Có năng lực tổ chức chỉ huy giỏi, biết cụ thể hóa đường lối, chủ trương chính sách của Đảng vào cương vị chức trách và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Đồng thời với công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, cần phải thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chính sách hậu phương quân đội và các chế độ đãi ngộ với quân nhân dự bị.
- Bảo đảm hậu cần, kĩ thuật, tài chính cho lực lượng dự bị động viên
+ Nội dung bảo đảm bao gồm:
Bảo đảm hậu cần (quân lương, quân y, quân trang, vận tải, xăng dầu)
Bảo đảm kỹ thuật (vũ khí, xe máy, sửa chữa, trang bị khác...)
Bảo đảm tài chính, ngân sách
+ Hình thức bảo đảm:
Dự trữ bằng vật chất ở các cấp (dự trữ quốc gia, dự trữ của địa phương)
Niêm cất trong các kho quân đội
Chuẩn bị huy động từ nền kinh tế quốc dân
Dự trữ ngân sách theo kế hoạch
- Chuẩn bị các mặt cần thiết khác để sẵn sàng động viên
+ Chuẩn bị cho lãnh đạo, chỉ huy, điều hành: Vị trí, thành phần, thời gian, cơ sở vật chất, phân công trách nhiệm.
+ Chuẩn bị cho việc thông báo quyết định, lệnh huy động: nội dung thông báo, thành phần, đối tượng, trách nhiệm thông báo, lực lượng phương tiện tham gia, thời điểm bắt đầu, kết thúc.
+ Chuẩn bị cho việc tập trung, vận chuyển và bàn giao lực lượng dự bị động viên: Tổ chức các trạm, phương tiện vận chuyển, tuyến đường, thành phần tham gia, cơ sở vật chất, phân công thực hiện.
+ Chuẩn bị cho việc bảo vệ trong quá trình huy động lực lượng dự bị động viên như: Mục tiêu bảo vệ, lực lượng bảo vệ (lực lượng bảo vệ mặt đất, lực lượng bảo vệ trên không), biện pháp bảo vệ
c) Một số biện pháp xây dựng lực lư ­ợng dự bị động viên
Thư­ờng xuyên giáo dục sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về vị trí, nhiệm vụ và những quan điểm của Đảng, Nhà nước trong xây dựng, huy động lực lượng dự bị động viên.
Thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự và các cơ quan chức năng làm tham m­ưu và tổ chức thực hiện.
Thư­ờng xuyên củng cố, kiện toàn, bồi dư ­ỡng cơ quan và đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng lực lư ­ợng dự bị động viên.
Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nư ­ớc đối với lực lư ­ợng dự bị động viên.
2. Hoạt động của lực lượng dự bị động viên ở cơ quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
a) Hoạt động trong thời bình
Trong bối cảnh đất nước hòa bình, không phải chống lại chiến tranh xâm lược của các thế lực thù địch bằng sức mạnh quân sự, hoạt động của lực lượng dự bị động viên diễn ra trên một số lĩnh vực sau:
Tập trung huấn luyện định kỳ hoặc đột xuất theo kế hoạch của ban chỉ huy quân sự cơ quan đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt để không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt của lực lượng dự bị động viên.
Trực tiếp lao động sản xuất trong các thành phần kinh tế và hoạt động trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, tổ chức chính trị bảo đảm cho mọi hoạt động của cơ quan doanh nghiệp đúng kế hoạch.
Phối hợp với lực lượng tự vệ, lực lượng công an, bảo vệ chuyên trách và các lực lượng khác làm tăng sức mạnh bảo vệ về mọi mặt, làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Bảo đảm an toàn tuyệt đối cho cơ quan trong mọi tình huống nhất là an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Tích cực tham gia các hoạt động xã hội khác, kiên quyết đấu tranh để khắc phục các yếu tố tự diễn biến trong nội bộ cơ quan nhất là tai nạn, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan và sẵn sàng nhận các nhiệm vụ khác trong kế hoạch phòng thủ dân sự của cơ quan, địa phương.
Chủ động phối hợp với các lực lượng khác trên địa bàn để làm tăng sức mạnh chiến đấu của khu vực phòng thủ huyện, tỉnh, góp phần bảo đảm sự vững chắc của thế trận quốc phòng toàn dân ở địa phương, cơ sở.
b) Hoạt động của lực lượng dự bị động viên khi được huy động
Lực lượng dự bị động viên được huy động để bổ sung cho lực lượng thường trực của quân đội khi có lệnh tổng động viên hoặc lệnh động viên cục bộ (tùy theo trạng thái khẩn cấp về quốc phòng) và trong chiến tranh. Cũng có thể tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội khi có nhu cầu chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà chưa đến mức phải động viên cục bộ. Như vậy, lực lượng dự bị động viên ở các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp có thể được động viên toàn bộ hay từng bộ phận là tùy thuộc vào trạng thái quốc phòng của đất nước.
Lực lượng dự bị động viên tại cơ quan khi chưa được động viên thì hoạt động bình thường như ở trạng thái thời bình. Hoạt động của họ vẫn tập trung vào công tác, sản xuất, sẵn sàng chiến đấu và tăng cường phối hợp với các lực lượng khác để bảo vệ cơ quan, phòng thủ dân sự tại địa bàn.
Lực lượng dự bị động viên được huy động phải thực hiện lệnh gọi sỹ quan dự bị nhập ngũ của cấp trên và lệnh gọi hạ sỹ quan - binh sỹ nhập ngũ của chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự huyện (quận)  tới các tổ chức chính trị, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội của huyện (quận). Các chủ phương tiện kỹ thuật có trách nhiệm thực hiện quyết định điều động phương tiện kỹ thuật của Chủ tịch huyện (quận) theo kế hoạch đã được phê chuẩn.
Quân nhân dự bị giữ chức vụ chỉ huy đơn vị dự bị động viên ngoài việc chấp hành lệnh gọi nhập ngũ còn tham gia cùng cán bộ cơ sở thông báo lệnh cho quân nhân dự bị thuộc quyền trong cùng cơ quan, đơn vị.
Đối với quân nhân dự bị của từng cơ quan, đơn vị phải có mặt tại địa điểm quy định. Ban chỉ huy quân sự của cơ quan, đơn vị cơ sở phải kiểm tra công tác chuẩn bị của từng người, sau đó cử người phụ trách tổ chức cơ động về khu tập trung bí mật theo kế hoạch. Quân nhân dự bị giữ chức vụ chỉ huy đơn vị dự bị động viên có trách nhiệm đôn đốc quân nhân dự bị thuộc quyền, tập trung theo lệnh gọi nhập ngũ và thực hiện quản lý đơn vị mình ngay từ khi tập trung tại cơ quan, đơn vị cơ sở. Các quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật được bàn giao cho các đơn vị quân đội theo kế hoạch đã xác định.  
 Xây dựng lực lượng tự vệ, dự bị động viên ở cơ quan là một nội dung quan trọng trong xây dựng lực lượng quốc phòng hiện nay để đất nước chủ động đối phó với mọi tình huống của chiến tranh, là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, hơn lúc nào hết ngay từ thời bình, công tác xây dựng lực lượng tự vệ, dự bị động viên và hoạt động của các lực lượng này tại các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế phải được sự quan tâm một cách đầy đủ của các cấp ủy đảng, chính quyền và của toàn xã hội. Đồng thời phát huy cao nhất trách nhiệm của mỗi cán bộ, nhân viên, người lao động và mọi công dân Việt Nam để công tác xây dựng lực lượng tự vệ và dự bị động viên đạt hiệu quả cao nhất, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hiện nay.
 
CÂU HỎI ÔN TẬP
 
1. Nhiệm vụ và nguyên tắc tổ chức, hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ?
2. Hoạt động của lực lượng tự vệ tại cơ quan, tổ chức chính trị, kinh tế?
3. Hoạt động của lực lượng dự bị động viên ở cơ quan trong thời bình?
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
2. Luật Dân quân tự vệ được Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009.
3. Nghị định 58/2010/NĐ-CP ngày 01 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ.
4. Nghị định 184/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ.
5. Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 27 tháng 8 năm 1996.
6. Bộ Quốc phòng, Giáo trình giáo dục quốc phũng, dựng cho bồi dường kiến thức quốc phũng - an ninh đối tượng 3, Nxb Quân đội nhân dân Việt Nam, Hà Nội, 2007. 
 
Chuyên đề 6
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN
BẢO ĐẢM AN NINH CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA
KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG TÌNH HÌNH MỚI
                               Biên soạn: Đại tá, PGS. TS Phạm Xuân Hảo
 
Bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội là là một nội dung quan trọng của mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của các tổ chức, các lực lượng trong cả nước. Việc quán triệt sâu sắc quan điểm tư tưởng của Đảng về bảo vệ an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội giữ vị trí, vai trò quan trọng, nhằm thống nhất nhận thức, đề cao trách nhiệm; đồng thời, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức, mỗi con người để tiến hành các hoạt động nhằm giữ vững ổn định chính trị, tư tưởng, phát triển văn hóa, kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo dựng môi trường chính trị - xã hội thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO ĐẢM AN NINH CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, VĂN HOÁ, KINH TẾ - XÃ HỘI
1. An ninh quốc gia, chiến lược an ninh quốc gia, bảo vệ an ninh quốc gia
a) An ninh quốc gia
Các quốc gia, dân tộc trên thế giới hiện nay đều xác định chiến lược an ninh quốc gia. Tùy thuộc bản chất giai cấp, chế độ chính trị, vị thế quốc tế và lợi ích quốc gia mà mỗi nước có những quan niệm, xác định phạm vi an ninh quốc gia rộng, hẹp khác nhau. Quan niệm và chiến lược an ninh quốc gia mang tính chất chính trị - xã hội, thể hiện lập trường giai cấp, tinh thần dân tộc, tính quốc tế và tính thời đại.
Ở Việt Nam, vấn đề an ninh quốc gia hình thành ngay sau khi thành lập nước, ngày 2 tháng 9 năm 1945 và từng bước được phát triển, hoàn thiện. Những thập kỷ gần đây, Đảng, Nhà nước rất chú trọng vấn đề an ninh quốc gia, đặt nó trong tổng thể chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tại các kỳ đại hội Đảng, các hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, vấn đề an ninh quốc gia luôn được xác định là vấn đề trọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng. Ngày 26 tháng 5 năm 1990, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị số 60 về Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới. Quốc hội và Chính phủ luôn luôn quan tâm hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh quốc gia trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Ngày 14 tháng 12 năm 2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Nghị quyết số 32/2004-QH11 Luật Về An ninh quốc gia.
An ninh quốc gia là sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc[30].
An ninh quốc gia theo nghĩa chung nhất, rộng lớn nhất, đó là sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa - chế độ mà nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng đang từng ngày xây dựng. An ninh quốc gia là sự ổn định và phát triển bền vững của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với sự vững mạnh của toàn bộ các yếu tố trong cấu trúc hệ thống chính trị đất nước.
Việt Nam là quốc gia độc lập, có chủ quyền. An ninh quốc gia là sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia là những hành vi xâm phạm chế độ chính trị, kinh tế, nền văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
An ninh quốc gia gồm: an ninh chính trị, an ninh tư tưởng, an ninh văn hóa, an ninh kinh tế, an ninh xã hội Trong đó an ninh chính trị là xuyên suốt, an ninh kinh tế là nền tảng.
An ninh quốc gia luôn gắn với an ninh khu vực, an ninh thế giới. Trong xu thế toàn cầu hóa, mối quan hệ an ninh giữa các quốc gia, an ninh của các quốc gia với an ninh khu vực, an ninh thế giới là một xu thế. Có những nội dung của an ninh quốc gia nếu không có sự hợp tác quốc tế sẽ rất khó giải quyết và giữ vững.
b) Chiến lược an ninh quốc gia
Chiến lược an ninh quốc gia là những vấn đề cơ bản về quan điểm tư tưởng, mục tiêu, các giải pháp nhằm tạo nên sức mạnh để giữ vững an ninh quốc gia.
Chiến lược an ninh quốc gia ở nước ta là sự cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng về tăng cường quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là nghệ thuật xác định mục tiêu, quy tụ và sắp xếp lực lượng, lựa chọn các giải pháp khả thi nhằm tạo sức mạnh tổng hợp để giữ vững sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; tạo thế chủ động chiến lược ngăn chặn, đẩy lùi, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chiến lược diễn biến hòa bình, sự chống phá của các thế lực thù địch và ứng xử kịp thời, hiệu quả với các vấn đề an ninh phi truyền thống; góp phần giữ vững môi trường hòa bình và ổn định của đất nước, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.
Chiến lược an ninh quốc gia là bộ phận hợp thành trọng yếu của chiến lược bảo vệ Tổ quốc, có quan hệ chặt chẽ với chiến lược quốc phòng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược đối ngoại... đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng, Nhà nước, do Bộ Công an chủ trì và là trung tâm tổ chức hợp đồng.
Chiến lược an ninh quốc gia là văn kiện tối mật của quốc gia. Việc quán triệt tới từng ngành, từng người theo chức trách, đúng người, đúng việc, đúng thời điểm, cần đến đâu biết đến đó.
c) Bảo vệ an ninh quốc gia
Bảo vệ an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, những hành vi xâm phạm đến chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Bảo vệ an ninh quốc gia, nghĩa rộng nhất là bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Bảo vệ an ninh quốc gia là giữ vững ổn định và phát triển về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bao hàm cả việc bảo vệ an ninh cho sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nội dung hoạt động chủ yếu của bảo vệ an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia của các thế lực thù địch, chống đối.
2. Bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế -  xã hội
Bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội là tổng thể các hoạt động tạo dựng những điều kiện cần và đủ để bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia trên từng lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội.
Mục tiêu của bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội là bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia.
Chủ thể hoạt động tạo dựng những điều kiện để bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội là các thành tố của hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý và điều hành của Nhà nước, với sự tham mưu và hướng dẫn, giám sát việc tổ chức thực hiện của các ban, ngành trung ương.
Lực lượng bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội là toàn dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý và điều hành của Nhà nước, với cơ quan chuyên trách là cơ quan chỉ đạo, chỉ huy và đơn vị nghiệp vụ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.
Bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội bao gồm các nội dung chính yếu: nâng cao ý thức trách nhiệm, hoàn thiện hệ thống luật pháp, xây dựng lực lượng, cơ chế, khoa học công nghệ, cơ sở vật chất, nghiên cứu nắm bắt âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch
Phương thức bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội được thông qua và đan cài trong các hoạt động chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế, xã hội, quốc phòng, đối ngoại Tất cả các hoạt động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, của các tổ chức và đoàn thể xã hội, của các tầng lớp xã hội nhằm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước trong từng giai đoạn chính là sự chuẩn bị các điều kiện cho việc giữ vững an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội.
An ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội chỉ có thể được bảo đảm vững chắc trong điều kiện chính trị và xã hội ổn định; hệ tư tưởng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được giữ vững và tăng cường; kinh tế không ngừng tăng trưởng và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được xây dựng và phát huy; nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng và thế trận an ninh được tăng cường và củng cố; hoạt động đối ngoại chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, không ngừng nâng cao vị thế của đất nước, an sinh xã hội được bảo đảm.
Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế, xã hội là một điều kiện bảo đảm cho việc bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội.
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý và điều hành của Nhà nước đối với đất nước, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là điều kiện tiên quyết trong việc bảo đảm an ninh quốc gia nói chung, an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội nói riêng. Vấn đề cốt lõi là xác định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội đúng và tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách đã đề ra.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát huy quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa đi đôi với tăng cường kỷ cương, phép nước; phát triển kinh tế đi đôi với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là những yếu tố quan trọng trong việc bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội.
Chủ động phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm các điều kiện để giữ vững an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội của đất nước.
3. Tác động của tình hình thế giới, khu vực, trong nước đến bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới
a) Tác động của tình hình thế giới, khu vực
Trong thời kỳ mới, bối cảnh thế giới sẽ thay đổi nhanh, có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Những dấu hiệu về mức độ đe dọa an ninh trên thế giới, các khu vực và một số quốc gia đang gia tăng. Bất ổn về chính trị - xã hội làm gia tăng xung đột vũ trang, tranh chấp, bạo loạn, lật đổ. Tình hình đó diễn ra trong xu thế toàn cầu hóa sẽ tác động không nhỏ, trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc giữ vững ổn định chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, đặt nước ta phải đối phó với nhiều thách thức về an ninh, cả an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.
Các vấn đề toàn cầu cấp bách như: những vấn đề về chính trị (gìn giữ hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo, chống khủng bố, tội phạm quốc tế); những vấn đề kinh tế - xã hội (khủng hoảng kinh tế, an ninh tài chính, an ninh lương thực, đói nghèo, di cư tự do, bùng nổ dân số); những vấn đề về thiên nhiên (ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, thảm họa thiên nhiên) đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải hợp tác cùng các quốc gia, các tổ chức quốc tế giải quyết vì lợi ích chung, đồng thời nó tác động trực tiếp đến bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội của đất nước ta.
Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước trên thế giới vì hòa bình, chủ quyền, độc lập dân tộc, dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội tiếp tục phát triển, tạo cơ sở và điều kiện cho quá trình bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước trong thời kỳ mới. Tuy vậy, cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc vẫn diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp đến ý thức chính trị của các giai tầng xã hội, đặt ra những nội dung và phương thức mới cho việc bảo đảm an ninh chính trị, an ninh tư tưởng, an ninh văn hóa. Vấn đề kiên định con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa luôn luôn là một nội dung trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng trên đất nước ta.
Toàn cầu hóa là một xu thế. Cục diện thế giới đa cực ngày càng rõ hơn, xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển. Hòa bình, hợp tác và phát triển là một xu thế, nhưng các nước lớn vẫn sẽ chi phối các quan hệ quốc tế, kể cả vấn đề an ninh toàn cầu. An ninh quốc gia gắn rất chặt với an ninh thế giới và bị chi phối không nhỏ bởi các nước lớn, ảnh hưởng đến tính chủ động, độc lập, tự chủ trong bảo vệ an ninh quốc gia. Trong tình hình đó, chúng ta phải tích cực tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đa phương vì lợi ích quốc gia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; sẵn sàng đối thoại với các nước có liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền; chủ động, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của đất nước.
Căng thẳng trong quan hệ giữa các nước, xung đột tôn giáo, xung đột sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, can thiệp vũ trang và phi vũ trang, lật đổ, khủng bố vẫn sẽ diễn ra gay gắt, với nhưng diễn biến phức tạp, khó lường; các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao trong các lĩnh vực tài chính - tiền tệ, điện tử - viễn thông, sinh học, môi trường tiếp tục gia tăng về quy mô và tốc độ cũng như hệ lụy xã hội của nó. Tổ hợp các yếu tố đó làm cho thế giới ở trong trạng thái bất ổn cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Lợi dụng tình hình đó, một số thế lực quốc tế tìm mọi cách, mọi cớ khuấy đảo làm cho tình hình thế giới, tình hình các khu vực phức tạp hơn và luôn trong trạng thái bất ổn, có lợi cho ý đồ chính trị và lợi ích của chúng. Trong thời gian tới, đất nước ta luôn luôn phải ở trong trạng thái đối phó với các tình huống xung đột, can thiệp, bạo loạn lật đổ, các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao để bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội.
Kinh tế thế giới có những dấu hiệu phục hồi sau khủng hoảng nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, bất ổn; chủ nghĩa bảo hộ phát triển dưới nhiều hình thức; cơ cấu lại thể chế, các ngành và các lĩnh vực kinh tế diễn ra mạnh mẽ. Cạnh tranh về kinh tế, thương mại, tranh giành tài nguyên, năng lượng, thị trường, công nghệ, nguồn vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng gay gắt; tương quan sức mạnh kinh tế giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn có sự thay đổi, ảnh hưởng nhiều đến nước ta. Những vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, thiên tai, dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp. Trong bối cảnh kinh tế quốc tế có những diễn biến phức tạp, sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta còn nhiều hạn chế, việc bảo đảm an ninh kinh tế của đất nước ta gặp không ít khó khăn, trở ngại.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khu vực Đông Nam Á vẫn sẽ là khu vực phát triển năng động nhưng tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định; tranh chấp lãnh thổ, biển đảo ngày càng gay gắt, diễn biến khó lường. Trước những diễn biến phức tạp ở khu vực, những năm tới, biên giới và biển đảo sẽ luôn luôn là vấn đề cần được quan tâm đặc biệt trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội của đất nước ta.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khu vực Đông Nam Á sẽ xuất hiện các hình thức tập hợp lực lượng đan xen mới. ASEAN tuy còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong khu vực. Với vị thế quốc tế, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế... chúng ta có điều kiện để tranh thủ, tận dụng cơ hội của tình hình khu vực, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
b) Tác động của tình hình trong nước
Những năm vừa qua, trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có rất nhiều khó khăn, thách thức, nhất là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng đất nước ta vẫn thu được những thành tựu quan trọng: nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô kinh tế tăng lên, đời sống các tầng lớp nhân dân tiếp tục được cải thiện; các lĩnh vực xã hội có tiến bộ, dân chủ xã hội chủ nghĩa được củng cố và phát huy, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố; quốc phòng, an ninh được tăng cường; chính trị - xã hội ổn định, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế được mở rộng, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta được nâng cao Những thành tựu đạt được tạo cho đất nước ta thế và lực, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước; tạo dựng được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý và điều hành của Nhà nước, vào con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; góp phần vào tạo dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Sự ổn định và phát triển về mọi mặt của đất nước tạo nền tảng cho quá trình bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội nói riêng, an ninh quốc gia nói chung.
Những năm tới là giai đoạn kinh tế nước ta sẽ có sự phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau suy giảm. Tuy vậy, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và thế giới vẫn tồn tại; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp; những yếu tố bảo đảm định hướng xã hội của nền kinh tế thị trường chưa được chú ý xử lý đúng mức và kịp thời; quản lý thị trường, nhất là thị trường bất động sản, thị trường tài chính có lúc còn lúng túng, sơ hở, chưa thật chặt chẽ Những hạn chế này sẽ tạo ra thách thức lớn cho việc phát triển kinh tế cũng như đối với quá trình bảo đảm an ninh kinh tế. Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế, sự tác động của những biến động kinh tế thế giới, nhất là khủng hoảng tài chính, tiền tệ, nợ công sẽ làm sâu sắc thêm những yếu kém, hạn chế trên lĩnh vực kinh tế của đất nước, làm cho việc bảo đảm an ninh kinh tế gặp nhiều khó khăn, thách thức. Vấn đề phát triển kinh tế nhanh, bền vững, tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội trong thời kỳ mới.
Những yếu kém trong các lĩnh vực xã hội chậm được khắc phục và là mối lo lắng lớn trong thời gian tới. Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, sự suy thoái đạo đức, lối sống xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi và sẽ có những diễn biến phức tạp, tạo ra những biến thể mới nguy hại cho an ninh quốc gia. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân chuyển biến chậm. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc chưa được phát huy đầy đủ; tình trạng lợi dụng dân chủ, ngụy biện lòng yêu nước gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội sẽ có những diễn biến phức tạp. Nhìn chung, còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội.
Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng trong xã hội nói chung, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên nói riêng chậm được khắc phục và diễn biến phức tạp. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, tự diễn biến, tự chuyển hóa, mà trước hết là diễn biến và chuyển hóa về tư tưởng chính trị sẽ còn diễn biến phức tạp, làm cho việc giữ vững và tăng cường hệ tư tưởng chính trị, kiên định con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa có không ít trở ngại, việc bảo đảm an ninh tư tưởng gặp nhiều thách thức.
Văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế và đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa. Tình trạng môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, không lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhân phẩm, nhất là trong thanh thiếu niên còn rất đáng lo ngại. Tình hình đó làm cho việc bảo đảm an ninh văn hóa gặp nhiều trở ngại, thách thức. Bản sắc văn hóa dân tộc không được giữ vững và phát huy là một nguy cơ của bảo đảm an ninh quốc gia trong thời kỳ mới.
c) Âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, chống đối
Việt Nam luôn là một nước mà các nước lớn đều quan tâm và tìm cách tranh thủ, lôi kéo, thậm chí tìm mọi cách để thôn tính. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay và những năm tới, các nước lớn đã, đang và sẽ điều chỉnh chính sách đối với Việt Nam nhằm thực hiện ý đồ chính trị và đảm bảo lợi ích của họ, đặt ra nhiều vấn đề mới cho việc bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội ở nước ta.
Các thế lực thù địch trên thế giới đã và đang tận dụng mọi cơ hội của xu thế toàn cầu hóa, thông qua các hợp tác quốc tế để thâm nhập và làm chuyển hóa chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế, xã hội của đất nước ta theo ý đồ chính trị của chúng. Toàn cầu hóa trở thành một thách thức không nhỏ đối với việc bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội trên đất nước ta trong thời kỳ mới.
Trong những năm tới, các thế lực thù địch vẫn sẽ tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ đối với nước ta. Mục đích của chiến lược diễn biến hòa bình là nhằm thủ tiêu chế độ xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục đích đó, chúng đặt ra những mục tiêu cơ bản: xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản; xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; làm suy yếu và vô hiệu hóa hiệu lực quản lý của Nhà nước và chính quyền các cấp, gây mất ổn định về chính trị, trật tự, an toàn xã hội; làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, khống chế nền kinh tế; chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo các giá trị tư sản; phi chính trị hóa để vô hiệu hóa quân đội, công an.
Nội dung và thủ đoạn chống phá của chúng trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng lý luận, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, quốc phòng, an ninh. Phương châm chống phá của chúng: chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế là mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là ngòi nổ, kết hợp với uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự. Âm mưu, thủ đoạn chiến lược diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia của Việt Nam, đặt ra những vấn đề nóng bỏng, cấp thiết trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới. Trước những âm mưu, thủ doạn của chiến lược diễn biến hòa bình, vấn đề trọng tâm hiện nay của bảo đảm an ninh quốc gia ở nước ta là phòng chống tự diễn biến, tự chuyển hóa; trước hết, trên hết là phòng chống tự diễn biến, tự chuyển hóa về chính trị, tư tưởng và cùng với nó là tự diễn biến, tự chuyển hóa về kinh tế, xã hội.
Các tổ chức phản động người Việt lưu vong đã và đang được các thế lực thù địch nước ngoài nuôi dưỡng, hỗ trợ, sử dụng để chống phá đất nước ta. Một mặt, chúng đưa người, vũ khí xâm nhập vào nội địa đất nước ta để tiến hành các hoạt động phá hoại, gây tiếng vang, nhằm tạo ra sự mất ổn định xã hội; mặt khác, chúng sử dụng chiêu bài chống tham nhũng, ngụy dựng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, bình đẳng xã hội, công bằng xã hội để tuyên truyền chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây ra các xung đột xã hội. Chúng ra sức tận dụng mọi điều kiện để móc lối, liên kết với lực lượng chống đối ở bên trong, nhất là những phần tử cơ hội về chính trị, bất mãn, nhằm hình thành các tổ chức, đoàn thể xã hội, đảng phái đối lập, từng bước công khai hóa, hợp thức hóa để hoạt động chống phá, góp vào thúc đẩy sự tự diễn biến, tự chuyển hóa từ bên trong. Phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi và vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các tổ chức phản động người Việt lưu vong là một nội dung trọng yếu trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội thời kỳ mới.
Phần tử cơ hội về chính trị, bất mãn ở trong nước có những dấu hiệu của việc công khai hoạt động chống phá, đe dọa sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Chúng đẩy mạnh tán phát tài liệu, sử dụng tin đồn để vu cáo, chia rẽ, gây nghi ngờ trong nội bộ tổ chức đảng, chính quyền và trong nhân dân; kích động chống đối đường lối, chủ trương, chính sách, với mong muốn tạo sự chống đối từ trong xã hội, trong mỗi tổ chức, trong dân chúng, gây mất ổn định chính trị - xã hội, gây rối trật tự, an toàn xã hội ở từng địa phương, khu vực và trong phạm vi cả nước. Chúng tận dụng sự nhẹ dạ, cả tin của một bộ phận dân chúng, nhất là giới trẻ, học sinh, sinh viên để gây ra những sự kiện xã hội làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội ở vào những thời điểm, những sự kiện chính trị, xã hội nhạy cảm. Phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi và vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các phần tử cơ hội về chính trị, bất mãn ở trong nước là một nội dung trọng yếu trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội thời kỳ mới.
Các đảng phái và phần tử phản động cũ, bọn phản động đội lốt tôn giáo, dân tộc ở trong nước được sự tiếp sức của các thế lực thù địch từ bên ngoài, móc nối của các tổ chức phản động người Việt lưu vong và sự vào hùa của những phần tử cơ hội chính trị, bất mãn ở trong nước, đã và đang có những hành động chống đối chế độ, nhen nhóm hình thành các nhóm xã hội không chính thức mang mầu sắc chính trị, gây rối trật tự an toàn xã hội, gây ra những sự kiện chính trị, bạo động chính trị, làm mất đi sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước.
II. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, QUAN ĐIỂM, TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO VÀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM AN NINH CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, VĂN HOÁ, KINH TẾ - XÃ HỘI
Mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, tư tưởng và nguyên tắc chỉ đạo bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội là sự cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo bảo vệ an ninh quốc gia, để chuẩn bị đầy đủ các điều kiện nhằm giữ vững an ninh quốc gia.
1. Mục tiêu, nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội
a) Mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát
Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc; tạo thế chủ động chiến lược, đẩy lùi, ngăn chặn, làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình và các âm mưu, thủ đoạn chống phá khác của các thế lực thù địch trong và ngoài nước; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo dựng môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
b) Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu bảo đảm an ninh chính trị: Giữ vững bản chất cách mạng của Đảng và Nhà nước; bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với xã hội; kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp đổi mới đất nước, phát triển kinh tế - xã hội, không để diễn ra chệch hướng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá về chính trị của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ; đấu tranh, ngăn chặn, làm tan rã âm mưu tập hợp lực lượng chống đối, sự hình thành tổ chức và đoàn thể chính trị phản động, đối lập.
Mục tiêu bảo đảm an ninh tư tưởng: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện xa rời mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa; bài trừ tư tưởng tư sản, phi vô sản, tư tưởng đa nguyên, đa đảng.
Mục tiêu bảo đảm an ninh văn hóa: Giữ gìn, phát huy văn hóa dân tộc, phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội; hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam; bồi dưỡng các giá trị văn hóa và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam cho toàn dân, nhất là thế hệ trẻ; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, kinh nghiệm phát triển văn hóa của các nước, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá về văn hóa của các thế lực thù địch, khắc phục sự xuống cấp, tha hóa về văn hóa; ngăn chặn, đẩy lùi, vô hiệu hóa sự xâm nhập của các sản phẩm đồi trụy, phản động, phản văn hóa.
Mục tiêu bảo đảm an ninh kinh tế: Bảo đảm sự ổn định vững chắc trong phát triển kinh tế, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường, hạn chế và khắc phục sự tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế toàn cầu và nguy cơ tụt hậu về kinh tế, hạn chế đến mức thấp nhất những tiêu cực của kinh tế thị trường; kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, thực hiện thành công xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội bền vững; giữ vững nguyên tắc trong điều hành nền kinh tế thị trường với sự quản lý của Nhà nước.
Giữ vững quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ trong điều hành kinh tế vĩ mô. Vấn đề cốt lõi là bảo đảm an ninh tài chính, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nhân lực... Kiểm soát chặt chẽ các phương tiện truyền thông, nhất là trong việc tuyên truyền sử dụng các công cụ tiền tệ và tài khóa, năng lực sản xuất, tài nguyên và môi trường. Phát huy vai trò truyền thông trong việc tạo sự đồng thuận xã hội với các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước.
Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá về kinh tế của các thế lực thù địch; đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm về kinh tế, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch thông qua kinh tế để chuyển hóa về chính trị.
Mục tiêu bảo đảm an ninh xã hội: Nâng cao dân trí, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, thực hiện hiệu quả chính sách an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội và môi trường; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; bồi dưỡng lý tưởng sống, lối sống xã hội chủ nghĩa; đấu tranh phòng chống có hiệu quả các tệ nạn xã hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, khắc phục có hiệu quả tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống; ngăn chặn các xung đột xã hội, bạo lực, gây rối trật tự công cộng; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá về xã hội của các thế lực thù địch.
c) Nhiệm vụ cụ thể
Bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, trước hết và quan trọng nhất là bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa;
Bảo đảm vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc;
Bảo đảm vững chắc tư tưởng xã hội chủ nghĩa, hệ tư tưởng: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
Bảo đảm vững chắc sự ổn định, phát triển bền vững nền kinh tế, tài chính, tiền tệ, tài nguyên môi trường và lợi ích kinh tế quốc gia;
Bảo đảm vững chắc nền văn hóa, bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc;
Bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, khối đại đoàn kết toàn dân tộc;
Bảo đảm an ninh thông tin, an toàn mạng bưu chính viễn thông.
2. Quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và nguyên tắc bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội
a) Quan điểm, tư tưởng chỉ đạo bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội
Quan điểm cơ bản
Một là, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý và điều hành của Nhà nước đối với bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội.
Hai là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là lợi ích, mục tiêu cao nhất.
Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; nắm chắc quan điểm: xây dựng Đảng là then chốt, phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội; lấy ổn định chính trị, củng cố nền quốc phòng, an ninh vững mạnh làm cơ sở cho phát triển kinh tế - xã hội; kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Bốn là, giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng quan hệ đối ngoại. Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ đối ngoại với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Ra sức phát huy nội lực và khai thác thuận lợi ở bên ngoài trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội.
Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế, yếu tố truyền thống và hiện đại, phương thức truyền thống và phi truyền thống; kết hợp thế trận an ninh nhân dân với thế trận quốc phòng toàn dân trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội.
Tư tưởng chỉ đạo cơ bản
Một là, quán triệt quan điểm tư tưởng cách mạng tiến công, kết hợp tiến công và chủ động phòng ngừa, lấy giữ vững, ổn định ở bên trong là chính; coi trọng đấu tranh, phòng chống tự diễn biến, tự chuyển hóa.
Hai là, giữ vững nguyên tắc chiến lược, mềm dẻo về sách lược, kiên quyết, linh hoạt, khôn khéo trong xử lý các vấn đề liên quan đến an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội của đất nước.
Ba là, kết hợp xây và chống, trong đó lấy xây dựng là chính; phát hiện và khắc phục kịp thời mọi sơ hở, không để các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá.
b) Nguyên tắc hoạt động bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội
Luật An ninh quốc gia xác định rõ các nguyên tắc hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia. Đó cũng chính là những nguyên tắc hoạt động bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội. Các nguyên tắc đó là:
- Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.
Nguyên tắc này đòi hỏi, hoạt động bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội phải trong khuôn khổ và chấp hành nghiêm ngặt Hiến pháp và pháp luật; nghiêm cấm việc đề ra các quy định trái với Hiến pháp và pháp luật.
Trong kinh tế thị trường, hội nhập phải kết hợp hài hòa các lợi ích trên cơ sở bảo đảm tối đa lợi ích nhà nước, lợi ích quốc gia, dân tộc; đồng thời kết hợp với việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Nghiêm cấm việc đề cao lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm mà xâm hại tới lợi ích nhà nước, lợi ích quốc gia, dân tộc.
- Đặt dưới sự lãnh của Đảng, quản lý thống nhất của Nhà nước, huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc, lực lượng chuyên trách làm nòng cốt.
Tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước là nguyên tắc, điều kiện tiên quyết đối với bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội.
Phát huy sức mạnh tổng hợp là bài học kinh nghiệm trong dựng nước và giữ nước của dân tộc, cần được phát huy trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội thời kỳ mới.
Để phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc đối với bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước; đồng thời, phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội.
- Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; phối hợp có hiệu quả hoạt động an ninh, quốc phòng và đối ngoại.
Xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tạo điều kiện nền tảng cho bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội; bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội góp phần tạo môi trường xã hội thuận lợi cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Phối kết hợp chặt chẽ, hiệu quả hoạt động an ninh, quốc phòng và đối ngoại là nguyên tắc mang tính yêu cầu trong tổ chức hoạt động các lĩnh vực, nhằm tạo ra môi trường thuận lợi, sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Chủ động phòng ngừa, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động xâm phạm an ninh quốc gia.
Nguyên tắc này quán triệt quan điểm tư tưởng cách mạng tiến công, kết hợp tiến công và chủ động phòng ngừa trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội. Đòi hỏi phải chủ động phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh, vô hiệu hóa hoạt động chống phá của các thế lực thù địch từ nơi xuất phát, ngay từ khi mới xuất hiện; đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, VĂN HOÁ, KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG TÌNH HÌNH MỚI
1. Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội cho toàn dân, trước hết là cán bộ, công chức, viên chức
Nền quốc phòng, an ninh của Việt Nam là nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân. Nâng cao nhận thức bảo đảm an ninh quốc gia cho toàn dân là giải pháp quan trọng hàng đầu, để huy động nguồn lực toàn dân trong việc bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội. Người dân không có nhận thức đúng và đầy đủ về tầm quan trọng của việc bảo đảm an ninh quốc gia trong thời kỳ mới sẽ khó nêu cao tinh thần trách nhiệm tham gia hoạt động bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội; do đó không thể xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc.
Cán bộ là gốc của mọi công việc. Nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội cho toàn dân, trước hết là cán bộ, công chức, viên chức; nhất là những cán bộ, công chức, viên chức công tác ở cơ quan trung ương, ở các ngành trọng yếu liên quan đến ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước. Bởi vì đội ngũ này đảm nhiệm chức năng, nhiệm vụ làm tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, lãnh đạo các bộ, ngành trong việc bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội của đất nước; hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi và giám sát các địa phương thực hiện quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Mục tiêu: nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước, nâng cao kiến thức và trách nhiệm bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội cho mọi người dân. Mỗi người dân, dù ở cương vị xã hội nào cũng luôn luôn nêu cao ý thức bảo đảm an ninh quốc gia. Nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo đảm an ninh quốc gia luôn luôn phải được xác định là nội dung quan trọng trong xây dựng con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nội dung: Tuyên truyền giáo dục đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi người dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; tuyên truyền giáo dục quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm an ninh quốc gia trong thời kỳ mới, nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo đảm an ninh quốc gia cho mọi người dân; tuyên truyền, giáo dục tri thức, kinh nghiệm và trách nhiệm bảo đảm an ninh quốc gia cho từng người dân theo vị trí và chức trách xã hội; tuyên truyền về âm mưu, thủ đoạn chống phá về chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế, xã hội của các thế lực thù địch, xây dựng tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng. Kết quả của việc tuyên truyền, giáo dục là nâng cao kiến thức, kỹ năng, đề cao trách nhiệm tham gia bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội cho mọi người dân.
Đối tượng: toàn dân, trước hết cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên, nhất là cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên ở cấp trung ương và cấp cơ sở xã, phường, thị trấn.
Phương thức: Kết hợp chặt chẽ, tổng hợp các phương thức tuyên truyền và giáo dục, từ gia đình, nhà trường và xã hội, coi trọng giáo dục trong gia đình và nhà trường; đặc biệt coi trọng và phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, nhất là truyền hình và phát thanh. Giáo dục an ninh quốc gia luôn luôn phải được xác định là nội dung quan trọng trong giáo dục quốc dân, trong hệ thống nhà trường của quốc gia. Thực hiện tốt giáo dục quốc phòng toàn dân, trước hết cho cán bộ chủ chốt các cấp.
Lực lượng chỉ đạo, tiến hành giáo dục, tuyên truyền: Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục bảo đảm an ninh quốc gia; cơ quan thông tin, truyền thông có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền phổ biến pháp luật và nâng cao ý thức bảo đảm an ninh quốc gia; cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo có trách nhiệm đưa nội dung giáo dục bảo đảm an ninh quốc gia vào chương trình dạy học trong nhà trường và các cơ sở giáo dục phù hợp với ngành học, cấp học; cơ quan, tổ chức, các đoàn thể chính trị - xã hội trong phạm vi của mình có trách nhiệm giáo dục, vận động công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia bảo đảm an ninh quốc gia.
2. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của các ban, ngành trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội
Đảng lãnh đạo đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là nguyên tắc tối cao, yếu tố giữ vai trò quan trọng quyết định đối với đảm bảo an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội. Vì thế, bằng mọi phương thức phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với đảm bảo an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội của quốc gia. Chú trọng tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng các cấp đối với đảm bảo an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội ở từng địa phương, từng địa bàn.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng phải đi đôi với phát huy hiệu lực quản lý xã hội của Nhà nước. Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội vừa là nguyên tắc, vừa là cơ chế tổ chức trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động. Quốc hội thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng bằng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Chính phủ chỉ đạo các ngành, các cấp xây dựng kế hoạch bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội. Tổ chức tốt thanh tra, kiểm tra hoạt động bảo đảm an ninh quốc gia, trong đó chú trọng giám sát các vấn đề quan trọng của đất nước, nhất là các công trình trọng điểm quốc gia liên quan đến an ninh quốc gia.
Các ban ngành trong hệ thống Đảng, Nhà nước là cơ quan chức năng, giữ vai trò to lớn trong việc tham mưu cho Đảng, Nhà nước về lãnh đạo, quản lý bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội; giữ vai trò quan trọng quyết định trong việc hướng dẫn, chỉ đạo, giám sát các hoạt động bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội; có vai trò rất lớn trong việc hoàn thiện hệ thống luật pháp, phổ biến và thực thi pháp luật. Để bảo đảm tốt an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội phải phát huy vai trò của các ban, ngành ở trung ương và các địa phương trên các phương diện: tham mưu, hoàn thiện văn bản và hướng dẫn, chỉ đạo, giám sát. Thành công của hoạt động bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội của đất nước phụ thuộc rất lớn vào thực hiện các chức năng của các ban ngành trong hệ thống Đảng, Nhà nước.
Để thực hiện tốt giải pháp này cần thực hiện nhiều nội dung, nhiều khâu, tập trung vào hai nội dung, khâu trọng yếu:
Thứ nhất, xây dựng và bảo vệ hệ thống chính trị thực sự của nhân dân do nhân dân, vì nhân dân. Tập trung xây dựng Đảng, tổ chức đảng các cấp thực sự trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất cách mạng và khoa học. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh, thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Xây dựng và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc vững mạnh, thực sự phát huy vai trò tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội. Chú trọng xây dựng các ban, ngành trong hệ thống Đảng, Nhà nước vững mạnh toàn diện.
Vấn đề cốt lõi là xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ thực sự tiêu biểu, tiên phong về phẩm chất, năng lực, đi đầu trong hoạt động bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội.
Thứ hai, tổ chức vận hành tốt cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, các cơ quan, ban ngành làm tham mưu theo chức năng trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội.
Thành phần của cơ chế đó gồm: Đảng, tổ chức đảng, cấp ủy đảng các cấp; Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ), chính quyền các cấp (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân); Các cơ quan, ban, ngành trong hệ thống Đảng, Nhà nước từ trung ương đến cơ sở. Mỗi thành phần có vị trí, chức năng riêng: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, các cơ quan, ban ngành làm tham mưu theo chức năng.
Sự vận hành của cơ chế chính là quá trình phối kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố trên cơ sở tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, cấp ủy Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và điều hành của Nhà nước, của chính quyền các cấp, phát huy vai trò tham mưu của các ban ngành, để tránh sự tách rời, sự chồng chéo, kém hiệu quả và hiệu lực trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội.
Quá trình vận hành của cơ chế nhằm tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của cấp ủy đảng các cấp; phát huy vai trò và nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, hiệu lực quản lý và điều hành của chính quyền các cấp; phát huy vai trò tham mưu của các cơ quan theo chức năng trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, ở mỗi địa phương, đơn vị nói riêng.
3. Bổ sung, hoàn thiện Hiến pháp, pháp luật trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội
Trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật là khâu, công việc đầu tiên. Nó bảo đảm cho hoạt động quản lý xã hội của Nhà nước có hiệu lực và hiệu quả. Để quản lý nhà nươc về bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội có hiệu lực, hiệu quả phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp với thực tiễn và những văn bản hướng dẫn cụ thể.
Trong xu thế toàn cầu hóa, để chủ động hội nhập quốc tế và bảo vệ quyền tự quyết dân tộc, vấn đề xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là cơ sở pháp lý cho các hợp tác quốc tế về kinh tế, văn hóa, xã hội. Hiến pháp, pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội. Một số hạn chế, sở hở, yếu kém của chúng ta trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội thời gian vừa qua có nguyên nhân từ việc hệ thống pháp luật của nước ta chưa đủ, chưa đồng bộ, chưa mang tính hệ thống và còn có những kẽ hở.
Trong thời gian tới cần tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy trình xây dựng pháp luật. Trong xây dựng luật, pháp lệnh cần chú trọng những quy định cụ thể, tăng tính khả thi để đưa nhanh vào cuộc sống.
Cùng với việc xây dựng hoàn chỉnh hệ thống pháp luật của đất nước, tích cực và chủ động tham gia các công ước quốc tế nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa và trong điều kiện tình hình quốc tế có nhiều biến động khó lường.
Chú trọng triển khai tổ chức thực hiện pháp luật, thực hiện mọi công dân sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật.
Làm tốt việc biểu dương công dân, tổ chức, đơn vị thực hiện đúng pháp luật, đồng thời xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, nhất là với những hành động xâm phạm an ninh quốc gia.
4. Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội
Từ thực tiễn phong phú của cách mạng, Đảng ta đã rút ra những bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên thắng lợi của lịch sử; đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta[31]. Xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một điều kiện cho việc bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội của đất nước.
Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội phải quán triệt và thực hiện một số nội dung, vấn đề sau:
- Phải nắm vững quan điểm lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội, tăng cường đồng thuận xã hội.
- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân. Phát huy dân chủ đi đôi với đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
- Thực hiện tốt chính sách đối với các giai cấp và tầng lớp xã hội, với người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Tập trung giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
- Thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc của Đảng và Nhà nước. Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, nhất là hoạt động tôn giáo trong các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cảnh giác đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng các vấn đề tôn giáo, dân tộc để xâm hại an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội; không để các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc can thiệp, gây sức ép.
- Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chia rẽ, phá hoại sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, nhằm gây rối, mất ổn định chính trị, kinh tế - xã hội.
Quốc phòng, an ninh ở Việt Nam là nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân là một nội dung trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Do đó, một mặt cần phải xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, mặt khác phải kết hợp chặt chẽ trong xây dựng hai thế trận.
Kết hợp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội cần nắm vững một số nội dung chủ yếu:
- Kết hợp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân phải được tiến hành trên từng địa bàn tỉnh, thành phố, đặc biệt chú trọng xây dựng thế trận trên các địa bàn chiến lược. Chú trọng xây dựng thế trận và lực lượng, xây dựng thế trận tổng hợp, coi trọng thế trận lòng dân.
- Phối kết hợp xây dựng phương án xử lý các tình huống gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, khủng bố, hoạt động cài cắm, móc nối, chia rẽ nội bộ, hoạt động phá hoại và gây bạo động chính trị, bạo động vũ trang, các tình huống đe dọa an ninh phi truyền thống như thông tin, dịch bệnh, môi trường; phương án đối phó với chiến tranh kiểu mới, chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức.
- Tập trung xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững mạnh trên các nội dung chủ yếu: Tổ chức và bố trí lực lượng chung của thế trận an ninh nhân dân; xây dựng thế trận an ninh trên các tuyến, mục tiêu, địa bàn, lĩnh vực trọng điểm, tập trung vào các thành phố, thị xã, khu vực tập trung các mục tiêu chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, khu vực tập trung đông các hoạt động tôn giáo, vùng dân tộc.
- Kết hợp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân.
5. Đẩy mạnh đấu tranh, phòng chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội
Các thế lực thù địch không bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá đất nước ta, chúng luôn luôn tìm mọi phương thức mới để chống phá. Thời kỳ mới, chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ vẫn sẽ là một trong những nguy cơ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì thế, để bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội phải đẩy mạnh đấu tranh, phòng chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, coi đây là một mặt trận quan trọng.
Đẩy mạnh đấu tranh, phòng chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch phải nắm vững quan điểm: chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, trật tự an toàn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống.
Để đẩy mạnh đấu tranh, phòng chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch cần tập trung vào một số nội dung, vấn đề, khâu chủ yếu:
- Tổ chức nghiên cứu, kịp thời nắm bắt âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội. Trong đó, tập trung nghiên cứu, nắm bắt và dự báo trúng âm mưu, thủ đoạn mới trong thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế, xã hội của các thế lực thù địch. Đồng thời, chú trọng nghiên cứu, dự báo cho được những biến thể của chiến lược diễn biến hòa bình, những chiến lược mới, thủ đoạn mới trong chống phá đất nước ta của các thế lực thù địch. Nghiên cứu nắm bắt xu thế an ninh phi truyền thống.
- Tổ chức nghiên cứu, kịp thời nắm bắt âm mưu, thủ đoạn, cách thức lợi dụng xu thế hợp tác, xu thế toàn cầu hóa để phá hoại về chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế, xã hội, làm suy yếu dẫn đến mất ổn định về chính trị, xã hội, kinh tế của đất nước, tạo ra các yếu tố cho sự tự diễn biến, tự chuyển hóa.
- Xây dựng kế hoạch đấu tranh, phòng chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội trong mọi tình huống.
- Phòng chống tự diễn biến, tự chuyển hóa, xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
6. Mở rộng hợp tác quốc tế trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội
Trong xu thế toàn cầu hoá, vấn đề an ninh quốc gia mang tính quốc tế. Có nhiều vấn đề an ninh của một quốc gia phải trên cơ sở hợp tác quốc tế mới có thể giải quyết được. Trong bối cảnh thế giới ngày nay, việc mở rộng hợp tác quốc tế trong thực hiện chiến lược an ninh quốc gia nói chung, an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội là một tất yếu khách quan.
Mở rộng hợp tác quốc tế trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội phải quán triệt, vận dụng đúng quan điểm, tư tưởng, chủ trương đối ngoại của Đảng: độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế theo phương châm thêm bạn, bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, gia tăng hợp tác và đối thoại, tránh đối đầu, tránh xung đột, tránh bị cô lập và lệ thuộc; là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Mở rộng hợp tác quốc tế trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội thời kỳ mới cần tập trung vào một số nội dung, vấn đề, khâu chủ yếu:
- Mở rộng hợp tác quốc tế thông qua ký kết các hiệp định, các quy ước phối kết hợp trong việc đấu tranh giữ vững an ninh khu vực và thế giới có liên quan đến an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội của Việt Nam.
- Tham gia cơ chế hợp tác an ninh chính trị song phương và đa phương vì lợi ích quốc gia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc.
- Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học, công nghệ, thông tin kinh tế, kinh nghiệm quản lý kinh tế.
- Tích cực hợp tác trong việc đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, với các vấn đề dân chủ, nhân quyền. Đấu tranh chống chủ nghĩa cường quyền, sự áp đặt bất chấp luật pháp quốc tế và quyền tự quyết dân tộc, đe dọa đến bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội. Kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội của đất nước.
- Củng cố, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng. Chủ động, tích cực cùng các nước xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, giữ vững an ninh khu vực. Tích cực tham gia phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ trên thế giới vì mục tiêu giữ vững hòa bình, ổn dịnh, hợp tác và phát triển trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền. Chủ động tham gia giải quyết những vấn đề toàn cầu cấp bách.
- Đẩy mạnh công tác trao đổi thông tin có liên quan đến bảo đảm an ninh; ngăn chặn có hiệu quả sự tác động tiêu cực của tình hình an ninh thế giới tới việc bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội của đất nước. Chủ động và có phương thức hữu hiệu đấu tranh với những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch trên tất cả các lĩnh vực.
- Tăng cường vận động người Việt Nam ở nước ngoài hướng về Tổ quốc, góp sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tham gia đấu tranh kiềm chế hoạt động chống phá của bọn phản động lưu vong.
Bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội là nghĩa vụ và trách nhiệm của toàn dân, của các tổ chức, các lực lượng trong cả nước. Với trọng trách là cơ quan tham mưu cho Đảng, Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cán bộ ở các cơ quan Trung ương có vai trò rất quan trọng trong bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội của đất nước.
Để hoàn thành trọng trách to lớn đối với an ninh quốc gia, mỗi cán bộ ở các cơ quan Trung ương vừa phải nắm vững quan điểm tư tưởng cơ bản của Đảng, Nhà nước về bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội; vừa phải có tri thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực, công việc mình phụ trách; đồng thời luôn luôn nêu cao ý thức dân tộc, ý thức giai cấp, tinh thần cảnh giác cách mạng.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Mục tiêu, nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay.
2. Để bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội cần tập trung thực hiện giải pháp cơ bản nào?
3. Liên hệ việc thực hiện vai trò của cơ quant rung ương trong đảm an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế - xã hội thời gian vừa qua.
 
 
Chuyên đề 7 (Bổ trợ)
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC PHÒNG,
LUẬT AN NINH QUỐC GIA, LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ,
LUẬT DÂN QUÂN TỰ VỆ, PHÁP LỆNH DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN
                                               Biên soạn: Đại úy Trần Viết Thắng
I. LUẬT QUỐC PHÒNG
1. Khái quát chung về Luật Quốc phòng
Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt.
Luật Quốc phòng là đạo luật khung về quốc phòng, đ­ược ban hành nhằm mục tiêu tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Luật Quốc phòng thể hiện rõ nguyên tắc hoạt động quốc phòng, chính sách quốc phòng, trách nhiệm của các cấp, các ngành và mọi công dân về nhiệm vụ quốc phòng để chủ động, sẵn sàng xử lý kịp thời, có hiệu quả khi đất nư­ớc bị xâm lư­ợc, khi có các hành động bạo loạn, lật đổ hoặc khi có thảm họa lớn do thiên nhiên hoặc con ngư­ời gây ra ảnh h­ưởng trực tiếp đến công cuộc phòng thủ đất n­ước. Đồng thời, Luật Quốc phòng làm căn cứ pháp lý cho các hoạt động quân sự, chính trị, ngoại giao và các hoạt động khác nhằm góp phần giữ vững ổn định chính trị để xây dựng và phát triển đất nước.
Luật Quốc phòng đ­ược Quốc hội nư­ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005. Luật bao gồm 9 ch­ương, 51 điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2006.
Luật Quốc phòng quy định chính sách quốc phòng, nguyên tắc, nội dung cơ bản về hoạt động quốc phòng; hoạt động của lực l­ượng vũ trang nhân dân; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, quyền và nghĩa vụ của công dân về quốc phòng.
2. Nội dung cơ bản của Luật Quốc phòng
a) Chính sách và nguyên tắc quốc phòng
- Chính sách quốc phòng:
Nhà nư­ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam củng cố và tăng cư­ờng quốc phòng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Nhà n­ước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bao gồm đất liền, các đảo, quần đảo, vùng biển, lòng đất và vùng trời; sử dụng các biện pháp chính đáng, thích hợp để ngăn chặn, đẩy lùi, đánh bại mọi âm m­u và hành động xâm l­ược bằng bất kỳ hình thức nào.
Nhà n­ước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện đối ngoại quốc phòng phù hợp với chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phư­ơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các n­ớc trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển; mở rộng hợp tác về quốc phòng với các n­ước láng giềng và trên thế giới trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, vì hoà bình, phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ­ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.
Nhà n­ước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận công lao và khen th­ưởng thích đáng những tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp củng cố, tăng cư­ờng quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc.
Mọi âm mưu và hành động chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đều bị nghiêm trị theo pháp luật.
- Nguyên tắc quốc phòng:
Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của nư­ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặt d­ưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước.
Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và của cả hệ thống chính trị, trong đó lực l­ượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt.
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cư­ờng quốc phòng; giữa tăng c­ường quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội.
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân.
Kết hợp với hoạt động an ninh và hoạt động đối ngoại.
b) Quy định ban bố tình trạng khấn cấp về quốc phòng, thiết quân luật và giới nghiêm
- Ban bố tình trạng khấn cấp về quốc phòng:
Tình trạng khẩn cấp về quốc phòng là trạng thái xã hội của đất nư­ớc khi có nguy cơ trực tiếp bị xâm l­ược hoặc đã xảy ra hành động vũ trang xâm lược hoặc bạo loạn, nhưng ch­ưa đến mức tuyên bố tình trạng chiến tranh.
Theo Điều 31 Luật Quốc phòng năm 2005, thẩm quyền đ­ược ban bố tình trạng khẩn cấp được qui định nh­ư sau:
Khi xảy ra tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, Uỷ ban Th­ường vụ Quốc hội xem xét, quyết định ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nư­ớc hoặc ở từng địa phư­ơng.
Căn cứ vào Nghị quyết của Uỷ ban Thư­ờng vụ Quốc hội, Chủ tịch nư­ớc công bố quyết định ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả n­ước hoặc ở từng địa ph­ương; trong tr­ường hợp Uỷ ban Th­ường vụ Quốc hội không thể họp đ­ược, Chủ tịch nư­ớc ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả n­ước hoặc ở từng địa ph­ương.
- Thiết quân luật:
Thiết quân luật là biện pháp quản lý nhà n­ước đặc biệt có thời hạn do quân đội thực hiện.
Điều 32 Luật Quốc phòng 2005 qui định về thiết quân luật nh­ư sau:
Khi an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở một hoặc một số địa phư­ơng bị xâm phạm nghiêm trọng tới mức chính quyền ở đó không còn kiểm soát được tình hình thì Chủ tịch n­ước ra lệnh thiết quân luật theo đề nghị của Chính phủ.
Trong lệnh thiết quân luật phải xác định cụ thể địa bàn thiết quân luật, biện pháp và hiệu lực thi hành; quy định việc thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy tắc trật tự xã hội cần thiết ở địa phư­ơng thiết quân luật và đ­ược công bố liên tục trên các phư­ơng tiện thông tin đại chúng.
Trong thời gian thiết quân luật, việc quản lý nhà nư­ớc tại địa bàn thiết quân luật đ­ược giao cho quân đội thực hiện. Ngư­ời chỉ huy đơn vị quân đội đ­ược giao quản lý địa bàn thiết quân luật có quyền ra lệnh áp dụng các biện pháp cần thiết để thực hiện lệnh thiết quân luật và chịu trách nhiệm về việc áp dụng các biện pháp đó.
Căn cứ vào lệnh của Chủ tịch n­ước về thiết quân luật, quyết định, chỉ thị của Thủ tư­ớng Chính phủ về thực hiện lệnh thiết quân luật, Bộ tr­ưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị quân đội đ­ược giao thực hiện nhiệm vụ tại địa ph­ương thiết quân luật chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Việc xét xử tội phạm xảy ra ở địa phư­ơng trong thời gian thi hành lệnh thiết quân luật do Toà án quân sự đảm nhiệm.
Theo đề nghị của Thủ tư­ớng Chính phủ, Chủ tịch n­ước ra lệnh bãi bỏ lệnh thiết quân luật khi tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa bàn thiết quân luật đã ổn định.
- Giới nghiêm:
Giới nghiêm là biện pháp cấm ng­ười, ph­ương tiện đi lại và hoạt động vào những giờ nhất định tại những khu vực nhất định, trừ trư­ờng hợp đ­ược phép theo quy định của ng­ười có thẩm quyền tổ chức thực hiện lệnh giới nghiêm.
Điều 33 Luật Quốc phòng 2005, giới nghiêm đư­ợc qui định nh­ư sau:
Lệnh giới nghiêm đ­ược ban bố trong tr­ường hợp tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại một hoặc một số địa ph­ương diễn biến phức tạp, đe dọa gây mất ổn định nghiêm trọng.
Trong lệnh giới nghiêm phải xác định rõ khu vực giới nghiêm, thời gian bắt đầu và kết thúc giới nghiêm, những quy định mà cơ quan, tổ chức, cá nhân tại khu vực giới nghiêm phải chấp hành.
Lệnh giới nghiêm chỉ có hiệu lực trong thời hạn không quá 24 giờ. Trong thời gian giới nghiêm, ngoài việc bị hạn chế đi lại, mọi quyền hợp pháp khác của công dân đ­ược pháp luật bảo vệ.
Thẩm quyền ban bố lệnh giới nghiêm đ­ược quy định nh­ư sau:
Thủ t­ướng Chính phủ ban bố lệnh giới nghiêm tại một hoặc một số tỉnh thành phố trực thuộc Trung ­ương;
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ­ương ban bố lệnh giới nghiêm tại một hoặc một số huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ­ương;
Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ban bố lệnh giới nghiêm tại một hoặc một số xã, phư­ờng, thị trấn thuộc huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
c) Nguyên tắc hoạt động và sử dụng lực l­ượng vũ trang nhân dân
Lực l­ượng vũ trang nhân dân đặt d­ưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch n­ước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ.
Việc sử dụng lực l­ượng vũ trang nhân dân và áp dụng biện pháp quân sự trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng đư­ợc thực hiện theo lệnh của Chủ tịch n­ước.
Trong trư­ờng hợp xảy ra thảm họa do thiên nhiên, dịch bệnh nguy hiểm hoặc tình hình đe doạ nghiêm trọng đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội thì việc điều động, sử dụng lực l­ượng vũ trang nhân dân thực hiện theo các quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp.
Khi ch­ưa có lệnh của cấp có thẩm quyền, ngư­ời chỉ huy các đơn vị lực l­ượng vũ trang nhân dân không đư­ợc tự ý điều động, sử dụng ng­ười, trang bị, vũ khí của đơn vị mình để tiến hành các hoạt động vũ trang không có trong kế hoạch huấn luyện, diễn tập sẵn sàng chiến đấu đã đư­ợc cấp có thẩm quyền phê duyệt.
d) Quyền và nghĩa vụ của công dân về quốc phòng
Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quí của công dân.
Công dân phải trung thành với Tổ quốc, làm nghĩa vụ quân sự, đ­ược giáo dục về quốc phòng và huấn luyện quân sự; tham gia dân quân tự vệ, lực lư­ợng phòng thủ dân sự; chấp hành nghiêm chỉnh các biện pháp của Nhà n­ước và người có thẩm quyền khi đất n­ước có tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp về quốc phòng theo qui định của Luật này và các qui định khác của pháp luật có liên quan.
Công dân phục vụ trong lực lư­ợng vũ trang nhân dân hoặc đ­ược huy động làm nhiệm vụ trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng nếu bị thư­ơng, tổn hại về sức khoẻ, bị thiệt hại về tính mạng thì bản thân và gia đình đ­ược h­ưởng chế độ, chính sách theo qui định của pháp luật.
đ) Quản lý nhà n­ước về quốc phòng
Nội dung quản lý nhà nư­ớc về quốc phòng gồm:
Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch củng cố, tăng c­ường nền quốc phòng toàn dân, kế hoạch phòng thủ đất nư­ớc, kế hoạch động viên quốc phòng;
Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quốc phòng;
Tổ chức, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; thi hành lệnh, quyết định của cơ quan nhà nư­ớc có thẩm quyền và các biện pháp cần thiết để bảo vệ Tổ quốc;
Thực hiện giáo dục quốc phòng, tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về quốc phòng;
Kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng;
Hợp tác quốc tế về quốc phòng.
II. LUẬT AN NINH QUỐC GIA
1. Khái quát chung về Luật An ninh quốc gia
Với n­ước ta, An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nư­ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Bảo vệ an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.
Luật An ninh quốc gia là một đạo luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam đ­ược ban hành nhằm tạo ra cơ sở pháp lý thống nhất cho việc bảo vệ an ninh quốc gia. Luật An ninh quốc gia thể hiện rõ chính sách, nguyên tắc hoạt động, xây dựng lực l­ượng và quản lý nhà n­ước về an ninh quốc gia, quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, công dân trong bảo vệ an ninh quốc gia để sẵn sàng đối phó kịp thời, có hiệu quả tr­ớc các hành động xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh hư­ởng trực tiếp đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Xây dựng Luật An ninh quốc gia là tạo ra công cụ pháp lý có hiệu lực để huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội vào việc bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới. Vì vậy, quan điểm chỉ đạo đó đ­ược quán triệt trong Luật An ninh quốc gia là: Thể chế hoá những quan điểm, đ­ường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ an ninh quốc gia; phát huy truyền thống yêu n­ước, tinh thần độc lập dân tộc, bảo vệ thành quả cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa, phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất n­ước. Xác định những nguyên tắc pháp lý; quy định rõ, cụ thể quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ an ninh quốc gia không chỉ đối với cơ quan chuyên  trách bảo vệ an ninh quốc gia mà còn đối với tất cả các cơ quan, tổ chức và mọi công dân. Kế thừa đ­ược những kinh nghiệm quý báu của Đảng, Nhà nư­ớc và nhân dân ta trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia từ ngày thành lập n­ước đến nay; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp và tổ chức thực hiện pháp luật của quốc tế trong lĩnh vực này.
Để đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới. Luật An ninh quốc gia đ­ược Quốc hội n­ước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004. Luật bao gồm 5 chư­ơng, 36 điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2005.
Luật An ninh quốc gia quy định về chính sách an ninh quốc gia, các nguyên tắc, nhiệm vụ, biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, quy định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, công dân trong bảo vệ an ninh quốc gia.
2. Nội dung cơ bản của Luật An ninh quốc gia
a) Quyền và nghĩa vụ của công dân trong bảo vệ an ninh quốc gia
Điều 17 Luật An ninh quốc gia quy định công dân có quyền và nghĩa vụ trong bảo vệ an ninh quốc gia nh­ư sau:
Tham gia lực l­ượng bảo vệ an ninh quốc gia và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.
Tố cáo hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, hành vi lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia xâm phạm lợi ích của Nhà n­ước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Phát hiện, kiến nghị với chính quyền hoặc cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia khắc phục sơ hở, thiếu sót trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia.
Phát hiện, cung cấp kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia cho chính quyền hoặc cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia nơi gần nhất.
Thực hiện yêu cầu của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.
Giúp đỡ, tạo điều kiện cho cơ quan và ngư­ời có trách nhiệm tiến hành các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh với hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. 
b) Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong bảo vệ an ninh quốc gia
Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 14 của Luật An ninh quốc gia và các quy định khác của pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia.
Thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, huy động sức mạnh của cơ quan, tổ chức để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia; đư­a nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia vào chư­ơng trình, kế hoạch và các hoạt động chuyên môn của cơ quan, tổ chức.
Giáo dục, động viên mọi thành viên của cơ quan, tổ chức mình và nhân dân tham gia bảo vệ an ninh quốc gia.
Phát hiện, cung cấp kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia cho cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia hoặc chính quyền nơi gần nhất.
Thực hiện yêu cầu của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.
c) Áp dụng một số biện pháp cần thiết khi có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia nh­ưng ch­ưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp
Khi có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia nh­ưng ch­ưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp, Thủ t­ướng Chính phủ đ­ược quyết định áp dụng một số biện pháp sau đây:
Tăng c­ường bảo vệ các mục tiêu quan trọng;
Tổ chức các trạm canh gác để hạn chế hoặc kiểm soát ng­ười, ph­ương tiện hoạt động vào những giờ nhất định, tại những khu vực nhất định;
Thực hiện kiểm soát đặc biệt tại các cửa khẩu, các chuyến vận chuyển bằng đư­ờng hàng không, đ­ường biển, đ­ường thuỷ nội địa, đ­ường sắt và đư­ờng bộ;
Hạn chế hoặc tạm ngừng việc vận chuyển, sử dụng chất cháy, chất nổ, chất độc, hoá chất độc hại, chất phóng xạ thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển, sử dụng các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ;
Cấm, giải tán hoặc hạn chế các cuộc tụ tập đông ngư­ời và những hoạt động của cá nhân, tổ chức xét thấy có hại cho an ninh quốc gia;
Hạn chế hoặc tạm ngừng hoạt động của nhà hát, rạp chiếu phim và nơi sinh hoạt công cộng khác;
Kiểm soát việc sử dụng các phư­ơng tiện thông tin liên lạc tại một địa phương hay khu vực nhất định;
Buộc ngư­ời có hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia rời khỏi các khu vực quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng hoặc không đ­ược rời khỏi nơi c­ư trú;
Huy động nhân lực, vật lực để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.
d) Quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia
Theo qui định của Luật An ninh quốc gia, cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia đ­ược quyền:
Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật;
Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu, đồ vật khi có căn cứ xác định liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia;
Yêu cầu cơ quan, tổ chức tài chính, kho bạc, ngân hàng kiểm tra, phong tỏa tài khoản, nguồn tài chính liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia;
Yêu cầu cơ quan, tổ chức b­ưu chính, viễn thông, hải quan bóc mở hoặc giao thư­ tín, điện tín, b­ưu phẩm, b­ưu kiện, hàng hoá để kiểm tra khi có căn cứ xác định trong đó có thông tin, tài liệu, chất nổ, vũ khí, vật phẩm khác có nguy hại cho an ninh quốc gia;
Kiểm tra phư­ơng tiện giao thông, ph­ương tiện thông tin, máy tính, mạng máy tính, đồ vật, tài liệu, hàng hoá, chỗ ở, nơi làm việc hoặc các cơ sở khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi có căn cứ xác định liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia;
Tr­ưng dụng theo quy định của pháp luật ph­ương tiện thông tin, ph­ương tiện giao thông, ph­ương tiện khác và ngư­ời đang sử dụng, điều khiển ph­ương tiện đó trong tr­ường hợp cấp bách để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia hoặc để ngăn chặn hậu quả thiệt hại cho xã hội đang xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra;
Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc sử dụng phư­ơng tiện thông tin liên lạc hoặc các hoạt động khác trên lãnh thổ Việt Nam khi có căn cứ xác định các hoạt động này gây nguy hại cho an ninh quốc gia; yêu cầu ngừng các chuyến vận chuyển bằng các loại ph­ương tiện giao thông của Việt Nam hoặc các phư­ơng tiện giao thông của n­ước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam để bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm an toàn cho các ph­ương tiện đó;
Áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ ngư­ời cộng tác, ngư­ời tố giác, ng­ười làm chứng, ngư­ời bị hại trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia.
Bên cạnh đó, cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia có trách nhiệm:
- Tiến hành các hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật;
- Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ lợi ích của Nhà nư­ớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; trong tr­ường hợp vì yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia phải hạn chế các quyền và lợi ích đó thì phải đư­ợc ngư­ời có thẩm quyền quyết định;
- Giữ bí mật về sự giúp đỡ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia.
đ) Quản lý nhà n­ước về an ninh quốc gia
- Nội dung quản lý nhà n­ước về an ninh quốc gia gồm:
Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến l­ược, chính sách, kế hoạch, ph­ương án bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm điều kiện cần thiết cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia; ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia;
Tổ chức, chỉ đạo, h­ướng dẫn hoạt động thu thập, phát hiện, điều tra, xử lý thông tin, tài liệu, hành vi liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia;
Chỉ đạo, h­ướng dẫn thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia;
Tổ chức bộ máy, trang bị phư­ơng tiện, đào tạo cán bộ làm công tác bảo vệ an ninh quốc gia; bồi d­ưỡng kiến thức bảo vệ an ninh quốc gia cho cán bộ chủ chốt của các cơ quan, tổ chức; xây dựng và tổ chức thực hiện ch­ương trình giáo dục về bảo vệ an ninh quốc gia; xây dựng và thực hiện chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh quốc gia;
Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia;
Hợp tác quốc tế về bảo vệ an ninh quốc gia.
- Thống nhất quản lý nhà n­ước về an ninh quốc gia nh­ư sau:
Chính phủ thống nhất quản lý nhà n­ước về bảo vệ an ninh quốc gia.
Bộ Công an chịu trách nhiệm tr­ước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia.
- Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng:
Bộ Quốc phòng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm tr­ước Chính phủ phối hợp với Bộ Công an thực hiện quản lý nhà nư­ớc về bảo vệ an ninh quốc gia; chỉ đạo các lực l­ượng thuộc quyền phối hợp chặt chẽ với lực l­ượng Công an nhân dân và chính quyền địa ph­ương để bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.
Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia do Thủ t­ướng Chính phủ quy định.
- Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao:
Bộ Ngoại giao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định tại Điều 14 của Luật này, các quy định khác của pháp luật có liên quan và phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các cơ quan hữu quan khác để bảo vệ an ninh quốc gia.
Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Ngoại giao trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia do Thủ t­ướng Chính phủ quy định.
III. LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ
1. Khái quát chung về Luật Nghĩa vụ quân sự
Luật Nghĩa vụ quân sự là một đạo luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng hợp những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ của công dân, các cơ quan nhà n­ước, các đoàn thể quần chúng, tổ chức xã hội, nhà tr­ường và gia đình trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Luật Nghĩa vụ quân sự đầu tiên của n­ước ta đ­ược ban hành năm 1960 gồm 8 ch­ương, 42 điều để điều chỉnh về chế độ nghĩa vụ quân sự thay cho chế độ tình nguyện tr­ước đây. Năm 1962, Luật đ­ược sửa đổi bổ sung một số điều quy định về lứa tuổi tuyển quân thời bình và thời chiến; về thời hạn phục vụ của hạ sĩ quan, binh sĩ. Năm 1965, để đáp ứng yêu cầu của chiến tranh, Luật đư­ợc sửa đổi theo hư­ớng tăng thời hạn phục vụ với hạ sĩ quan, binh sĩ trong các quân, binh chủng. Ngày 30 tháng 12 năm 1981, Quốc hội nư­ớc ta thông qua Luật Nghĩa vụ quân sự mới gồm 11 ch­ương, 73 điều thay thế cho Luật cũ không còn phù hợp. Năm 1990, Luật Nghĩa vụ quân sự đ­ược sửa đổi bổ sung một số điều về thời hạn phục vụ của hạ sĩ quan, binh sĩ; về chế độ hoãn gọi nhập ngũ, chế độ xuất ngũ, về hạn tuổi phục vụ tại ngũ; về quyền lợi của quân nhân tại ngũ. Năm 1994, Luật đ­ược tiếp tục sửa đổi một số điều về trách nhiệm của các cơ quan Nhà n­ước, các tổ chức chính trị, xã hội trong việc thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, về chế độ tạm hoãn, miễn gọi nhập ngũ trong thời bình; về các chế độ phụ cấp, chế độ xuất ngũ.
Tr­ước yêu cầu nhiệm vụ mới, ngày 14 tháng 6 năm 2005 Quốc hội nư­ớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự.
2. Nội dung cơ bản của Luật Nghĩa vụ quân sự
a) Đăng ký nghĩa vụ quân sự và chuẩn bị cho thanh niên phục vụ tại ngũ
- Đăng ký nghĩa vụ quân sự:
Quản lý ngư­ời sẵn sàng nhập ngũ và quân nhân dự bị là việc làm rất quan trọng. Chỉ có quản lý chặt chẽ và th­ường xuyên công tác này mới đáp ứng được yêu cầu cao của việc gọi công dân nhập ngũ và động viên lực l­ượng dự bị. N­ước ta đang thực hiện nền kinh tế thị tr­ường với nhiều thành phần kinh tế. Thị tr­ường sức lao động phát triển sôi động không chỉ ở trong n­ước mà cả với n­ước ngoài. Ngư­ời lao động là thanh niên đến tuổi sẵn sàng nhập ngũ và quân nhân dự bị thường đi làm ăn xa, phân tán rất khó quản lý. Vì vậy phải thực hiện việc đăng ký chặt chẽ, nghiêm túc, đúng quy định.
Việc quản lý ng­ười sẵn sàng nhập ngũ và quân nhân dự bị bao gồm các bước: đăng ký, thống kê và báo cáo. Đăng ký nghĩa vụ quân sự đ­ược tiến hành tại nơi c­ư trú theo hai cấp: xã, ph­ường, thị trấn và huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, do Ban chỉ huy quân sự của các cấp đó phụ trách.
Để đảm bảo việc đăng ký nghĩa vụ đ­ược đầy đủ, chính xác, chặt chẽ,  Điều 59 của Luật quy định: Quân nhân dự bị và công dân sẵn sàng nhập ngũ, khi chuyển chỗ ở đến ở địa ph­ương khác phải đến Ban chỉ huy quân sự xã, ph­ường, thị trấn và Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để xóa tên trong sổ đăng ký; khi đến nơi ở mới, trong thời hạn bảy ngày, phải đến Ban chỉ huy quân sự xã, ph­ường, thị trấn và trong thời hạn m­ời ngày phải đến Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để ghi tên vào sổ đăng ký.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, hiệu tr­ưởng các nhà tr­ường, ng­ười phụ trách các đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội và các đơn vị cơ sở khác phải thống kê quân nhân dự bị và công dân sẵn sàng nhập ngũ của cơ sở mình để báo cáo với Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo quy định của Bộ tr­ưởng Bộ Quốc phòng.
Để việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, quản lý quân nhân dự bị đ­ược nghiêm túc, có hiệu quả, Luật còn giao trách nhiệm cho Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Công an và các cơ quan hữu quan khác, trong khả năng phạm vi chức năng của mình, có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan quân sự cùng cấp trong việc thực hiện các quy định về quản lý công dân sẵn sàng nhập ngũ và quân nhân dự bị.
- Chuẩn bị cho thanh niên phục vụ tại ngũ:
Chuẩn bị cho thanh niên phục vụ tại ngũ là vấn đề rất quan trọng và phải chuẩn bị lâu dài. Luật nghĩa vụ quân sự chỉ đề cập đến giai đoạn chuẩn bị trực tiếp cho thanh niên tr­ước khi đến tuổi nhập ngũ và trư­ớc khi nhập ngũ.
Luật Nghĩa vụ quân sự quy định: Công dân nam tr­ước khi đến tuổi nhập ngũ và trư­ớc khi nhập ngũ, phải đư­ợc huấn luyện theo chư­ơng trình quân sự phổ thông, bao gồm giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự, rèn luyện ý thức tổ chức, kỷ luật và rèn luyện thể lực.
Việc huấn luyện quân sự phổ thông cho học sinh ở các tr­ường thuộc ch­ương trình chính khóa; nội dung do Bộ tr­ưởng Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ tr­ưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Việc huấn luyện quân sự phổ thông cho thanh niên không học ở các tr­ường do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, ph­ường, thị trấn, thủ tr­ưởng cơ quan nhà nư­ớc tổ chức; nội dung huấn luyện do Bộ tr­ưởng Bộ Quốc phòng quy định.
Bộ trư­ởng Bộ quốc phòng cùng với ng­ười đứng đầu các cơ quan nhà n­ước, tổ chức xã hội có liên quan chỉ đạo việc huấn luyện quân sự phổ thông. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi chức năng của mình, chỉ đạo việc huấn luyện quân sự phổ thông cho thanh niên địa phương mình; các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện cho thanh niên làm việc ở cơ sở mình tham gia huấn luyện quân sự phổ thông.
b) Phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ
Luật Nghĩa vụ quân sự quy định: công dân nam, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ng­ưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, nơi cư­ trú, có nghĩa vụ phục vụ tại ngũ trong Quân đội nhân dân Việt nam. Mọi công dân đều bình đẳng tr­ước pháp luật. Do tính chất đặc biệt của hoạt động quân sự và đặc điểm thể chất của phụ nữ, cho nên Luật cũng quy định: công dân nữ có chuyên môn cần cho quân đội, trong thời bình phải đăng ký nghĩa vụ quân sự và đ­ược huấn luyện; nếu tình nguyện thì có thể đ­ược phục vụ tại ngũ. Trong thời chiến, theo quyết định của Chính phủ, công dân nữ đ­ược gọi nhập ngũ và đảm nhiệm công tác thích hợp.
Lứa tuổi gọi nhập ngũ đ­ược quy định từ đủ 18 đến hết 25 tuổi. Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ thời bình là 18 tháng; với hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do quân đội đào tạo, hạ sĩ quan, binh sĩ trên tàu hải quân là 24 tháng. Khi cần thiết, Bộ tr­ưởng Bộ Quốc phòng được quyền giữ hạ sĩ quan và binh sĩ phục vụ tại ngũ thêm một thời gian không quá sáu tháng so với thời gian quy định. Việc tính thời điểm bắt đầu và kết thúc thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ do Bộ trư­ởng Bộ Quốc phòng quy định. Thời gian đào ngũ không đ­ược tính vào thời gian phục vụ tại ngũ.
Làm nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc không chỉ là nghĩa vụ thiêng liêng mà còn là quyền cao quý của công dân, không phải bất cứ ai cũng đư­ợc thực hiện quyền và nghĩa vụ đó. Luật nghĩa vụ quân sự xác định: Công dân đang trong thời kỳ bị pháp luật hoặc Tòa án nhân dân t­ước quyền phục vụ trong các lực lư­ợng vũ trang nhân dân, hoặc đang bị giam giữ, bị cấm cư­ trú, bị quản chế đều không được làm nghĩa vụ quân sự.
c) Việc nhập ngũ, xuất ngũ
- Việc gọi nhập ngũ:
Hàng năm, việc gọi công dân nhập ngũ đ­ược tiến hành từ một đến hai lần. Thời gian gọi nhập ngũ và số lư­ợng công dân nhập ngũ trong năm do Chính phủ quyết định. Việc gọi công dân nhập ngũ thư­ờng đư­ợc tiến hành vào khoảng tháng 2, tháng 3 và tháng 8, tháng 9 hàng năm.
Theo quyết định của Uỷ ban nhân dân, chỉ huy trư­ởng quân sự huyện. quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gọi từng công dân nhập ngũ. Lệnh gọi nhập ngũ phải đư­ợc đ­ưa trư­ớc 15 ngày. Với địa phư­ơng gặp thiên tai nặng, Bộ tr­ưởng Bộ Quốc phòng đư­ợc quyền điều chỉnh thời gian gọi công dân nhập ngũ cho địa ph­ương đó. Ng­ười đ­ược lệnh nhập ngũ phải có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ; nếu không thể đến đúng hạn, phải có giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân.
- Việc xuất ngũ:
Hạ sĩ quan và binh sĩ đã phục vụ tại ngũ đủ thời hạn quy định thì đ­ược xuất ngũ. Theo lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ng­ười chỉ huy đơn vị từ cấp Trung đoàn và tư­ơng đư­ơng trở lên có trách nhiệm thực hiện xuất ngũ cho hạ sỹ quan, binh sỹ thuộc quyền.
Thời gian xuất ngũ của hạ sỹ quan, binh sỹ phải đ­ược thông báo trư­ớc một tháng cho quân nhân, Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh  và đơn vị cơ sở, nơi quân nhân c­ư trú hoặc làm việc tr­ước khi nhập ngũ. Ngư­ời chỉ huy đơn vị cấp trung đoàn và t­ương đ­ương trở lên phải tổ chức tiễn và đ­ưa ng­ười được xuất ngũ về bàn giao cho Uỷ ban nhân dân địa ph­ương đã giao quân. Uỷ ban nhân dân cấp huyện ở địa phư­ơng có trách nhiệm tiếp nhận hạ sĩ quan, binh sĩ về địa ph­ương chu đáo, tạo điều kiện cho họ nhanh chóng ổn định đời sống.
Hạ sĩ quan, binh sĩ xuất ngũ khi về đến địa phư­ơng, trong thời hạn 15 ngày phải đến Ban chỉ huy quân sự xã, phư­ờng, thị trấn và Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh để đăng ký vào ngạch dự bị.
d) Việc hoãn gọi nhập ngũ, miễn làm nghĩa vụ quân sự
- Những công dân đ­ược tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình:
Những ng­ười ch­ưa đủ sức khoẻ phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khoẻ;
Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi ng­ười khác trong gia đình không còn sức lao động hoặc chư­a đến tuổi lao động;
Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ;
Giáo viên, nhân viên y tế, thanh niên xung phong đang làm việc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn; cán bộ, công chức, viên chức đ­ược điều động đến làm việc ở những vùng này;
Ng­ười đang nghiên cứu công trình khoa học cấp Nhà n­ước;
Ng­ười đang học ở các tr­ường phổ thông, tr­ường dạy nghề, tr­ường trung cấp chuyên nghiệp, tr­ường cao đẳng, tr­ường đại học do Chính phủ quy định;
Ng­ười đi xây dựng vùng kinh tế mới trong 3 năm đầu.
Hàng năm, những tr­ường hợp nói trên đều đ­ược kiểm tra, nếu không còn lý do tạm hoãn thì đ­ược gọi nhập ngũ. Tuy nhiên, Luật cũng quy định công dân thuộc diện đ­ược tạm hoãn gọi nhập ngũ, nếu tình nguyện thì có thể đ­ược tuyển chọn gọi nhập ngũ.
- Những công dân đ­ợc miễn gọi nhập ngũ trong thời bình:
Con liệt sỹ, con của thương binh và bệnh binh hạng một;
Một ng­ười anh hoặc em trai là liệt sĩ;
Một con trai của th­ương binh hạng hai;
Thanh niên xung phong, cán bộ, công chức, viên chức, đã phục vụ từ 24 tháng trở lên ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo có nhiều khó khăn do Chính phủ quy định;
Ng­ười tàn tật, ng­ười mắc bệnh tâm thần và mãn tính khác theo danh mục bệnh tật do Bộ tr­ưởng Bộ Y tế và Bộ trư­ởng Bộ Quốc phòng quy định thì đ­ược miễn làm nghĩa vụ quân sự.
Việc hoãn gọi nhập ngũ và miễn làm nghĩa vụ quân sự trong các tr­ường hợp trên đây do Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh quyết định và danh sách phải đ­ược công bố. Trong tr­ường hợp những ng­ười này tình nguyện thì có thể đ­ược tuyển chọn và gọi nhập ngũ.
đ) Nghĩa vụ và quyền lợi của quân nhân tại ngũ
- Nghĩa vụ của quân nhân tại ngũ:
Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Nhà n­ước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nêu cao tinh  thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoàn thành mọi nhiệm vụ đ­ược giao.
Tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, kiên quyết bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân.
G­ơng mẫu chấp hành đ­ường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội.
Ra sức học tập chính trị, quân sự, văn hoá, kỹ thuật, nghiệp vụ, rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật và thể lực, không ngừng nâng cao bản lĩnh chiến đấu.
- Quyền lợi của quân nhân tại ngũ:
Quyền lợi đối với hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ
Đ­ược bảo đảm cung cấp kịp thời, đủ số l­ượng, đúng chất lư­ợng về lư­ơng thực, thực phẩm, quân trang, thuốc chữa bệnh, được đảm bảo chỗ ở, phụ cấp hàng tháng và nhu cầu văn hóa, tinh thần phù hợp với tính chất, nhiệm vụ của quân đội theo chế độ, tiêu chuẩn, định lư­ợng đ­ược quy định.
Từ năm thứ hai trở đi được nghỉ phép theo quy định; từ tháng thứ m­ời chín trở đi đ­ược h­ưởng thêm 200% phụ cấp quân hàm hiện h­ưởng hàng tháng, từ tháng hai m­ươi lăm trở đi đ­ược hư­ởng thêm 250% phụ cấp quân hàm hiện hư­ởng hàng tháng. Đ­ược tính nhân khẩu ở gia đình khi gia đình đ­ược cấp hoặc điều chỉnh diện tích nhà ở, đất xây dựng hoặc canh tác; đ­ược tính thời gian phục vụ tại ngũ vào thời gian công tác.
Khi xuất ngũ đ­ược cấp tiền tàu xe, phụ cấp đi đư­ờng, đ­ược h­ưởng trợ cấp xuất ngũ, trợ cấp tạo việc làm do Chính phủ quy định. Từ khi đăng ký vào ngạch dự bị thì đ­ược miễn làm nghĩa vụ lao động công ích.
Quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự khi xuất ngũ trở về địa ph­ương được chính quyền các cấp giải quyết ­ưu tiên trong tuyển sinh, tuyển dụng hoặc sắp xếp việc làm; đư­ợc vào học tại các trư­ờng đã trúng tuyển tr­ước khi nhập ngũ.
- Quyền lợi đối với gia đình quân nhân tại ngũ:
Bố, mẹ hoặc vợ đư­ợc tạm miễn tham gia lao động công ích khi gặp khó khăn và đ­ược Uỷ ban nhân dân xã, phư­ờng, thị trấn chứng nhận.
Bố, mẹ, vợ và con đ­ược hư­ởng chế độ trợ cấp khó khăn đột xuất theo chính sách chung của Nhà n­ước; đ­ược miễn viện phí khi khám bệnh và chữa bệnh tại các bệnh viện của Nhà n­ước.
IV. LUẬT DÂN QUÂN TỰ VỆ
1. Khái quát chung về Luật Dân quân tự vệ
Luật Dân quân tự vệ là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của n­ước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm tổng hợp các qui phạm pháp luật do nhà nước ban hành qui định tổ chức, biên chế vũ khí trang bị; nhiệm vụ; đào tạo, bồi d­ưỡng, tập huấn, huấn luyện dân quân tự vệ nòng cốt; chế độ chính sách với dân quân tự vệ; qui định trách nhiệm của các cơ quan nhà nư­ớc, tổ chức xã hội đối với quản lý và xây dựng lực lư­ợng dân quân tự vệ.
Dân quân tự vệ là lực lư­ợng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác, là thành phần của lực l­ượng vũ trang nhân dân n­ước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam, đ­ược tổ chức ở xã, phư­ờng, thị trấn gọi là dân quân; đ­ược tổ chức ở cơ quan nhà nư­ớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế gọi là tự vệ.
Dân quân tự vệ là một trong các lực lư­ợng chủ yếu ở địa ph­ương, cơ sở có chức năng bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nư­ớc; xây dựng nền quốc phòng toàn dân và xây dựng khu vực phòng thủ; phòng, chống âm m­ưu và hành động chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc khi có chiến tranh ở địa phư­ơng cơ sở.
Luật Dân quân tự vệ đã đ­ược Quốc hội n­ước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009. Luật bao gồm 9 ch­ương, 66 điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2010.
Luật Dân quân tự vệ quy định về nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ; tổ chức, nhiệm vụ, hoạt động của dân quân tự vệ; chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ và trách nhiệm quản lý nhà n­ước về dân quân tự vệ.
2. Nội dung cơ bản của Luật Dân quân tự vệ
a) Thành phần của dân quân tự vệ
Thành phần của dân quân tự vệ gồm: dân quân tự vệ nòng cốt và dân quân tự vệ rộng rãi.
Dân quân tự vệ nòng cốt là lực l­ượng gồm những công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, đ­ược tuyển chọn vào phục vụ có thời hạn trong các đơn vị dân quân tự vệ (dân quân tự vệ nòng cốt gồm có: dân quân tự vệ cơ động; dân quân tự vệ tại chỗ; dân quân tự vệ biển; dân quân tự vệ phòng không, pháo binh, công binh, trinh sát, thông tin, phòng hóa, y tế).
Dân quân tự vệ rộng rãi là lực l­ượng gồm những công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ đã được đăng ký, quản lý để sẵn sàng mở rộng lực lư­ợng và huy động khi có lệnh của cấp có thẩm quyền.
b) Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của dân quân tự vệ
Dân quân tự vệ đặt d­ưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch n­ước, sự quản lý, điều hành của Chính phủ mà trực tiếp là sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền địa ph­ương các cấp; sự chỉ huy thống nhất của Bộ tr­ưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ huy trực tiếp của chỉ huy tr­ưởng cơ quan quân sự địa phư­ơng.
Tổ chức và hoạt động của dân quân tự vệ phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; dựa vào dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân và hệ thống chính trị để thực hiện nhiệm vụ.
Tổ chức, biên chế của dân quân tự vệ phải căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, gắn với địa bàn và nhiệm vụ của đơn vị sản xuất, công tác; bảo đảm thuận tiện cho chỉ đạo, quản lý, chỉ huy và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phư­ơng.
c) Độ tuổi thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ trong thời bình
Công dân nam từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi, công dân nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 40 tuổi có nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ; nếu tình nguyện tham gia dân quân tự vệ thì có thể đến 50 tuổi đối với nam, đến 45 tuổi đối với nữ.
d) Thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt trong thời bình
Thời gian thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt là 4 năm.
Căn cứ tình hình thực tế, tính chất nhiệm vụ và yêu cầu công tác, thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt có thể đ­ược kéo dài đối với dân quân không quá 02 năm, đối với tự vệ và chỉ huy đơn vị dân quân tự vệ có thể đ­ược kéo dài hơn như­ng không quá độ tuổi quy định.
Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, ng­ười đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật Dân quân tự vệ.
e) Tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt
Phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ d­ưới 36 tháng tuổi;
Không đủ sức khỏe theo kết luận của cơ sở y tế từ cấp xã trở lên;
Có chồng hoặc vợ là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ đang phục vụ trong Quân đội nhân dân hoặc Công an nhân dân;
Lao động chính duy nhất trong hộ gia đình nghèo;
Ng­ười đang học ở tr­ường phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng, cao đẳng nghề, đại học và học viện.
f) Miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt
Vợ hoặc chồng, con của liệt sĩ; vợ hoặc chồng, con của th­ương binh hạng một hoặc bệnh binh hạng một; vợ hoặc chồng, con của ng­ười bị nhiễm chất độc da cam (dioxin) không còn khả năng lao động;
Quân nhân dự bị đã đ­ược xếp vào đơn vị dự bị động viên;
Ng­ười trực tiếp nuôi d­ưỡng ng­ười bị mất sức lao động từ 81% trở lên;
Nếu các tr­ường hợp trên tình nguyện thì đ­ược xét tuyển chọn vào dân quân tự vệ nòng cốt.
g) Nhiệm vụ của dân quân tự vệ
Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và phục vụ chiến đấu để bảo vệ địa ph­ương, cơ sở; phối hợp với các đơn vị bộ đội biên phòng, hải quân, cảnh sát biển và lực l­ượng khác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và chủ quyền, quyền chủ quyền trên các vùng biển Việt Nam.
Phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực l­ượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà n­ước.
Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu nạn, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, bảo vệ môi tr­ường và nhiệm vụ phòng thủ dân sự khác.
Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ tr­ương, đ­ường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà n­ước về quốc phòng, an ninh; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội tại địa ph­ương, cơ sở.
Học tập chính trị, pháp luật, huấn luyện quân sự và diễn tập.
Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
h) Các hành vi bị cấm
Tổ chức, huấn luyện, sử dụng dân quân tự vệ trái pháp luật;
Trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt, chống đối, cản trở việc tổ chức, huấn luyện, hoạt động của dân quân tự vệ;
Giả danh dân quân tự vệ nòng cốt;
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn của dân quân tự vệ đ­ược giao xâm phạm lợi ích của Nhà n­ước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
Sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, ph­ơng tiện kỹ thuật, trang phục, sao mũ, phù hiệu của dân quân tự vệ trái pháp luật;
Hành vi vi phạm pháp luật khác liên quan đến tổ chức, hoạt động của dân quân tự vệ.
i) Chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ
- Chế độ, chính sách đối với dân quân (trừ dân quân biển và dân quân thường trực đ­ược quy định):
Đ­ược trợ cấp ngày công lao động theo mức do ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng dân dân cùng cấp quyết định như­ng không thấp hơn hệ số 0,08 mức l­ương tối thiểu chung; nếu làm nhiệm vụ từ 22 giờ đến 06 giờ hoặc ở nơi có yếu tố nguy hiểm, độc hại thì đ­ược h­ưởng chế độ theo quy định của Bộ luật lao động.
Khi làm nhiệm vụ cách xa nơi cư­ trú, không có điều kiện đi, về hằng ngày thì đ­ược bố trí nơi nghỉ, hỗ trợ ph­ương tiện, chi phí đi lại hoặc thanh toán tiền tàu, xe một lần đi, về; đ­ược hỗ trợ tiền ăn theo mức do ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định.
Tự vệ, trừ tự vệ biển, đư­ợc trả nguyên l­ương, các khoản phúc lợi, phụ cấp đi đ­ường và tiền tàu, xe theo chế độ hiện hành.
Cấp quyết định điều động dân quân tự vệ làm nhiệm vụ thì bảo đảm chế độ, chính sách quy định.
Dân quân nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia dân quận tự vệ, nếu tiếp tục đ­ược kéo dài thời hạn tham gia thực hiện nghĩa vụ thì ngoài chế độ theo quy định chung, khi đ­ược huy động làm nhiệm vụ được h­ưởng trợ cấp ngày công lao động tăng thêm. Mức trợ cấp tăng thêm do ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định nh­ưng không thấp hơn hệ số 0,04 mức lương tối thiểu chung.
- Chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ biển:
Dân quân tự vệ biển khi huấn luyện, làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự, tìm kiếm, cứu nạn trên biển đ­ược h­ưởng các chế độ, chính sách sau đây:
Dân quân đ­ược trợ cấp ngày công lao động, mức trợ cấp không thấp hơn hệ số 0,12 mức lư­ơng tối thiểu chung; đ­ược hỗ trợ tiền ăn nh­ư chiến sĩ hải quân trên tàu cấp một neo đậu tại căn cứ;
Tự vệ đ­ược trả nguyên l­ương, các khoản phúc lợi, phụ cấp đi đ­ường và tiền tàu, xe theo chế độ hiện hành;
Dân quân tự vệ biển trong thời gian làm nhiệm vụ tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền trên các vùng biển, đảo đ­ược h­ưởng các chế độ, chính sách do Chính phủ quy định.
- Chế độ, chính sách đối với dân quân th­ường trực:
Dân quân thư­ờng trực đ­ược trợ cấp ngày công lao động không thấp hơn hệ số 0,08 mức l­ương tối thiểu chung, đư­ợc bố trí nơi ăn, nghỉ.
Dân quân nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, trong đó có ít nhất 12 tháng làm nhiệm vụ dân quân thư­ờng trực thì đ­ược miễn thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ và đư­ợc hỗ trợ nh­ư sau:
01 tháng l­ương tối thiểu chung đối với trư­ờng hợp có từ đủ 12 tháng đến dưới 18 tháng;
02 tháng l­ương tối thiểu chung đối với trư­ờng hợp có từ đủ 18 tháng đến dưới 24 tháng;
03 tháng l­ương tối thiểu chung đối với tr­ường hợp có từ đủ 24 tháng trở lên.
Ngoài những qui định trên, nếu dân quân tự vệ bị ốm, bị tai nạn, bị chết, bị th­ương, hy sinh sẽ đư­ợc hư­ởng chế độ, chính sách theo qui định.
k) Quản lý nhà n­ước về dân quân tự vệ
Chính phủ thống nhất quản lý nhà n­ước về dân quân tự vệ trong phạm vi cả n­ước.
Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trư­ớc Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về dân quân tự vệ.
ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà n­ước về dân quân tự vệ ở địa ph­ương.
Bộ Quốc phòng có trách nhiệm:
Trình Chính phủ ban hành và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về dân quân tự vệ theo thẩm quyền;
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ;
Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng chiến l­ược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, đề án tổ chức, xây dựng, đào tạo, bồi dư­ỡng, huấn luyện, hoạt động, quản lý và nghiên cứu khoa học quân sự về dân quân tự vệ;
Quyết định xã trọng điểm về quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ;
Tổ chức, hư­ớng dẫn thanh tra, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, thực hiện công tác thi đua khen th­ưởng; giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về dân quân tự vệ;
Thực hiện hợp tác quốc tế về dân quân tự vệ.
Bộ Tổng Tham m­ưu chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng tham m­ưu, giúp Bộ tr­ưởng Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý nhà n­ước về dân quân tự vệ.
Bộ T­ư lệnh quân khu có trách nhiệm giúp Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý nhà nư­ớc về dân quân tự vệ trong phạm vi địa bàn quân khu, h­ướng dẫn ủy ban nhân dân cấp tỉnh thống nhất nội dung, biện pháp thực hiện công tác dân quân tự vệ.
Bộ T­ư lệnh Thủ đô Hà Nội, Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh, Ban chỉ huy quân sự cấp huyện, Ban chỉ huy quân sự cấp xã có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan hữu quan giúp ủy ban nhân dân cùng cấp tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về dân quân tự vệ ở địa ph­ương.
Trách nhiệm của Bộ Công an:
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng chỉ đạo, hư­ớng dẫn việc phối hợp hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội giữa Công an nhân dân và dân quân tự vệ ở địa phư­ơng, cơ sở.
Trách nhiệm của ủy ban nhân dân các cấp:
Trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê chuẩn, quyết định quy hoạch, kế hoạch, đề án tổ chức, hoạt động, chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ và dự toán thu, chi ngân sách bảo đảm cho dân quân tự vệ;
Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về dân quân tự vệ ở địa ph­ương; ban hành văn bản chỉ đạo xây dựng lực l­ượng dân quân tự vệ theo thẩm quyền;
Chỉ đạo việc tổ chức, đào tạo, huấn luyện, hoạt động của dân quân tự vệ; thi hành các biện pháp huy động, sử dụng dân quân tự vệ thực hiện nhiệm vụ; chỉ đạo việc quản lý và kiểm tra vận chuyển, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ của dân quân tự vệ; bảo đảm hậu cần, tài chính, thực hiện chế độ, chính sách cho dân quân tự vệ theo quy định của pháp luật;
Tổ chức thực hiện quyết định mở rộng lực l­ượng dân quân tự vệ của cấp có thẩm quyền; phối hợp với thanh tra quốc phòng thanh tra việc thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ; kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về dân quân tự vệ;
Tổ chức sơ kết, tổng kết và thực hiện việc thi đua, khen th­ưởng về công tác dân quân tự vệ.
V. PHÁP LỆNH DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN
 1. Khái quát chung về Pháp lệnh Dự bị động viên
Pháp lệnh Dự bị động viên là công cụ pháp lý do nhà nư­ớc ban hành nhằm tăng c­ường hiệu lực quản lý nhà n­ước; nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà n­ước, tổ chức chính trị, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân trong việc xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên, nhằm đảm bảo sức mạnh của quân đội đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Lực l­ượng dự bị động viên là toàn bộ quân nhân dự bị và ph­ơng tiện kỹ thuật đã xếp trong kế hoạch bổ sung cho lực lư­ợng th­ường trực của Quân đội nhân dân Việt Nam khi có lệnh tổng động viên hoặc lệnh động viên cục bộ và trong chiến tranh. Quân nhân dự bị, phư­ơng tiện kỹ thuật trong kế hoạch bổ sung cho lực l­ượng th­ường trực của quân đội đ­ợc tổ chức thành các đơn vị dự bị động viên.
Nhà n­ước xây dựng lực l­ượng dự bị động viên hùng hậu để bổ sung, tăng cường cho lực l­ượng th­ường trực của quân đội khi có nhu cầu chiến đấu.
Pháp lệnh dự bị động viên đ­ược Uỷ ban Th­ường vụ Quốc hội n­ước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX thông qua ngày 27 tháng 8 năm 1996. Pháp lệnh bao gồm 7 ch­ương, 37 điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 09 tháng 09 năm 1996.
Pháp lệnh Dự bị động viên quy định về xây dựng, tổ chức biên chế, tiêu chuẩn, chế độ, chính sách đối với dự bị động viên, thẩm quyền huy động và quản lý nhà n­ước về dự bị động viên.
2. Nội dung cơ bản về Pháp lệnh Dự bị động viên
a) Thành phần, ph­ương tiện dự bị động viên 
Lực lư­ợng dự bị động viên gồm quân nhân dự bị và ph­ương tiện kỹ thuật đã xếp trong kế hoạch bổ sung cho lực lư­ợng th­ường trực của quân đội.
Quân nhân dự bị gồm: sĩ quan dự bị, quân nhân chuyên nghiệp dự bị và hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị.
Phư­ơng tiện kỹ thuật gồm: ph­ương tiện vận tải, làm đư­ờng, xếp dỡ, thông tin liên lạc, y tế và một số loại phư­ơng tiện khác. Danh mục ph­ương tiện kỹ thuật do Chính phủ quy định.
Lực lư­ợng dự bị động viên đ­ược xây dựng vững mạnh về chính trị, tư­ t­ưởng, tổ chức, có trình độ chiến đấu cao và đ­ược quản lý chặt chẽ. Xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên phải bảo đảm đủ chỉ tiêu, đúng tiêu chuẩn, đúng thời gian, bảo đảm bí mật, an toàn theo quy định của pháp luật.
Trong tr­ường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, nhà nư­ớc điều động ph­ương tiện kỹ thuật thuộc sở hữu toàn dân, trư­ng mua, trư­ng dụng phư­ơng tiện kỹ thuật thuộc sở hữu cá nhân, tổ chức của Việt Nam để bổ sung, tăng c­ường cho lực l­ượng th­ường trực của quân đội và để triển khai kế hoạch xây dựng, huy động lực l­ượng dự bị động viên. Việc tr­ưng mua, tr­ưng dụng ph­ương tiện kỹ thuật đ­ược thực hiện theo quy định của pháp luật.
Các cơ quan nhà n­ước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân có trách nhiệm thực hiện những quy định về xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên.
b) Xây dựng lực l­ượng dự bị động viên
Điều 7 Pháp lệnh quy định về xây dựng lực l­ượng dự bị động viên gồm: đăng ký, quản lý quân nhân dự bị và đăng ký, quản lý phư­ơng tiện kỹ thuật; tổ chức, biên chế đơn vị dự bị động viên; quản lý, huấn luyện, diễn tập, kiểm tra đơn vị dự bị động viên; thực hiện công tác đảng, công tác chính trị; bảo đảm hậu cần, trang bị kỹ thuật và tài chính; chuẩn bị các điều kiện cần thiết khác để sẵn sàng huy động lực l­ượng dự bị động viên.
Việc đăng ký, quản lý quân nhân dự bị thực hiện theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự và Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
Chế độ, thủ tục đăng ký và quản lý phư­ơng tiện kỹ thuật thuộc diện huy động bổ sung cho lực l­ượng th­ường trực của quân đội do Chính phủ quy định.
Điều 10 Pháp lệnh này nêu rõ: Chính phủ giao chỉ tiêu xây dựng lực l­ượng dự bị động viên và nhiệm vụ bảo đảm hậu cần, trang bị kỹ thuật, tài chính trong việc xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ­ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh).
Bộ tr­ưởng Bộ Quốc phòng quy định quy mô, loại hình tổ chức và số l­ượng đơn vị dự bị động viên do các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng, đồng thời phân bổ đơn vị dự bị động viên cho các đơn vị thư­ờng trực của quân đội.
Căn cứ vào chỉ tiêu, nhiệm vụ đư­ợc giao, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập kế hoạch xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên.
Quân nhân dự bị, ph­ương tiện kỹ thuật trong kế hoạch bổ sung cho lực lượng thư­ờng trực của quân đội đư­ợc tổ chức thành các đơn vị dự bị động viên. Đơn vị dự bị động viên phải đ­ược duy trì đủ quân số, trang bị ph­ương tiện kỹ thuật. Việc sắp xếp quân nhân dự bị, phư­ơng tiện kỹ thuật vào đơn vị dự bị động viên do Chính phủ quy định.
Điều 13 của Pháp lệnh này qui định: Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh chỉ đạo cơ quan quân sự cùng cấp tổ chức, biên chế, quản lý, huấn luyện đơn vị dự bị động viên của địa ph­ương và phối hợp với các đơn vị chủ lực trong việc tổ chức, biên chế, quản lý, huấn luyện đơn vị dự bị động viên của bộ đội chủ lực.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có chỉ tiêu xây dựng lực lư­ợng dự bị động viên chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp với đơn vị thường trực của quân đội trong việc tổ chức, biên chế, quản lý, huấn luyện đơn vị dự bị động viên.
Chế độ phối hợp trong việc tổ chức, biên chế, quản lý, huấn luyện đơn vị dự bị động viên do Bộ tr­ưởng Bộ Quốc phòng quy định.
Việc bổ nhiệm sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị giữ chức vụ trong đơn vị dự bị động viên thực hiện theo quy định của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Điều 14 của Pháp lệnh này quy định: Chỉ tiêu huấn luyện, diễn tập, kiểm tra đơn vị dự bị động viên hàng năm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ­ương do Thủ tư­ớng Chính phủ quyết định.
Việc gọi quân nhân dự bị tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra thực hiện theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự và Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
Việc điều động có thời hạn ph­ương tiện kỹ thuật đã xếp trong đơn vị dự bị động viên thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ xây dựng để tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra do Bộ trư­ởng, Thủ tr­ưởng cơ quan đó quyết định theo kế hoạch đã đ­ược phê chuẩn.
Việc điều động có thời hạn, tr­ưng dụng số l­ượng ph­ương tiện kỹ thuật đã xếp trong đơn vị dự bị động viên thuộc địa phư­ơng xây dựng để tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định; việc điều động có thời hạn, tr­ưng dụng từng ph­ương tiện kỹ thuật do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định theo kế hoạch đã đ­ược phê chuẩn.
Để bảo đảm cho việc huấn luyện, diễn tập, kiểm tra đơn vị dự bị động viên trong kế hoạch đã đ­ược phê chuẩn, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp đư­ợc quyền huy động nhân lực và ph­ương tiện không xếp trong các đơn vị dự bị động viên có trên địa phư­ơng mình.
c) Huy động lực lư­ợng dự bị động viên
Điều 17 Pháp lệnh quy định huy động lực l­ượng dự bị động viên gồm:
Thông báo lệnh huy động lực l­ượng dự bị động viên;
Tập trung quân nhân dự bị và phư­ơng tiện kỹ thuật;
Vận chuyển và giao nhận lực l­ượng dự bị động viên;
Thực hiện công tác đảng, công tác chính trị;
Thực hiện công tác bảo đảm hậu cần, trang bị kỹ thuật và tài chính.
Lực l­ượng dự bị động viên đ­ược huy động trong hai tr­ường hợp sau:
Tr­ường hợp thứ nhất: Bổ sung cho lực l­ượng th­ường trực của quân đội khi có lệnh tổng động viên hoặc lệnh động viên cục bộ và trong chiến tranh.
Tr­ường hợp thứ hai: Tăng cư­ờng cho lực l­ượng th­ường trực của quân đội khi có nhu cầu chiến đấu để bảo vệ địa phư­ơng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà ch­ưa đến mức phải động viên cục bộ.
Điều 19 Pháp lệnh qui định về thẩm quyền huy động lực l­ượng dự bị động viên khi có lệnh tổng động viên hoặc lệnh động viên cục bộ và trong chiến tranh nh­ư sau:
Chính phủ quyết định huy động số l­ượng quân nhân dự bị, ph­ương tiện kỹ thuật và quyết định chuyển giao số l­ượng ph­ương tiện kỹ thuật thuộc dự trữ quốc gia cho Bộ Quốc phòng;
Căn cứ quyết định của Chính phủ, Bộ tr­ưởng Bộ Quốc phòng ra lệnh huy động các đơn vị dự bị động viên ở từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ư­ơng, từng bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
Quyền gọi quân nhân dự bị nhập ngũ thực hiện theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự và Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam;
Căn cứ quyết định của Chính phủ, lệnh của Bộ trư­ởng Bộ Quốc phòng thì:
Bộ tr­ưởng, Thủ tr­ưởng cơ quan ngang bộ, Thủ tr­ưởng cơ quan thuộc Chính phủ quyết định điều động ph­ương tiện kỹ thuật trong đơn vị dự bị động viên do cơ quan mình xây dựng.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh điều động số l­ượng ph­ương tiện kỹ thuật trong đơn vị dự bị động viên do địa phư­ơng mình xây dựng. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định điều động từng ph­ương tiện kỹ thuật.
Điều 22 của Pháp lệnh qui định về việc tập trung, vận chuyển, giao nhận lượng lực dự bị động viên quy định như­ sau:
Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc tập trung quân nhân dự bị, phư­ơng tiện kỹ thuật, vận chuyển và bàn giao cho các đơn vị thư­ờng trực của quân đội;
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chỉ đạo cấp dư­ới thuộc quyền thực hiện việc tập trung quân nhân dự bị, phư­ơng tiện kỹ thuật, vận chuyển và bàn giao cho các đơn vị th­ường trực của quân đội;
Các đơn vị thư­ờng trực của quân đội triển khai tiếp nhận lực l­ượng dự bị động viên và ổn định tổ chức biên chế, trang bị của đơn vị mình;
Quân nhân dự bị có trách nhiệm chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, cá nhân, tổ chức có ph­ương tiện kỹ thuật phải chấp hành lệnh điều động, tr­ưng mua, tr­ưng dụng;
Địa điểm giao nhận lực l­ượng dự bị động viên thực hiện theo quy định của Bộ tr­ưởng Bộ Quốc phòng. Bên giao có trách nhiệm bảo đảm ăn, ở cho quân nhân dự bị đến khi bàn giao xong. Quá trình tập trung, vận chuyển và giao nhận lực lư­ợng dự bị động viên phải đảm bảo an toàn.
d) Chế độ chính sách, kinh phí xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên
Quân nhân dự bị khi tham gia huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu đ­ược h­ưởng quyền lợi theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự và Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
Quân nhân dự bị giữ chức vụ chỉ huy đơn vị dự bị động viên có quy mô tổ chức từ tiểu đội hoặc tư­ơng đ­ương trở lên, hàng quý đư­ợc hư­ởng khoản phụ cấp trách nhiệm quản lý đơn vị bằng hệ số so với lư­ơng tối thiểu nh­ư sau:
Tiểu đội tr­ưởng: 0,25; trung đội trư­ởng: 0,30; phó đại đội tr­ưởng: 0,35; đại đội tr­ưởng: 0,40; phó tiểu đoàn trư­ởng: 0,45; tiểu đoàn tr­ưởng: 0,50; phó trung đoàn tr­ưởng: 0,55; trung đoàn trư­ởng: 0,60;
Kinh phí xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên đ­ược bảo đảm bằng nguồn sau đây:
Ngân sách Nhà n­ước cấp cho Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành ở Trung ­ương chi cho công tác quốc phòng;
Ngân sách Nhà n­ước do Trung ư­ơng phân cấp cho địa ph­ương chi cho công tác quốc phòng;
Kinh phí cho xây dựng, huy động lực l­ượng dự bị động viên đ­ược chi cho những công việc sau đây:
Đăng ký, quản lý quân nhân dự bị, ph­ương tiện kỹ thuật, quản lý đơn vị dự bị động viên;
Huấn luyện, diễn tập, kiểm tra lực lư­ợng dự bị động viên;
Điều động, trư­ng mua và tr­ưng dụng ph­ương tiện kỹ thuật;
Xây dựng, trang bị ph­ương tiện cho sở chỉ huy động viên, trạm tập trung quân nhân dự bị, ph­ương tiện kỹ thuật và doanh trại bảo đảm cho đơn vị dự bị động viên khi tập trung huấn luyện;
Dự trữ ph­ương tiện kỹ thuật, hậu cần vật chất bảo đảm cho lực l­ượng dự bị động viên khi huy động;
Những công việc khác theo quy định của pháp luật.
e) Quản lý nhà n­ước về xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên   
Nội dung quản lý nhà nư­ớc về xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên bao gồm:
Ban hành và hư­ớng dẫn thi hành các văn bản pháp luật về xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên;
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên;
Quy định và tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách về xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên;
Thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật về xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên;
Tuyên truyền, giáo dục, động viên nhân dân tham gia xây dựng và huy động lực lư­ợng dự bị động viên;
Sơ kết, tổng kết công tác xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nư­ớc về xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên trong phạm vi cả n­ước.
Bộ Quốc phòng giúp Chính phủ quản lý nhà nư­ớc về xây dựng và huy động lực lư­ợng dự bị động viên; h­ướng dẫn, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, tổ chức chính trị, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong việc xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên. Tư­ lệnh quân khu giúp Bộ tr­ưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp h­ướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra việc xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ư­ơng trên địa bàn quân khu.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý nhà n­ước về xây dựng và huy động lực l­ượng bị động viên và tổ chức thực hiện kế hoạch xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên đ­ược Chính phủ giao.
Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nư­ớc về xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên trong phạm vi địa phư­ơng.
Cơ quan quân sự địa ph­ương phối hợp với cơ quan hữu quan giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện quản lý nhà n­ước về xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội ở các cấp có trách nhiệm giáo dục, động viên hội viên, đoàn viên của tổ chức mình và vận động nhân dân thực hiện những quy định về xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên; giám sát việc thực hiện quản lý nhà nư­ớc về xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên theo quy định của Pháp lệnh.
 
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thiết quân luật, giới nghiêm đ­ược quy định trong Luật Quốc phòng năm 2005 nh­ư thế nào?
2. Quyền và nghĩa vụ của công dân trong bảo vệ an ninh quốc gia ?
3. Việc nhập ngũ, xuất ngũ đ­ược quy định như­ thế nào trong Luật Nghĩa vụ quân sự (đã đ­ược sửa đổi bổ sung năm 2005)?
4. Nhiệm vụ của dân quân tự vệ đư­ợc quy định nh­ư thế nào trong Luật Dân quân tự vệ năm 2009?
5. Quản lý nhà n­ước về xây dựng và huy động lực l­ượng dự bị động viên được quy định như­ thế nào trong Pháp lệnh Dự bị động viên năm 1996?
 
 
Chuyên đề 8 (Bổ trợ)
VŨ KHÍ CÔNG NGHỆ CAO VÀ CÁCH PHÒNG TRÁNH, ĐÁNH TRẢ
ĐỊCH TIẾN CÔNG HOẢ LỰC BẰNG VŨ KHÍ CÔNG NGHỆ CAO
                                                 Biên soạn: Đại tá, ThS Nguyễn Quý Cử
 
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÒNG TRÁNH, ĐÁNH TRẢ ĐỊCH TIẾN CÔNG HOẢ LỰC BẰNG VŨ KHÍ CÔNG NGHỆ CAO
1 . Vũ khí công nghệ cao và tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao
a) Vũ khí công nghệ cao
Khái niệm vũ khí công nghệ cao
Vũ khí được nghiên cứu, thiết kế, chế tạo dựa trên những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, có sự nhảy vọt về chất lượng và tính năng kỹ, chiến thuật. Vũ khí công nghệ cao gồm các loại vũ khí huỷ diệt lớn, vũ khí được chế tạo dựa trên những nguyên lý kỹ thuật mới, vũ khí được chế tạo dựa trên cơ sở vũ khí thông thường, ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực vi điện tử, vi xử lý, tin học, vật liệu mới, laze, hồng ngoại, năng lượng mới, sinh học, tự động hoá.
Đặc tính và xu hướng phát triển
Đặc tính: Vũ khí công nghệ cao có độ chính xác cao, uy lực lớn, tầm hoạt động xa, có thể hoạt động trong những điều kiện nhiễu, thời tiết phức tạp, ngày, đêm và đạt hiệu quả cao hơn từ hàng chục tới hàng trăm lần so với vũ khí thông thường. Một số loại vũ khí công nghệ cao được gọi là thông minh hay tinh khôn.
Xu hướng phát triển: Vũ khí công nghệ cao xuất hiện từ chiến tranh thế giới lần thứ II, tới thập niên 80, 90 của thế kỷ 20 mới phát triển mạnh mẽ với qui mô lớn và đạt kết quả cao, có ảnh hưởng rất lớn đến nghệ thuật quân sự, tính chất của chiến tranh và nhiều lĩnh vực khác. Một số vũ khí công nghệ cao đã được Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam (nhất là vào năm 1972), chiến tranh vùng vịnh (1991), (2003), chiến tranh Nam Tư (1999), chiến tranh Apganixtan (2001), chiến tranh Libi (2011). Các chuyên gia quân sự phương tây coi vũ khí công nghệ cao là loại vũ khí chủ yếu trong chiến tranh tương lai. Vũ khí công nghệ cao thường được mang bằng các loại phương tiện công nghệ cao.
Trong các cuộc chiến tranh gần đây nổi lên một số loại phương tiện, vũ khí công nghệ cao được sử dụng: các loại máy bay tàng hình; các loại tên lửa hành trình; các loại bom dẫn bằng laze, hồng ngoại, vô tuyến, hệ dẫn đường GPS; hệ thống trinh sát, tình báo bằng các phương tiện, công nghệ hiện đại trên vệ tinh, máy bay có người lái và không người lái. Phương tiện, vũ khí công nghệ cao tiếp tục được nghiên cứu chế tạo, cải tiến ngày càng đa dạng hoàn thiện hơn theo hướng tàng hình hoá các loại máy bay, tên lửa, xe tăng, tàu chiến; máy bay, tên lửa hành trình, bom đạn có tốc độ bay, tốc độ bắn nhanh hơn, độ chính xác cao hơn; đa dạng hơn các phương thức điều khiển, dẫn đường; tầm hoạt động xa hơn; hoạt động trong mọi điều kiện môi trường phức tạp; khả năng nhận biết mục tiêu, phân biệt “địch - ta” tốt hơn; hiệu xuất chiến đấu cao, giảm tổn thất, giảm giá thành.
Tác động của vũ khí công nghệ cao đến nghệ thuật quân sự
 Tác động đến quan niệm về chiến trường: Sự phát triển của vũ khí, trang bị công nghệ cao làm cho quan niệm về chiến trường có những thay đổi lớn. Trước đây, chiến trường thường xuất hiện ở khu vực biên giới, vùng ven biển, bờ biển sau đó phát triển vào chiều sâu lãnh thổ. Thời kỳ đầu chiến tranh, hậu phương chiến lược ở vào thế tương đối ổn định để chi viện cho tiền tuyến. Trong chiến tranh hiện đại, các mục tiêu chiến lược trong toàn bộ lãnh thổ có thể bị tiến công đồng thời ngay từ đầu, trên tất cả các môi trường tác chiến, bằng vũ khí công nghệ cao. Do vậy, không gian chiến trường mở rộng ngay từ đầu, không phân biệt rõ tiền tuyến và hậu phương. Bên bị tiến công nếu không chuẩn bị phòng tránh, đánh trả phù hợp, chu đáo ngay từ thời bình sẽ bị bất ngờ, tổn thất lớn về lực lượng, cơ sở vật chất, không duy trì được sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, gây mất ổn định chính trị trầm trọng trong xã hội.
Tác động đến cách đánh: vũ khí công nghệ cao có thể tiến công từ xa, ngoài biên giới, vùng trời, vùng biển của một quốc gia, ngoài phạm vi sát thương của  hoả lực phòng không, không trực tiếp tiếp xúc với các lực lượng đánh trả, bằng nhiều phương tiện, vũ khí tàng hình và không người lái, không phụ thuộc nhiều vào không gian, thời gian, thời tiết, khí hậu, ngày đêm, do vậy hạn chế được nhiều tổn thất về sinh lực và tạo được yếu tố bí mật, bất ngờ cao hơn.
Sử dụng vũ khí công nghệ cao tiến công có thể đạt được mục đích chính trị, mục tiêu chiến lược mà không cần sử dụng lực lượng trên bộ, hoặc sử dụng vũ khí công nghệ cao đánh phá cường độ cao, ác liệt vào các mục tiêu trọng yếu, làm tê liệt sức chiến đấu của đối phương để đưa lực lượng trên bộ vào nhanh chóng làm chủ chiến trường với tổn thất thấp nhất.
Như vậy, vũ khí công nghệ cao ngày càng được hoàn thiện và sử dụng rộng rãi, có vai trò quan trọng, trở thành vũ khí chủ yếu trong các cuộc chiến tranh tương lai.
b) Tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao
Khái niệm tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao
Tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao là biện pháp tác chiến chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới, sử dụng hỗn hợp các loại hoả lực trong đó nòng cốt là tiến công đường không, bằng vũ khí công nghệ cao của không quân và tên lửa hành trình đánh vào các mục tiêu chính trị, kinh tế, quân sự, dân sự quan trọng, phá huỷ tiềm lực kinh tế, quốc phòng, đánh quỵ khả năng đánh trả của đối phương, chia cắt, cô lập chiến trường, tạo điều kiện cho các lực lượng tiến công trên bộ, trên biển, đổ bộ đường không làm chủ chiến trường hoặc răn đe, uy hiếp đối phương, chi viện, hỗ trợ cho lực lượng chống đối bạo loạn, lật đổ.
Khái niệm trên thể hiện những nội dung cơ bản sau:
Tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao là một phương thức tác chiến đồng thời là biện pháp tác chiến chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới của địch, là kiểu tác chiến chủ yếu của chiến tranh hiện đại. Lực lượng, phương tiện, vũ khí sử dụng gồm hỗn hợp nhiều loại trong đó chủ yếu là không quân và tên lửa hành trình tiến hành tiến công hoả lực đường không bằng các loại vũ khí công nghệ cao. Mục tiêu tiến công đa dạng, rộng khắp trong đó tập trung vào các mục tiêu trọng điểm về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, xã hội của đối phương. Mục đích nhằm phá huỷ làm suy giảm nhanh tiềm lực kinh tế, quốc phòng, khả năng chống trả, chia cắt, cô lập chiến trường, tạo điều kiện cho tiến công trên bộ, trên biển, đổ bộ đường không làm chủ chiến trường, đánh đòn tâm lý, tinh thần, hỗ trợ, chi viện cho lực lượng chống đối bạo loạn, lật đổ thực hiện mục đích chính trị của chiến tranh.
Tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao có thể là một giai đoạn trước khi tiến công trên bộ, trên biển, đổ bộ đường không như trong chiến tranh vùng vịnh năm 1991, cũng có thể chỉ có tiến công hoả lực đường không mà không có các hoạt động khác như cuộc tập kích đường không của Mỹ vào Libi, tháng 4 năm 1986, Chiến dịch “Con cáo sa mạc” của Mỹ và đồng minh tiến công Irắc 1998, chiến tranh Nam Tư 1999; hoặc chi viện, hỗ trợ cho phe đối lập tiến công lật đổ chính quyền ở Libi từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2011.
Dự báo địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao
Khả năng huy động lực lượng:
Khi xảy ra chiến tranh địch có thể tiến công bằng vũ khí công nghệ cao từ nhiều hướng trong đó khả năng sẽ tập trung từ hướng biển Đông và hướng Tây Nam, chủ yếu bằng máy bay và tên lửa hành trình kết hợp với pháo binh và tên lửa các loại. Số lượng máy bay có thể huy động từ 1.200 đến 1.500 lần chiếc trong một ngày đêm và khoảng 1.000 đến 1.200 tên lửa hành trình. Và một số loại pháo binh, tên lửa khác tham gia.
Thủ đoạn hoạt động:
Tổ chức trinh sát nắm chắc các mục tiêu, tiến hành tác chiến điện tử mạnh trên diện rộng kết hợp với nghi binh để tạo bất ngờ. Quá trình trinh sát, sử dụng nhiều lực lượng, phương tiện hiện đại trên vũ trụ, trên không, trên biển, mặt đất (vệ tinh, máy bay trinh sát có người lái, không người lái, thám báo, biệt kích, gián điệp mặt đất, bằng các khí tài quang học, hồng ngoại, vô tuyến, laze ...). Trinh sát liên tục suốt ngày đêm, kết hợp với tác chiến điện tử mạnh, rộng khắp trong đó tập trung trên hướng đánh phá chủ yếu, khu vực tập trung chủ yếu, đồng thời tiến hành nghi binh tạo bất ngờ cho tiến công hoả lực. Trong chiến tranh Nam Tư (1999), Mỹ và đồng minh đã sử dụng 95/1.055 chiếc máy bay làm nhiệm vụ tác chiến điện tử chuyên dụng (chiếm khoảng 9%) chưa kể các máy bay không người lái. Trang bị, phương tiện trinh sát và tác chiến điện tử hiện đại, tốc độ xử lý nhanh, cường độ mạnh, đa dạng, phức tạp, gây nhiều khó khăn trong phòng chống và đối phó.
     Sử dụng tổng hợp các loại phương tiện tiến công đồng thời từ nhiều hướng, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn đánh phá, đánh vào nhiều mục tiêu cùng một lúc. Mục đích nhằm tạo ra những đòn đánh mãnh liệt gây khó khăn, quá tải trong đánh trả, phòng tránh, gây tổn thất lớn cho ta để đạt được hiệu quả cao khi tiến công hoả lực. Các loại phương tiện, vũ khí được sử dụng tổng hợp đa dạng song ưu tiên sử dụng các loại phương tiện, vũ khí công nghệ cao, như: các loại máy bay ném bom chiến lược, máy bay tàng hình, máy bay ném bom, máy bay chiến đấu chiến thuật, các loại máy bay tác chiến điện tử, máy bay không người lái trinh sát tiến công; các loại tên lửa hành trình phóng từ máy bay, tàu ngầm, tàu mặt nước ngoài biển. Các loại bom đạn, tên lửa được dẫn đường bằng leze, hồng ngoại, vô tuyến, bằng hệ thống định vị toàn cầu GPS; bom đạn chuyên dụng xuyên phá bê tông, công trình ngầm sâu dưới lòng đất, phá huỷ các thiết bị thông tin liên lạc, hệ thống điện. Có thể tiến công hoả lực từ nhiều hướng nhưng trong đó sẽ tập trung trên hướng chủ yếu. Hướng tiến công hoả lực chủ yếu thường là hướng có căn cứ xuất phát của các loại máy bay, tên lửa vào tiến công; hướng có địa hình thuận tiện cho các phương tiện, vũ khí, máy bay vào đánh phá (nhất là khi đánh ở độ cao thấp); hướng có lực lượng phòng không của đối phương sơ hở, hạn chế.
Phương thức, thủ đoạn đánh phá đa dạng, phong phú và thay đổi linh hoạt, nhanh chóng trong quá trình đánh phá, trong đó nổi lên phương thức, thủ đoạn đánh phá từ xa “phi tiếp xúc” bằng tên lửa hành trình được phóng từ cự ly hàng trăm đến hàng nghìn km, dựng máy bay ném bom, phóng tên lửa tự dẫn từ ngoài phạm vi hiệu quả của hoả lực phòng không của ta. Đánh dồn dập, liên tục, mật độ bom đạn cao vào nhiều mục tiêu cùng một lúc. Đánh phá ác liệt từng đợt lớn kết hợp đánh nhỏ lẻ liên tục ngày đêm gây căng thẳng, mệt mỏi, không cho ta có điều kiện củng cố, khôi phục sức chiến đấu.
Các mục tiêu trọng điểm thường được đánh phá ngay từ đầu và đánh lại nhiều lần. Các mục tiêu đánh phá trọng điểm thường là các cơ quan đầu não lãnh đạo, chỉ đạo các cấp; các trận địa phòng không, sân bay, các sở chỉ huy, bưu điện, đài phát thanh, truyền hình, các nhà máy, trạm điện, các trọng điểm giao thông: bến cảng, bến tàu, xe, cầu phà, kho tàng, bến, bãi chứa hàng, các nhà máy, xí nghiệp, các khu vực có lực lượng phương tiện của ta triển khai đánh trả, phòng tránh.
Tích cực sử dụng thủ đoạn đột nhập ở độ cao thấp, đánh đêm kết hợp với tác chiến điện tử mạnh để gây bất ngờ trong tiến công hoả lực. Các loại tên lửa hành trình thường bay ở độ cao từ 50 đến 150m vào đánh phá các mục tiêu. Tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao ở độ cao thấp và vào ban đêm được thực hiện rộng rãi nhằm hạn chế khả năng đánh trả của ta (cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B-52 của Mỹ tháng 12 năm 1972 vào miền Bắc Việt Nam, 100% máy bay B-52 và máy bay F-111 đều đánh vào ban đêm; cuộc tập kích của không quân Mỹ vào Libi vào đêm 14 rạng ngày 15 tháng 4 năm 1986, chiến dịch “Bão táp sa mạc” tháng 01 năm 1991 Mỹ và đồng minh tiến công đường không vào I rắc, cuộc chiến tranh Nam tư 1999 đều được khởi đầu vào ban đêm và có trên 50% phi vụ đánh phá được thực hiện vào ban đêm).
Kết hợp tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao với các hoạt động bạo loạn lật đổ, chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý, tình báo, ngoại giao, kinh tế.  Địch sẽ kết hợp tiến công hoả lực với các hoạt động khác để hỗ trợ, chi viện lực lượng, phương tiện, cung cấp thông tin cho các hoạt động bạo loạn lật đổ của bọn phản động nội địa; vừa đánh phá vừa tiến hành chiến tranh thông tin, tâm lý để gây hoang mang, dao động, rối loạn tinh thần trong các tầng lớp nhân dân; kết hợp các hoạt động ngoại giao tìm kiếm đồng minh đồng tình, ủng hộ chúng và thao túng Liên hợp quốc, gây sức ép ta trong khu vực và trên trường quốc tế, bao vây cấm vận cô lập ta về quân sự, tài chính, không cho các nước giúp ta. Đây là một thủ đoạn được sử dụng phổ biến trong các cuộc tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao gần đây, như Mỹ và đồng minh hỗ trợ chi viện cho lực lượng người Cuốc ở Irắc, lực lượng Phương bắc ở Apganixtan, phe đối lập ở Libi.
Mạnh, yếu của địch khi tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao
Mạnh: Có khả năng huy động lực lượng lớn, có hệ thống trinh sát, phương tiện, trang bị, vũ khí hiện đại, chính xác, công nghệ cao, đa dạng về chủng loại và tính năng kỹ, chiến thuật; có ưu thế trên vũ trụ, trên không, trên biển, tác chiến điện tử mạnh, có thể đánh dài ngày, ác liệt trong mọi điều kiện thời tiết. Có khả năng tiến công từ xa ngoài tầm hoả lực của ta đồng thời có nhiều thủ đoạn linh hoạt trong đánh phá, tác chiến điện tử, đột nhập ở độ cao thấp, tàng hình, sử dụng máy bay báo động sớm và tiêm kích khống chế trên không hạn chế hoạt động của không quân ta, gây khó khăn cho ta trong phát hiện, thông báo báo động, tổ chức phòng tránh, đánh trả. Đất nước ta có bờ biển dài 3.260 km trên 3 hướng Đông, Nam, Tây Nam, lực lượng hải quân, khả năng phòng không trên biển và khu vực phòng thủ địa phương còn hạn chế nên địch có điều kiện tiến công hoả lực từ hướng biển bằng tên lửa hành trình, pháo hạm. Địch có nhiều kinh nghiệm tổ chức chỉ huy, hiệp đồng, bảo đảm tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao, đặc biệt chúng quen thuộc địa hình, nắm tương đối chắc các mục tiêu quan trọng của đất nước ta; có khả năng lôi kéo đồng minh ủng hộ.
Yếu: Địch sợ tổn thất về sinh lực, đặc biệt với sinh lực cao cấp, khi tiến công đạt hiệu quả không cao, bị tổn thất nhiều, nhất là các loại phương tiện vũ khí đắt tiền và người lái thì tinh thần chiến đấu bị suy giảm nhanh chóng(điển hỡnh như trong chiến dịch tập kích đường khụng của Mỹ bằng mỏy bay chiến lược B52 vào Hà Nội, Hải Phũng thỏng 12 năm 1972). Địa hình, thời tiết nước ta phức tạp sẽ hạn chế nhiều đến sử dụng và hiệu quả của vũ khí công nghệ cao của địch. Vũ khí công nghệ cao đòi hỏi công tác bảo đảm đồng bộ cao, chỉ cần một khâu, một bộ phận bị hư hỏng, sai lệch, không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả, không chính xác sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống, dẫn đến giảm độ chính xác hoặc mất tác dụng hoàn toàn. Vũ khí công nghệ cao của địch đều có những hạn chế, đặc biệt khi bị đánh trả, phòng tránh tốt thì cỏc hạn chế sẽ bộc lộ( điển hỡnh như trong chiến tranh phỏ hoại của khụng quõn Mỹ ở Việt Nam và trong chiến tranh Nam Tư năm 1999); giá thành cao nên chi phí cho tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao tốn kém. Khi tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao, địch sẽ bị hoả lực của ta đánh trả, đặc biệt hoả lực phòng không 3 thứ quân rộng khắp đã được chuẩn bị và có kinh nghiệm đánh Mỹ trước đây.
2. Khái niệm và khảo cứu phòng tránh, đánh trả địch tiến cụng hỏa lực bằng vũ khớ cụng nghệ cao
a) Khỏi niệm phũng trỏnh đánh trả
Phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao là nghệ thuật vận dụng tổng hợp, đồng bộ các giải pháp các hoạt động có tổ chức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các ngành, các cấp từ Trung ương xuống cơ sở theo một ý định, kế hoạch, lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, điều hành thống nhất, kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp phòng tránh và tổ chức đánh trả, nhằm bảo đảm ổn định và duy trì mọi hoạt động của đất nước trong thời chiến, bảo toàn và phát triển lực lượng, từng bước đánh trả có hiệu quả tiến tới đánh bại tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao, tạo thuận lợi cho hoạt động tiếp theo của đất nước.
Khái niệm thể hiện một số nội dung cơ bản sau:
Một là, phòng tránh, đánh trả là nghệ thuật vận dụng tổng hợp, đồng bộ các giải pháp, các hoạt động có tổ chức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các ngành, các cấp từ Trung ương đến cơ sở để đối phó một cách có hiệu quả địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao; bảo đảm an toàn cho nhân dân, các lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu, bảo vệ các mục tiêu quan trọng, giữ vững sản xuất, đời sống, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Hai là, phòng tránh, đánh trả là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các ngành, các cấp, của cả hệ thống chính trị từ Trung ương xuống cơ sở; được lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy điều hành thống nhất từ trên xuống.
Ba là, phòng tránh, đánh trả có hai nội dung quan trọng là phòng tránh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao và đánh trả địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao. Hai nội dung có ý nghĩa, mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, khả năng, đặc điểm và các giải pháp riêng khác nhau nhưng có quan hệ tác động lẫn nhau một cách biện chứng.
Bốn là, nhân dân và tất cả các lực lượng đều phải tổ chức phòng tránh, sơ tán còn đánh trả chỉ sử dụng hợp lý lực lượng, vũ khí, trang bị của lực lượng vũ trang ba thứ quân trong đó nòng cốt là lực lượng phòng không, không quân.
Năm là, mục đích của phòng tránh, đánh trả nhằm bảo đảm ổn định và duy trì mọi hoạt động của đất nước, của khu vực phòng thủ trong thời chiến, bảo toàn và phát triển lực lượng, từng bước đánh trả có hiệu quả tiến tới đánh bại tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao của địch, tạo điều kiện cho các hoạt động tiếp theo của đất nước.
Do vậy, phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
 
b) Khảo cứu phòng tránh, đánh trả qua một số cuộc tiến công hoả lực
Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam bằng không quân, hải quân  của đế quốc Mỹ
Để cứu vãn quân Mỹ, quân nguỵ khỏi thất bại nhanh chóng trên chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ đã dùng không quân, hải quân đánh phá leo thang miền Bắc hòng phá hoại tiềm lực kinh tế, quốc phòng, ngăn chặn chi viện của miền Bắc cho miền Nam, làm lung lay quyết tâm chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Để thực hiện ý định này, Mỹ đã tập trung một lực lượng không quân rất lớn ở Đông Nam á, trên các tàu sân bay, các căn cứ quân sự trong khu vực     Châu Á - Thái Bình Dương, thường xuyên có từ 350 đến 400 máy bay chiến đấu các loại, các loại máy bay, vũ khí, trang bị liên tục được cải tiến, có nhiều loại vũ khí công nghệ cao mới nhất, hiện đại nhất khi đó đã được sử dụng như bom từ trường, bom laze, tên lửa tự dẫn đánh phá các đài rađa, đài điều khiển tên lửa, rađa của các trận địa pháo phòng không, các loại thuỷ lôi thả ở các cửa biển, cửa sông, hệ thống các máy gây nhiễu đa dạng, phong phú.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức thực hiện đồng bộ, thống nhất, tích cực của Nhà nước và của các địa phương, các ngành, các cấp, của toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, do vậy, quân và dân miền Bắc đã kết hợp chặt chẽ giữa phòng tránh với đánh trả, phát động được toàn dân phòng tránh, đánh trả không quân địch. Toàn miền Bắc đã lập trên 1.650 đài quan sát phòng không, trong đó có 150 đài của bộ đội chủ lực, 1.500 đài của địa phương và dân quân, tự vệ cùng các đài rađa phòng không quản lý chặt chẽ bầu trời miền Bắc, kết hợp với các hoạt động ngoại giao, tình báo để phát hiện sớm ý đồ tập kích và thời điểm các máy bay ném bom chiến lược xuất phát vào đánh phá miền Bắc để tổ chức phòng tránh, đánh trả kịp thời, đạt hiệu quả cao. Hệ thống công trình, hầm trú ẩn được chuẩn bị và xây dựng đầy đủ, chu đáo, đáp ứng kịp thời cho phòng tránh, đánh trả. Có kế hoạch và tổ chức thực hiện phòng tránh, đánh trả, sơ tán hợp lý. Trong tổ chức đánh trả, đã phát động được phong trào “tay cày, tay súng”, “tay bỳa, tay sỳng”, toàn dân, toàn quân đánh máy bay, bắt giặc lái địch. Cách đánh và trình độ kỹ, chiến thuật đánh máy bay địch ngày càng được nâng cao, sáng tạo, thực hiện “càng đánh càng mạnh”, “càng đánh càng trưởng thành”. Quân dân miền Bắc đã phòng tránh, đánh trả có hiệu quả khi địch sử dụng vũ khí công nghệ cao: bom laze, tên lửa tự dẫn theo cánh sóng rađa, rà phá được các loại thuỷ lôi hiện đại của Mỹ, đã bắn rơi 4.181 máy bay Mỹ bao gồm tất cả cỏc kiểu loại mỏy bay hoạt động trong phạm vi khả năng  phũng khụng lỳc đó của ta, trong đó Quân chủng Phòng không - Không quân bắn rơi 2.725 chiếc; phòng không của các đơn vị bộ đội địa phương, chủ lực bắn rơi 1.046 chiếc; dân quân, tự vệ bắn rơi 500 chiếc; tiêu diệt, bắt sống hàng trăm giặc lái, đánh bại các chiến dịch tập kích đường không, các chiến thuật đánh phá của địch. Tổ chức phòng tránh sơ tán hợp lý, khắc phục hậu quả nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm được sản xuất, sinh hoạt, an ninh chính trị, ổn đinh xã hội, giảm bớt tổn thất, thương vong, bảo đảm cơ sở vật chất, lực lượng đánh liên tục dài ngày, giữ vững vai trò là hậu phương lớn chi viện tích cực, liên tục cho miền Nam. Đặc biệt quân dân miền Bắc đã đập tan cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng, góp phần buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari, tạo bước ngoặt quan trọng tiến tới giải phóng miền Nam thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975.
Trong chiến tranh vùng vịnh (năm 1991 và năm 2003)
Trong Chiến dịch “Bão táp sa mạc” từ ngày 17 tháng 1 đến ngày 23 tháng 2 năm 1991, lực lượng đa quốc gia gồm 40 nước do Mỹ đứng đầu, tiến công Irắc, với lực lượng tiến công đường không gồm 1.800 máy bay chiến đấu, 7 tàu sân bay, nhiều tàu chiến phóng tên lửa hành trình. Vũ khí công nghệ cao chiếm khoảng 5%.
Trong chiến tranh vùng Vịnh lần 2 (từ ngày 20 tháng 1 đến 15 tháng 4 năm 2003), Mỹ và liên quân gồm 7 nước, tiến công Irắc, với khoảng  90.000 quân trên bộ, 1.000 xe tăng, 1.400 xe thiết giáp, 182 tàu chiến, 1.754 máy bay, trong đó có 33 máy bay ném bom chiến lược (gồm 17 chiếc B-52, 12 chiếc B-1 và 4 chiếc B-2); 48.100 quân hải quân đánh bộ).Vũ khí công nghệ cao chiếm khoảng 50%. Lực lượng của Irắc có khoảng 55 sư đoàn, trên 780 máy bay tiêm kích và cường kích, trên 366.556 khẩu pháo và tên lửa phòng không, trong đó có nhiều loại hiện đại như SA-7, SA-8, SA-13, Rolan-1, Rolan-2,các đài rađa tầm xa chiến lược liên hoàn, xây dựng hệ thống công trình hầm ngầm kiên cố cho lãnh đạo, các sở chỉ huy, kho chứa máy bay, kho tàng hiện đại.
Song do Irắc tổ chức phòng tránh, đánh trả không hiệu quả nên trong chiến tranh vùng vịnh năm 1991, tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao của Mỹ và liên quân đã đánh thiệt hại nặng tiềm lực quân sự, kinh tế của Irắc, đánh quỵ hẳn khả năng chống trả, chia cắt, cô lập “làm mềm” hoàn toàn chiến trường Irắc. Trong chiến tranh vùng Vịnh lần 2 (2003), sau 25 ngày tiến công hoả lực kết hợp tiến công trên bộ (gần 24 giờ đồng hồ), Mỹ và đồng minh đã thực hiện được ý đồ xâm lược Irắc.
 Trong chiến tranh Nam Tư (từ ngày 24 tháng 3 đến ngày 10 tháng 6 năm 1999)
Mỹ và NATO, gồm 14 nước tiến công hoả lực vào Nam Tư, vũ khí công nghệ cao chiếm khoảng 90%. Lực lượng tiến công của Mỹ và NATO, gồm: 3 tàu sân bay, 1.200 máy bay các loại và một số tàu chiến. Trong 78 ngày đêm đánh phá liên tục Nam Tư, với 3.500 lần chiếc máy bay các loại, phóng khoảng 1.000 quả tên lửa hành trình, ném khoảng 79.000 tấn bom đạn. Nhiều loại bom đạn hiện đại nhất lúc đó đã được Mỹ sử dụng như bom xung điện (bom I), bom Tsow, JDAM, bom liệng điều khiển bằng hệ thống định vị toàn cầu GPS, đã phá huỷ 1.134 công trình, 50 thành phố, thị xã, 35 nhà máy; cơ sở viễn thông bị phá huỷ hoàn toàn, lực lượng quân sự bị thiệt hại khoảng 20%. Trong cuộc chiến tranh này, Nam Tư đã tổ chức phòng tránh, đánh trả có hiệu quả tương đối cao, hạn chế rất nhiều thiệt hại, trong đó nổi lên một số kinh nghiệm sau:
Một là, thực hiện sơ tán triệt để lực lượng, vũ khí và phương tiện kỹ thuật quân sự, bố trí sơ tán lực lượng, nguỵ trang, nghi binh, dấu thực bày giả, cơ động linh hoạt, có kế hoạch chuẩn bị từ trước, chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến kịp thời, thích ứng với chiến tranh.
Hai là, tổ chức trinh sát, phát hiện, thông báo, báo động bằng tổng hợp các loại lực lượng, phương tiện tạo thành hệ thống tương đối hoàn chỉnh phát hiện âm mưu, thủ đoạn tiến công hoả lực từ xa tới gần, kịp thời.
Ba là, sử dụng lực lượng, trang bị vũ khí phòng không hợp lý, cách đánh linh hoạt, hạn chế hoạt động, bắn rơi nhiều máy bay các loại  của Mỹ và NATO đặc biệt trong đó có 1 máy bay tàng hình F-117A, 238 tên lửa hành trình.
Bốn là, đã sử dụng thành công các thủ đoạn chiến tranh điện tử, chiến tranh thông tin để đột nhập vào hệ thống dẫn đường, điều khiển vũ khí, mạng máy tính của NATO phá các dữ liệu có tính chiến lược.
Tuy nhiên, việc đối phó với máy bay trinh sát báo động sớm AWACS        E-2, E-3 kết hợp với máy bay tiêm kích chưa thật tốt nên không quân hoạt động còn kém hiệu quả.`             
Từ khảo cứu phòng tránh, đánh trả tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao, rút ra một số kinh nghiệm chung sau:
Thứ nhất, phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của phòng tránh, đánh trả tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao của địch, từ đó có kế hoạch chuẩn bị đất nước ngay từ thời bình, kịp thời thích ứng với chiến tranh khi xảy ra.
Thứ hai, phải xác định phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực là trách nhiệm và công việc của toàn dân, của các ngành, các cấp chính quyền từ trung ương đến cơ sở, của các lực lượng vũ trang; phỏt huy cao độ trỏch nhiệm, chủ động, tớch cực, sỏng tạo của cỏc ngành, cỏc cấp chớnh quyền, của mọi người trong phũng trỏnh, đánh trả địch tiến cụng hỏa lực.
Thứ ba, phải kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, dân sự và quân sự, thô sơ và hiện đại để chuẩn bị cho đất nước đủ khả năng và sức mạnh phòng tránh, đánh trả có hiệu quả.
Thứ tư, phải thường xuyờn nghiờn cứu nắm chắc lực lượng, âm mưu, thủ đoạn hoạt động, những điểm mạnh và hạn chế núi chung và của phương tiện, vũ khớ cụng nghệ cao núi riờng của địch từ đó xây dựng kế hoạch phũng trỏnh, đánh trả sát đúng, hạn chế được các điểm mạnh, khoột sõu những điểm yếu của địch;  lãnh đạo chỉ huy, điều hành phòng tránh, đánh trả thống nhất, bằng lực lượng tổng hợp, đồng bộ, đúng thời cơ, có trọng điểm với qui mô lực lượng thích hợp và các hình thức tác chiến đa dạng, phong phú, sáng tạo.
3. Phòng tránh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao
a)  ý nghĩa, mục đích, yêu cầu
 Ý nghĩa:
Phòng tránh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng, là biện pháp chiến lược để bảo toàn lực lượng, duy trì sản xuất, phát triển kinh tế đáp ứng yêu cầu chiến tranh, là một yếu tố quan trọng để giành thắng lợi. Làm tốt công tác phòng tránh mới bảo vệ được nhân dân, giữ gìn được lực lượng, bảo vệ được mục tiêu quan trọng, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo thuận lợi thế và lực cho đánh địch, duy trì tiềm lực đánh địch lâu dài.
Mục đích
Hạn chế mặt mạnh, khoét sâu điểm yếu của địch, bảo vệ nhân dân, giảm tối đa thiệt hại về người và tài sản do tiến công hoả lực của địch gây ra, bảo vệ được các mục tiêu quan trọng của địa phương, của đất nước. Khắc phục hậu quả, khôi phục, duy trì sản xuất, đời sống sinh hoạt, sức chiến đấu, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tạo lập, chuyển hoá thế trận có lợi cho ta, phá thế tiến công của địch, bảo toàn, giữ gìn lực lượng, tạo thời cơ để tổ chức đánh trả có trọng điểm, hiệu quả cao.
Yêu cầu:
Phải chuẩn bị chu đáo, toàn diện ngay từ thời bình; tích cực, chủ động, không để bất ngờ, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống; tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy từ Trung ương đến địa phương và các cấp, các ngành theo một kế hoạch chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ; khu phòng tránh, sơ tán, phân tán không tạo thành các mục tiêu mới, phải bảo đảm bí mật, an toàn, không để địch tập trung đánh phá, duy trì bảo đảm sản xuất, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đời sống sinh hoạt của nhân dân và môi trường sinh thái ở khu vực phòng tránh, sơ tán, phân tán.
b) Nhiệm vụ, khả năng phòng tránh
Nhiệm vụ phòng tránh
Tổ chức trinh sát, quan sát, phát hiện, thông báo, báo động cho nhân dân và các lực lượng phòng tránh kịp thời; tổ chức phân tán, sơ tán theo kế hoạch, bảo đảm sản xuất, đời sống sinh hoạt; tổ chức nguỵ trang, làm mục tiêu giả, trận địa giả, nghi binh, đánh lừa địch, chống trinh sát và đánh phá của địch; tổ chức phòng tránh tại chỗ bằng công sự, hầm hào, cấp cứu, khắc phục hậu quả, hạn chế tổn thất về người và tài sản, nhanh chóng khôi phục, giữ vững sản xuất, duy trì sức chiến đấu; tổ chức giữ bí mật, bảo toàn lực lượng, cơ động tạo lập và điều chỉnh thế trận phù hợp với sự thay đổi của tình hình, bảo đảm sẵn sàng đánh địch tiến công hoả lực có trọng điểm và hiệu quả; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ động ngăn ngừa, dập tắt bạo loạn, chống các hoạt động xâm nhập, tình báo, gián điệp, tâm lý của địch.
Khả năng phòng tránh
Từng địa phương, từng ngành, từng cấp từ Trung ương xuống địa phương có khả năng chủ động, tự lực tổ chức phòng tránh trên cơ sở dựa vào thế trận khu vực phòng thủ, thế trận phòng không nhân dân được chuẩn bị từ thời bình theo ý định thống nhất của từng huyện, tỉnh, ngành, cả nước. Công tác phòng tránh được tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, đã có kế hoạch chuẩn bị ở một mức độ nhất định. Các địa phương, các ngành các cấp đã kết hợp kinh tế với quốc phòng trong hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, lồng ghép nội dung phòng tránh phù hợp. Một số công trình phòng tránh đã và đang được triển khai bằng nhiều biện pháp: xây dựng mới, tận dụng, cải tạo các công trình trước đây, tận dụng địa thế, điạ hình để cải tạo, xây dựng đã đáp ứng một phần yêu cầu của phòng tránh.Nhận thức về công tác phòng tránh và khả năng thực hiện phòng tránh của các ngành, các cấp, của nhân dân không ngừng được nâng lên thông qua công tác giáo dục, tổ chức huấn luyện, diễn tập theo chương trình, phương án đã được chuẩn bị của từng ngành, địa phương nên sẽ hạn chế bị sáo trộn, bị động trong quá trình triển khai. Chúng ta có kinh nghiệm tổ chức phòng tránh trong chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ trước đây và đúc rút được nhiều kinh nghiệm về phòng tránh, đánh trả từ các cuộc chiến tranh cục bộ trên thế giới gần đây, vận dụng sáng tạo vào xây dựng kế hoạch phòng tránh phù hợp với thực tế. Do vậy, chúng ta có khả năng tổ chức phòng tránh có hiệu quả địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao trong tình hình mới.
Tuy vậy, thực trạng công tác chuẩn bị phòng tránh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao của từng địa phương, từng ngành, từng cấp nói riêng và của đất nước nói chung còn nhiều hạn chế. Nhận thức của một số địa phương, ngành, cơ quan, tổ chức về tình hình nhiệm vụ, đánh giá về địch, về tầm quan trọng, ý nghĩa, mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác phòng tránh chưa thật sâu sắc, đầy đủ dẫn đến còn có biểu hiện xem nhẹ củng cố, xây dựng quốc phòng nói chung, công tác phòng tránh nói riêng, chưa gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng - an ninh trong phát triển kinh tế - xã hội. Còn nhiều công trình phát triển kinh tế, trụ sở làm việc, khu du lịch, giải trớ, khu dân cư được xây dựng gây ảnh hưởng tới công trình quốc phòng, trận địa phòng không, sân bay, thế trận quốc phòng an ninh, gây ảnh hưởng và làm hạn chế khả năng phòng tránh, đánh trả khi địch tiến công hoả lực. Các công trình phòng tránh, sơ tán, được chú trọng chưa đúng mức, chưa có qui hoạch, kế hoạch cụ thể, còn thiếu về số lượng và nhiều công trình chưa bảo đảm chất lượng. Do vậy, so với yêu cầu, nhiệm vụ phòng tránh trong tình hình mới thì khả năng phòng tránh của từng địa phương, từng ngành, từng cơ quan, tổ chức và của cả nước còn nhiều hạn chế, đòi hỏi phải khắc phục, chấn chỉnh kịp thời cả về nhận thức và thực tiễn để công tác chuẩn bị tốt hơn, sẵn sàng, kịp thời phòng tránh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao trong mọi tình huống.
 c) Các giải pháp phòng tránh
Chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, ý định tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao của địch:
Quan điểm, đường lối của Đảng ta là giữ vững hoà bình, ổn định để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng, đòi hỏi phải tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh nói chung và phòng tránh, đánh trả tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao nói riêng. Để phòng tránh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao, giải pháp hàng đầu và quan trọng nhất là ngăn ngừa các nguy cơ xảy ra chiến tranh, các nguyên nhân để địch lợi dụng tạo cớ can thiệp, tổ chức tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao vào nước ta. Đây là giải pháp thể hiện tính chủ động ngăn ngừa phòng tránh từ xa, tiết kiệm và hiệu quả nhất. Thực hiện giải pháp này, trước hết cần phải giữ vững ổn định chính trị, thực hiện tốt các chính sách xã hội, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, các ngành, các cấp góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng. Đồng thời khắc phục những hạn chế, yếu kém, tích cực chống tham nhũng, lóng phớ, tiêu cực và các tệ nạn xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần, bảo đảm dân chủ, công bằng xã hội. Kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng - an ninh, đối ngoại, không để sai lầm trong thực hiện đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại, không để kẻ địch lợi dụng tạo cớ gây chiến tranh, tiến công hoả lực. Trường hợp có nguy cơ địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao, phải hết sức mềm dẻo trong quan hệ quốc tế, cần phải lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm đầu, giữ vững các nguyên tắc nhưng linh hoạt trong đối sách để loại trừ nguy cơ chiến tranh, nguy cơ địch tiến công hoả lực.
Phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, kết hợp chặt chẽ kinh tế, xã hội với quốc phòng - an ninh trong tổ chức phòng tránh:
Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đó chỉ rừ, phải phỏt huy sức mạnh tổng hợp toàn dõn tộc, của cả hệ thống chớnh trị, thực hiện tốt mục tiờu, nhiệm vụ quốc phũng - an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lónh thổ, giữ vững chủ quyền biển đảo, biờn giới, vựng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhõn dõn và chế độ xó hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chớnh trị, trật tự an toàn xó hội, chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phỏ của cỏc thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phú với cỏc mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tớnh toàn cầu, không để bị bị động, bất ngờ trong mọi tỡnh huống; tăng cường sức mạnh quốc phũng - an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xõy dựng khu vực phũng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh, xõy dựng thế trận lũng dõn vững chắc. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phũng, an ninh, quốc phũng, an ninh với kinh tế trong từng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phỏt triển kinh tế - xó hội; chỳ trọng vựng sõu, vựng xa, biờn giới, biển đảo. Một trong những nội dung cơ bản của nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân của Đảng ta là tạo sức mạnh tổng hợp, đánh địch bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân. Muốn có sức mạnh tổng hợp của toàn dân trước hết phải xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải lấy dân làm gốc. Phòng tránh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao có nhiều nội dung đa dạng, phức tạp, khối lượng công việc lớn, khẩn trương, ác liệt, cùng thực hiện trong cùng một thời gian, liên quan tới nhiều ngành, nhiều cơ quan, tổ chức, nhiều cấp, nếu không phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân thì không hoàn thành được. Kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh trong phòng tránh địch tiến công bằng vũ khí công nghệ cao được thể hiện thông qua việc xây dựng tiềm lực (con người và cơ sở, phương tiện vật chất kỹ thuật) và xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh. Khi tiến hành các công trình xây dựng, phát triển các khu kinh tế, khu dân cư các ngành, các cấp, các địa phương phải quan tâm, giải quyết hài hoà với quốc phòng, không gây tổn hại, làm hạn chế khả năng phòng tránh, đánh trả. Nhà nước phải giữ được các địa bàn, cỏc vị trớ chiến lược quan trọng, xung yếu, chú ý phát triển cân đối giữa các vùng, trong các vùng, miền, tạo thế ổn định vững chắc trong mọi tình huống.
Làm tốt công tác chuẩn bị phòng tránh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao:
Công tác chuẩn bị có vị trí rất quan trọng, là một yếu tố quyết định đến thành công của phòng tránh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao. Công tác chuẩn bị phải toàn diện chu đáo cả về nhận thức, tư tưởng, về nhân lực, vật lực, tài lực, về kế hoạch phòng tránh, về công tác phòng không nhân dân. Phải thường xuyên nghiên cứu tổng hợp nắm chắc mọi diễn biến tình hình, âm mưu, thủ đoạn của địch. Thực hiện công tác chuẩn bị phòng tránh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các ngành, cỏc cơ quan, các tổ chức, các cấp, các địa phương, từ Trung ương tới cơ sở, có sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy điều hành thống nhất chặt chẽ từ trên xuống dưới. Tổ chức chuẩn bị phòng tránh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao phải được chuẩn bị từ thời bình và được điều chỉnh, bổ sung thường xuyên, kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế của các ngành, cỏc cơ quan, các tổ chức, các cấp, các địa phương. Trước hết, phải thực hiện thắng lợi chủ trương  Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đó xỏc định: “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục tinh thần  yêu nước, ý thức dõn tộc, trỏch nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ớch quốc gia và kiến thức quốc phũng - an ninh, làm cho mọi người hiểu rừ những thỏch thức lớn tỏc động đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, như: chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, tranh chấp chủ quyền biển đảo, vùng trời..”. Phải tổ chức học tập, quán triệt và huấn luyện chu đáo nâng cao nhận thức và khả năng thực hành phòng tránh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao cho các tầng lớp nhân dân, nhất là với đội ngũ cán bộ đảng viên chủ trì ở các ngành, các cấp, các cơ quan, cỏc tổ chức, các địa phương.
Tổ chức phòng tránh kịp thời, linh hoạt sáng tạo khi địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao:
Tổ chức thực hành phòng tránh là một yếu tố quyết định hàng đầu cho việc phòng tránh đạt hiệu quả cao. Trên cơ sở mọi mặt chuẩn bị phòng tránh đã được thực hiện từ trước, khi có nguy cơ hoặc khi địch bất ngờ tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao, các cấp, các ngành, các cơ quan, cỏc tổ chức, các địa phương, các Ban chỉ đạo công tác phòng không nhân dân từ Trung ương đến cơ sở phải nhanh chóng tổ chức phòng tránh theo chức trách, nhiệm vụ đã xác định. Tổ chức thực hành phòng tránh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao phải trên cơ sở kế hoạch phòng tránh đã xây dựng nhưng được bổ sung cho phù hợp và vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào thực tế tình hình. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, điều hành, hiệp đồng, bảo đảm cho phòng tránh phải kịp thời, liên tục, chặt chẽ, cụ thể, tỷ mỉ, theo sát từng bộ phận, từng khu vực dân cư, tổ chức nguỵ trang, nghi binh chu đáo, trinh sát nắm chắc địch, bảo đảm tuyệt đối bí mật không để địch phát hiện khu vực phòng tránh để đánh phá, cơ động kịp thời khi có nguy cơ khu vực phòng tránh, sơ tán bị địch phát hiện. Kết hợp chặt chẽ giữa phòng tránh với đánh trả, giữa chủ động phòng tránh tại chỗ và sơ tán, phân tán, giữ vững trật tự an toàn xã hội, khắc phục nhanh chóng hậu quả do địch đánh phá theo phương châm 4 tại chỗ: “khắc phục tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ”, duy trì sản xuất, đời sống của nhân dân trong quá trình phòng tránh.
4. Đánh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao
a) Ý nghĩa, mục đích, yêu cầu của đánh địch
 Ý nghĩa:
 Đánh địch là nội dung cốt lõi nhất của phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao, là biện pháp tích cực, chủ động tiêu diệt địch, phá thế tiến công của địch, tiến tới đánh bại tiến công hoả lực của địch, bảo vệ nhân dân, bảo vệ được từng địa phương, bảo vệ chủ quyền đất nước.
Mục đích:
Tiêu diệt địch, phá thế tiến công của địch, bảo vệ chủ quyền, bảo vệ các mục tiêu quan trọng của đất nước, của địa phương, bảo vệ nhân dân, bảo vệ sản xuất, đời sống sinh hoạt, tiến tới đánh bại tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao của địch. Tạo điều kiện thuận lợi cho phòng tránh đạt kết quả tốt, bảo toàn và phát triển được lực lượng, chuẩn bị thế trận và các hoạt động khác của từng địa phương và của cả nước. Giữ vững lòng tin của nhân dân, ổn định chính trị, xã hội, tạo thế mạnh trên trường ngoại giao và quan hệ quốc tế.
Yêu cầu:
Đánh địch có trọng điểm, đúng đối tượng, đúng thời cơ; đánh địch bằng sức mạnh tổng hợp, bằng mọi lực lượng, mọi loại vũ khí, trang bị, đánh rộng khắp, từ xa tới gần, các độ cao, trên các hướng, đánh địch đạt hiệu quả cao; vận dụng cách đánh sáng tạo, mưu trí, linh hoạt, kết hợp chặt chẽ giữa đánh trả và phòng tránh, tích cực cơ động, nguỵ trang, nghi binh, bảo toàn lực lượng đánh lâu dài; sẵn sàng đánh địch tiến công đường bộ, đổ bộ đường biển, đường không; chỉ huy kiên quyết, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng theo kế hoạch thống nhất, bảo đảm chiến đấu liên tục, toàn diện, kịp thời.
b) Nhiệm vụ và khả năng đánh địch
Nhiệm vụ đánh địch:
Tổ chức trinh sát, quan sát, phát hiện, thông báo báo động kịp thời địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao cho các lực lượng đánh trả và phòng tránh; tổ chức đánh địch có trọng điểm, chống trinh sát và tác chiến điện tử, phá thế tiến công của địch, bảo vệ có hiệu quả các mục tiêu quan trọng của đất nước, của địa phương; tổ chức đánh phá có chọn lựa các mục tiêu có liên quan đến tiến công hoả lực của địch, như: sân bay, sở chỉ huy, các trạm rađa, trạm thông tin liên lạc, các loại tàu mang tên lửa, chi viện hoả lực, tàu vận tải chở quân, căn cứ bảo đảm, kho tàng; khắc phục hậu quả địch tiến công hoả lực, tích cực ngăn ngừa, phòng, chống bạo loạn, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Khả năng đánh địch:
   Về thế trận: Chúng ta có thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận của khu vực phòng thủ địa phương, thế trận phòng không nhân dân - nòng cốt của đánh trả tiến công bằng vũ khí công nghệ cao của địch, được chuẩn bị một bước từ thời bình rộng khắp có chiều sâu, hiểm hóc, vững chắc, liên hoàn, cơ động linh hoạt, đánh địch kịp thời ở mọi lúc, mọi nơi, có hiệu quả theo ý định, kế hoạch thống nhất.
Về lực lượng đánh trả: Gồm lực lượng phòng không ba thứ quân (lực lượng phòng không chủ lực; lực lượng phòng không của bộ đội địa phương; phòng không dân quân tự vệ) và lực lượng không quân, lực lượng tác chiến điện tử, pháo binh, tên lửa, hải quân, đặc công, và hoả lực súng bộ binh tham gia. Các lực lượng này đã được tổ chức chặt chẽ, xây dựng, huấn luyện chu đáo, được trang bị đa dạng các loại vũ khí từ thô sơ đến hiện đại phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng lực lượng, có thể đánh địch từ xa tới gần, ở các độ cao và cự ly khác nhau. Trong đó các loại tên lửa phòng không, pháo phòng không, súng máy phòng không, một số loại súng bộ binh, không quân tiêm kích có thể đánh mục tiêu trên không. Các loại hoả lực pháo binh, tên lửa mặt đất, hoả lực của hải quân, đặc công, không quân tiêm kích bom, ném bom có thể tham gia tiến công các mục tiêu mặt đất, mặt nước, nơi xuất phát của các phương tiện tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao của địch, trong phạm vi bán kính đánh phá 1.500km đối với không quân, 500km với tên lửa và tên lửa bờ của hải quân, với số lượng mục tiêu và thời cơ hạn chế, có lựa chọn.
Về tổ chức lãnh đạo, chỉ huy: Chúng ta có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt lực lượng vũ trang, với đường lối chính trị, quân sự sáng suốt, đúng đắn, tiếp thu và vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự phong phú, tốt đẹp của dân tộc. Chúng ta có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kinh nghiệm, được đào tạo, huấn luyện chu đáo, được tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương ở các ngành, cỏc cơ quan, các tổ chức, các cấp, tạo thành hệ thống lãnh đạo, chỉ huy thống nhất, thông suốt.
Về kinh nghiệm: Chúng ta có nhiều kinh nghiệm quí báu đánh bại đế quốc Mỹ nói chung và đánh bại không quân, hải quân Mỹ nói riêng trong kháng chiến chống Mỹ trước đây. Quân và dân ta đã bắn rơi nhiều loại máy bay hiện đại nhất lúc đó của không quân Hoa kỳ, tiêu diệt và bắt sống nhiều giặc lái. Chúng ta đã đúc rút được nhiều bài học kinh nghiệm trong các cuộc chiến tranh cục bộ, các cuộc tiến công bằng vũ khí công nghệ cao gần đây trên thế giới như chiến tranh vùng Vịnh lần I (1991), lần II (2003); chiến tranh Nam Tư (1999); chiến tranh ở Apganixtan (2001); chiến tranh ở Libi (2011).
Tuy vậy, so với yêu cầu nhiệm vụ đánh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao trong tình hình mới, chúng ta cũng còn những hạn chế về số lượng, mức độ hiện đại của vũ khí, trang bị, tổ chức chỉ huy, các mặt chống tác chiến điện tử, làm chủ vùng trời nên còn gặp khó khăn trong tổ chức đánh trả.
c) Các giải pháp chủ yếu đánh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao
Điều chỉnh hoàn thiện mọi công tác chuẩn bị đánh địch tiến công bằng vũ khí công nghệ cao phù hợp với tình hình mới, sẵn sàng chiến đấu cao, đánh địch kịp thời:
Công tác chuẩn bị đánh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao đã được chuẩn bị trước từ thời bình. Khi có dấu hiệu, nguy cơ định tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao thì mọi mặt công tác chuẩn bị phải được tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện sát hợp với tình hình thực tế. Phải tăng cường xây dựng, giữ vững và phát huy yếu tố chính trị, tinh thần để mọi người, mọi ngành, mọi lực lượng có ý chí quyết tâm cao, quyết đánh, quyết thắng, tin tưởng vào thắng lợi của cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ Tổ quốc. Giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự của toàn xã hội phát huy sức mạnh tổng hợp đánh địch có hiệu quả cao. Khắc phục tư tưởng chủ quan coi thường địch hoặc tư tưởng đề cao vũ khí công nghệ cao của địch. Nhanh chóng bổ sung, điều chỉnh quyết tâm, kế hoạch đánh địch đã được xây dựng từ trước cho phù hợp với tình hình. Nội dung điều chỉnh, hoàn thiện tập trung vào cách đánh, khu vực mục tiêu bảo vệ, hướng đánh, đối tượng đánh, khu vực đánh địch, tổ chức sử dụng, bố trí lực lượng, tổ chức hoả lực đánh địch, hoàn thiện hệ thống công trình, công sự trận địa. Các địa phương, các ngành, các cơ quan, tổ chức, các cấp, nhanh chóng điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện quyết tâm, kế hoạch của mình theo quyết tâm, kế hoạch của trên và phù hợp với tình hình thực tế. Đồng thời, tổ chức huấn luyện bổ sung cho các lực lượng theo các quyết tâm, kế hoạch, phương án đã được điều chỉnh. Luôn luôn sẵn sàng chiến đấu cao về người, vũ khí, trang bị, lãnh đạo, chỉ huy, bảo đảm để đánh địch kịp thời, không để bất ngờ, lỡ thời cơ.
Vận dụng cách đánh sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả:
Cách đánh bao gồm các nội dung chủ yếu: xây dựng thế trận phòng tránh, đánh địch; xác định khu vực mục tiêu trọng điểm cần bảo vệ, đối tượng đánh, hướng đánh, khu vực đánh địch chủ yếu; thời cơ, hình thức chiến thuật đánh địch; tổ chức sử dụng, bố trí lực lượng đánh địch.
Xây dựng thế trận phòng tránh, đánh địch phải hiểm, chắc, có chiều sâu, cơ động linh hoạt và rộng khắp. Xây dựng thế trận phải dựa vào khu vực phòng thủ địa phương, kết hợp với ý định tác chiến trong phạm vi toàn quốc, trên từng hướng chiến lược, từng khu vực mục tiêu trọng điểm để hình thành thế trận vừa có trọng điểm mạnh, vừa rộng khắp, phù hợp với cách đánh chung.
Các khu vực mục tiêu trọng điểm cần tập trung bảo vệ thường là các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các mục tiêu quân sự hoặc các mục tiêu là cơ sở hạ tầng.
Xác định đối tượng đánh, hướng đánh và khu vực đánh địch chủ yếu phải cụ thể và phù hợp với từng lực lượng. Đối với lực lượng phòng không và không quân tiêm kích: đối tượng đánh là các phương tiện tiến công đường không của địch trên hướng chủ yếu. Không quân tiêm kích bom, ném bom, pháo binh, tên lửa mặt đất, hải quân, đặc công: đối tượng đánh chủ yếu là tàu sân bay, sân bay, bãi đỗ máy bay, các tàu chiến mang tên lửa hành trình, tàu chi viện hoả lực, sở chỉ huy, các căn cứ bảo đảm và các mục tiêu liên quan đã được ta lựa chọn. Phòng không của khu vực phòng thủ địa phương chủ yếu đánh địch ở độ cao thấp. Tuỳ lực lượng, căn cứ vào tính năng kỹ thuật, chiến thuật của vũ khí, khí tài được trang bị và ý định của cấp trên để xác định đối tượng đánh phù hợp, đúng thời cơ và đạt hiệu quả cao.
Vận dụng linh hoạt phù hợp các hình thức tác chiến, chiến thuật và phương pháp hoạt động chiến đấu trong đánh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao. Đối với lực lượng phòng không ba thứ quân có thể vận dụng các hình thức chiến thuật: chốt bảo vệ mục tiêu; đi cùng bảo vệ mục tiêu; phục kích, đón lõng đường bay thấp của địch. Đối với lực lượng không quân tiêm kích, có thể vận dụng các phương pháp hoạt động chiến đấu: đánh chặn từ xa từ vị trí trực ban trên sân bay; đánh chặn từ vị trí trực ban trên không; tự tìm kiếm mục tiêu để tiêu diệt. Khi yểm hộ cho lực lượng tỏc chiến mặt đất của ta, không quân tiêm kích bom, không quân ném bom có thể sử dụng phương pháp yểm hộ trong đội hình hoặc khu vực.
Đối với lực lượng không quân tiêm kích bom, ném bom, có thể vận dụng hình thức tác chiến: đợt tác chiến tập trung; đòn tập kích tập trung; đòn tập kích lần lượt; đánh đơn lẻ. Đối với lực lượng pháo binh, tên lửa mặt đất, có thể vận dụng hình thức: đòn tập kích hoả lực độc lập hoặc hiệp đồng. Đối với lực lượng hải quân, có thể sử dụng hình thức đợt hoạt động tác chiến tập trung, đòn tập kích. Đối với lực lượng đặc công, vận dụng hình thức: tập kích, luồn sâu đánh hiểm vào mục tiêu có lựa chọn (như sở chỉ huy, sân bay, bãi đỗ máy bay; trận địa hoả lực, kho tàng, tàu chi viện hoả lực). Các hình thức tác chiến, chiến thuật phải được vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tế chiến đấu của từng lực lượng.
Tổ chức sử dụng, bố trí lực lượng đánh địch hợp lý, có hiệu quả cao. Yêu cầu tổ chức sử dụng, bố trí lực lượng phải tạo được thế có lợi, liên hoàn, phù hợp với ý định của cấp trên, đánh được các đối tượng địch trên không, mặt đất, mặt nước, đánh ở nhiều độ cao, rộng khắp, từ xa tới gần nhưng có trọng điểm, đối phó được các thủ đoạn khác nhau của địch. Bảo đảm phát huy được hết tính năng vũ khí, phù hợp với sở trường của từng lực lượng, chi viện hiệu quả được cho nhau, không làm ảnh hưởng tới hoạt động chiến đấu của nhau. Có thể tổ chức thành các lực lượng sau: lực lượng đánh địch bảo vệ khu vực mục tiêu trọng điểm; lực lượng đánh địch trên đường bay; lực lượng phục kích đón lõng và lực lượng dự bị. Để đánh trả mục tiêu mặt đất, mặt nước có lựa chọn, có thể tổ chức lực lượng theo mục tiêu đánh trả hoặc theo từng lực lượng riêng.
Cụ thể, với lực lượng phòng không và không quân tiêm kích, sử dụng tập trung bảo vệ các mục tiêu trọng điểm, trong đó tên lửa phòng không, không quân tiêm kích tập trung đánh các mục tiêu ở độ cao cao và độ cao trung bình. Không quân tiêm kích đánh địch từ xa trên hướng chủ yếu. Sử dụng lực lượng pháo phòng không, súng máy phòng không, tên lửa tầm thấp, súng bộ binh, dân quân tự vệ phòng không tập trung đánh các mục tiêu ở độ cao trung bình và độ cao thấp từ 5.000m trở xuống như máy bay chiến đấu chiến thuật, tên lửa hành trình.
Các lực lượng phòng không thường bố trí xung quanh khu vực mục tiêu trọng điểm được bảo vệ, tập trung đánh địch trên hướng chủ yếu nhưng vẫn có thể đánh được địch trên các hướng khác, có nhiều vòng hoả lực bảo vệ từ xa tới gần, bố trí xen kẽ, phối hợp nhiều loại hoả lực để chi viện cho nhau đánh địch hiệu quả trong mọi tình huống. Lực lượng không quân tiêm kích, bố trí triển khai trên nhiều sân bay, gồm sân bay chính thức, dự bị, dã chiến đảm bảo bí mật, bảo toàn được lực lượng nhưng cất cánh đánh địch được nhanh chóng, kịp thời.
Thực tiễn trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, từ năm 1964 đến 1972, lực lượng phòng không ba thứ quân và không quân tiêm kích đã bắn rơi 4.181 máy bay các loại của Mỹ. Trong đó dân quân tự vệ bắn rơi 500 chiếc,  (súng máy phòng không bắn rơi 253 chiếc, súng trường bắn rơi 37 chiếc), bắt sống và tiêu diệt hàng trăm giặc lái Mỹ.
Sử dụng không quân tiêm kích bom, ném bom, pháo binh, tên lửa, hải quân, đặc công tiến công vào các mục tiêu mặt đất, mặt nước, căn cứ xuất phát, sở chỉ huy có liên quan tới tổ chức tiến công hoả lực của địch. Các mục tiêu này phải được lựa chọn kỹ, phù hợp với tính năng và điều kiện thực tế của từng lực lượng mới tổ chức đánh. Bố trí, triển khai các lực lượng trên ở các khu vực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, tính năng vũ khí, trang bị và giữ được bí mật.
Thực tiễn, trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ bảo vệ miền Bắc, chúng ta đã sử dụng pháo binh, hải quân, không quân đánh các mục tiêu mặt đất, mặt nước đạt nhiều kết quả tốt, điển hình là các đơn vị pháo binh của dân quân ven biển nhiều lần bắn cháy các tàu chiến Mỹ; trận đánh tàu Mađốc (Mỹ) trên vịnh Bắc Bộ ngày 2 tháng 8 năm 1964 của Hải quân ta; trận đánh thiệt hại hai tàu khu trục của Hạm đội 7 (Mỹ) ở ngoài khơi vùng biển Quảng Bình của không quân ta (máy bay Mic-17) ngày 19 tháng 4 năm 1972; trận dùng máy bay vận tải IL-28 đánh căn cứ Buôn Lọong, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng năm 1972.
Sử dụng các đơn vị tác chiến điện tử để chống tác chiến điện tử, chế áp các phương tiện chỉ huy, dẫn đường của địch, gây nhiễu, nghi binh điện tử, phải kết hợp giữa “chế áp cứng” và  “chế áp mềm”.
Sử dụng lực lượng vũ trang địa phương đánh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao, đây là lực lượng đông đảo nhất, đánh địch kịp thời nhất ở mọi nơi, mọi lúc. Căn cứ vào nhiệm vụ, khả năng chiến đấu, phục vụ chiến đấu để sử dụng các đơn vị vũ trang địa phương cho phù hợp. Chủ yếu sử dụng bảo vệ các mục tiêu của từng khu vực, từng địa phương, từng ngành, từng  cơ quan, từng tổ chức theo kế hoạch, phương án thống nhất, được lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ, thực hiện huyện bảo vệ huyện, tỉnh bảo vệ tỉnh, ngành, cơ quan bảo vệ ngành, cơ quan đồng thời sẵn sàng bổ sung, chi viện, tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu cho các lực lượng chủ lực khi cần thiết. Lực lượng vũ trang địa phương thường đảm nhiệm các nhiệm vụ: tổ chức các đài, vọng quan sát, phát hiện thông báo báo động địch tiến công hoả lực từ xa tới gần (kể cả từ các đảo xa); thành lập các trận địa, các cụm hoả lực pháo, súng máy phòng không, súng bộ binh bảo vệ các mục tiêu trọng điểm của địa phương, của các ngành, cỏc cơ quan, tổ chức; tổ chức các trận địa phòng không phục kích đón lõng các đường bay bay thấp, tên lửa hành trình vào đánh phá; có thể làm nhiệm vụ thiết lập hệ thống vật cản trên không bằng khí cầu, bóng bay có mang lượng nổ nhỏ ở độ cao từ 30 đến 300m để cản phá máy bay bay thấp, tên lửa hành trình. Các địa phương, cỏc cơ quan, tổ chức, các ngành, ở khu vực biên giới, ven biển có thể tham gia chiến đấu đánh phá các căn cứ xuất phát, nơi triển khai lực lượng, phương tiện tiến công hoả lực, phá thế chuẩn bị tiến công của địch; tổ chức các lực lượng tham gia bảo đảm chiến đấu phù hợp với chức năng của cỏc cơ quan, tổ chức, các ngành như cứu thương, cứu sập, cứu hoả, bảo đảm giao thông vận chuyển, bảo đảm thông tin liên lạc, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, xây dựng các trận địa, công trình chiến đấu mới phục vụ đánh địch kịp thời, là lực lượng chính và nhanh chóng bắt giặc lái của địch. Lực lượng vũ trang địa phương có nhiệm vụ tuần tra canh gác, kịp thời phát hiện và tiêu diệt bọn phản động, gián điệp, biệt kích, thám báo, chỉ điểm mục tiêu, kiên quyết, nhanh chóng dập tắt mọi mầm mống hoặc lực lượng gây bạo loạn, lật đổ, giữ vững an chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khu vực. Các các cơ quan, cỏc tổ chức, cỏc tỉnh, huyện, các ngành phải quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân. Kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng - an ninh, trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh toàn diện cả về chất lượng, số lượng, vũ khí, trang bị, cơ sở vật chất, kỹ thuật, công trình phòng thủ, trình độ chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Trong đánh trả địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao cần tổ chức sử dụng, bố trí các lực lượng vũ trang điạ phương phù hợp, linh hoạt, sáng tạo phát huy được sở trường của từng ngành, từng cơ quan, từng tổ chức, từng địa phương, có sự hiệp đồng giữa các lực lượng, các địa phương chặt chẽ, liên tục.
Tổ chức nắm địch, thông báo báo động kịp thời, cơ động linh hoạt:
Để đánh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao có hiệu quả ngay từ đầu, không bị bất ngờ, lỡ thời cơ, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải phát hiện được triệu chứng tiến công hoả lực, âm mưu, hoạt động của các lực lượng, phương tiện tiến công của địch từ sớm, từ xa để thông báo, báo động nhanh chóng cho tổ chức đánh trả, phòng tránh kịp thời. Đây là công việc hết sức khó khăn, phức tạp, vì vậy phải xây dựng hệ thống trinh sát, thông báo, báo động rộng khắp, thống nhất ở từng khu vực và trên phạm vi toàn quốc, kết hợp giữa thô sơ, truyền thống với hiện đại, giữa quân sự với dân sự để nắm địch, thông báo, báo động chính xác, liên tục, kịp thời, bí mật. Tổ chức hệ thống trinh sát điện tử, trinh sát ngoại tuyến, thu thập tin tức, hoạt động của địch ngay tại cơ quan lãnh đạo, chỉ huy, tại căn cứ xuất phát của địch. Tổ chức hệ thống rađa với nhiều chủng loại của lực lượng quân sự và dân sự (phòng không, không quân, hải quân, cảnh sát biển, hàng không dân dụng, hàng hải), sử dụng nhiều tần số khác nhau, kết hợp với các đài quan sát mắt, bố trí kết hợp xen kẽ để bảo đảm phát hiện, thông báo đầy đủ, kịp thời, chính xác các loại mục tiêu vào đánh phá ở mọi khu vực, mọi lúc, mọi hướng, mọi độ cao, trong mọi điều kiện thời tiết, ngày và đêm.
Cơ động là một hoạt động phổ biến và là một biện pháp quan trọng nâng cao khả năng, hiệu quả đánh trả, phòng tránh, khoét sâu hạn chế của vũ khí công nghệ cao, thực hiện nghi binh, lừa địch, giữ bí mật, tạo bất ngờ để đánh địch đạt hiệu quả cao. Để thực hiện cơ động được kịp thời, linh hoạt cần xây dựng hệ thống đường, cầu, phà, bến vượt phù hợp, có các trận địa làm sẵn để cơ động tới triển khai được nhanh chóng; phương tiện cơ động: xe kéo, người lái xe, nhiên liệu phải đáp ứng kịp thời, phù hợp. Cần tích cực trang bị và cải tiến để có được nhiều loại vũ khí phòng không tự hành, các thiết bị nhìn đêm để phục vụ trinh sát và đánh địch. Đồng thời thường xuyên huấn luyện nâng cao khả năng cơ động cho các lực lượng đánh địch, chú trọng công tác nguỵ trang, nghi binh, phải có kế hoạch cơ động chính xác, cụ thể, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, phát huy được cơ sở hạ tầng, nhân lực đảm bảo cơ động từ các địa phương, các ngành.
Tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, hiệp đồng và bảo đảm chặt chẽ, cụ thể, toàn diện:
Củng cố, kiện toàn Ban chỉ đạo phòng không nhân dân từ Trung ương xuống địa phương, duy trì hoạt động thường xuyên theo đúng chức năng, nhiệm vụ và theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan ban, ngành làm tham mưu. Bộ Quốc phòng làm tham mưu cho Nhà nước về phòng tránh, đánh địch tiến công hoả lực; các cơ quan quân sự từ Bộ Quốc phòng trở xuống cần có cán bộ chuyên tránh làm tham mưu cho lãnh đạo các cấp về phòng tránh, đánh địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao. Thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, hiệp đồng trên phạm vi cả nước và từng khu vực. Chỉ huy đánh địch trên phạm vi cả nước do Bộ Tổng chỉ huy điều hành. Trên từng hướng chiến lược do Sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh mặt trận điều hành. Phòng không của quân khu, khu vực phòng thủ địa phương do quân khu, tỉnh (thành phố) chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ huy, điều hành hiệp đồng các lực lượng thuộc quyền theo kế hoạch thống nhất đã được phê duyệt.
II. TỔ CHỨC CHUẨN BỊ VÀ THỰC HÀNH PHÒNG TRÁNH, ĐÁNH TRẢ ĐỊCH TIẾN CÔNG HOẢ LỰC BẰNG VŨ KHÍ CÔNG NGHỆ CAO
 1. Tổ chức chuẩn bị phòng tránh, đánh trả
Tổ chức chuẩn bị phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao bao gồm nhiều nội dung, trong đó nổi lên một số nội dung chủ yếu sau:
a) Xây dựng quyết tâm phòng tránh, đánh trả
Quyết tâm phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực là văn kiện tác chiến cơ bản trong hệ thống tác chiến chiến lược; là văn kiện có tính pháp quy, cụ thể hoá chủ trương, ý định quyết tâm phòng tránh, đánh trả của Đảng, Nhà nước trên phạm vi toàn quốc. Quyết tâm phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực trên phạm vi toàn quốc do Cục Tác chiến thuộc Bộ Tổng tham mưu soạn thảo, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký chịu trách nhiệm, được Quân uỷ Trung ương thông qua và Chủ tịch nước phê duyệt.
Cơ sở để xây dựng quyết tâm phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực trên phạm vi cả nước là: sự nhận định, đánh giá, kết luận về địch tiến công hoả lực; khả năng các mặt của ta; điều kiện địa lí đất nước; quyết tâm phòng thủ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
b) Soạn thảo kế hoạch phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực
Kế hoạch phòng tránh, đánh trả là văn kiện cụ thể hoá quyết tâm phòng tránh, đánh trả, là cơ sở để điều hành toàn bộ họat động phòng tránh, đánh địch.
Hệ thống kế hoạch phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực gồm: kế hoạch phòng tránh, đánh trả trong các lực lượng vũ trang và kế hoạch phòng tránh, của Chính phủ cho tới các cơ quan bộ, ban, ngành các cấp và các địa phương. Kế hoạch phòng tránh, đánh trả và kế hoạch phòng tránh địch tiến công hoả lực được soạn thảo trên bản đồ có kèm theo thuyết minh. Nội dung, quy cách cụ thể của các kế hoạch theo quy định trong tài liệu công tác tham mưu. Nội dung phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực trong các lực lượng vũ trang phải cụ thể hoá các nội dung quyết tâm phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực của cả nước sát hợp với từng hướng, (vùng) chiến lược, từng chiến trường, quân khu, quân đoàn và các địa phương theo từng giai đoạn phòng tránh, đánh trả.
Hệ thống kế hoạch phòng tránh địch tiến công hoả lực được soạn thảo thống nhất từ Chính phủ đến các cơ quan, ban, ngành, sở, từ Trung ương đến địa phương. Kế hoạch phòng tránh thường gồm hai nội dung chính: phòng tránh, sơ tán và phòng tránh tại chỗ. Nội dung kế hoạch phòng tránh địch tiến công hoả lực tuỳ thuộc vào chức năng, vị trí của từng cơ quan, trong đó tập trung vào một số nội dung chính: ý định tổ chức phòng tránh; dự kiến các khu vực sơ tán, phân tán; tổ chức các lực lượng, phương tiện, phân chia sử dụng lực lượng theo các nhiệm vụ; chỉ huy điều hành và hiệp đồng giữa các bộ phận, lực lượng.
c) Triển khai nhiệm vụ và tổ chức lực lượng
Triển khai nhiệm vụ
Sau khi có kế hoạch, cần triển khai nhiệm vụ đến từng cơ quan, đơn vị, các ngành, các địa phương để thực hiện và huấn luyện, diễn tập, hoàn chỉnh các phương án.
Về phòng tránh: Phòng tránh địch tiến công hoả lực là công việc đa dạng, phức tạp gồm nhiều nội dung, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cơ quan, tổ chức, nhiều địa phương,ở các cấp nên phải được triển khai cụ thể, toàn diện. Các nhiệm vụ phải triển khai gồm: tổ chức hệ thống trinh sát, quan sát, thông báo, báo động địch tiến công hoả lực; chuẩn bị các khu vực sơ tán; xây dựng công trình phòng tránh bảo vệ sản xuất, cụng tỏc, sinh hoạt; tổ chức lực lượng sơ tán, phân tán; tổ chức ổn định lực lượng tại chỗ bảo đảm vừa sản xuất vừa chiến đấu; bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội; tổ chức lực lượng cứu thương, cứu hoả, cứu sập khắc phục hậu quả; tổ chức nguỵ trang, nghi binh (tập trung cho các khu vực mục tiêu quan trọng). Cỏc cơ quan, tổ chức căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và tỡnh hỡnh thực tế của mỡnh, vào nhiệm vụ của trờn giao, vào kế hoạch phũng trỏnh đó chuẩn bị cần thường xuyờn bổ sung, hoàn thiện, dự kiến các phương án xử trớ những tỡnh huống cú thể xảy ra để tổ chức triển khai cơ quan phũng trỏnh phự hợp.
Về đánh trả: Nội dung triển khai về đánh trả gồm: dự báo về địch tiến công hoả lực (âm mưu, thủ đoạn, lực lượng, vũ khí, hướng tiến công, mạnh, yếu); khả năng đánh trả của ta; khu vực mục tiêu bảo vệ, hướng đánh chủ yếu, thời cơ đánh, tổ chức hệ thống trinh sát, quan sát, thông báo, báo động; tổ chức, sử dụng lực lượng đánh trả (từng lực lượng phải xác định rõ: lực lượng sử dụng, nhiệm vụ, khu vực bố trí, khu vực đảm nhiệm, đối tượng đánh); tổ chức hệ thống chỉ huy lực lượng đánh trả.
Tổ chức lực lượng
Đối với các cơ quan, tổ chức Trung ương, bộ, ban, ngành, các doanh nghiệp, các địa phương, gồm các lực lượng: lực lượng sơ tán, phân tán; lực lượng bám trụ sản xuất, cụng tỏc; lực lượng tự vệ chiến đấu; lực lượng cấp cứu, cứu hộ, lực lượng bảo đảm. Từng cơ quan căn cứ vào tỡnh hỡnh thực tế, vào yờu cầu, nhiệm vụ của cấp trờn giao, vào kế hoạch phũng trỏnh, đánh trả đó được chuẩn bị để bổ sung, hoàn thiện cỏc lực lượng phự hợp với cỏc nhiệm vụ. Từng lực lượng phải luụn cú lónh đạo, chỉ huy chặt chẽ, được giao nhiệm vụ cụ thể, rừ ràng.
Đối với lực lượng vũ trang, gồm: lực lượng đánh trả từ xa; lực lượng bảo vệ các khu vực mục tiêu trọng điểm; lực lượng đánh địch rộng khắp; lực lượng đánh địch tại các căn cứ; lực lượng cất giấu, sơ tán, phân tán, lực lượng bảo đảm.
Lực lượng đánh trả phải được tổ chức hợp lý đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Đặc biệt lực lượng phòng không, không quân phải được tổ chức với tỷ lệ hợp lý vừa bảo đảm đánh địch thường xuyên, lâu dài, vừa đủ khả năng mở các chiến dịch phòng không khi điều kiện cho phép trong quá trình địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao
d) Một số vấn đề về công tác lãnh đạo, chỉ huy, bảo đảm phòng tránh, đánh trả
-  Lãnh đạo, chỉ huy phòng tránh, đánh trả
Yêu cầu lãnh đạo, chỉ huy phải: tập trung, kiên quyết, liên tục, sâu sát; lãnh đạo, chỉ huy phải xây dựng thành một hệ thống thống nhất và chặt chẽ; tổ chức hiệp đồng cụ thể, đồng bộ. Để thực hiện được yêu cầu trên, cần phải tập trung sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước, chỉ huy của Bộ Tổng chỉ huy trên phạm vi cả nước và trên từng hướng (vùng) chiến lược, từng chiến trường, từng địa bàn trọng yếu và từng địa phương, từng cơ quan, từng tổ chức. Phải củng cố, kiện toàn Ban chỉ đạo phòng không nhân dân từ Trung ương đến cơ sở theo Nghị định số 65/2002/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ. Hệ thống Ban chỉ đạo phòng không nhân dân phải đưa vào hoạt động có nền nếp, chặt chẽ, đạt hiệu quả thiết thực, theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan ban, ngành làm tham mưu. Bộ Quốc phòng phải làm tham mưu cho Nhà nước về phòng tránh, đánh địch tiến công hoả lực với hệ thống kế hoạch thống nhất từ trên xuống dưới.
Xây dựng và thường xuyên kiện toàn hệ thống lãnh đạo, chỉ huy phòng tránh, đánh trả trong phạm vi cả nước và từng hướng (vùng) chiến lược, chiến trường, địa bàn chiến lược trọng yếu và từng địa phương, chỉ huy đánh trả kịp thời, đạt hiệu quả cao.
- Về công tác bảo đảm
Bảo đảm cho phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao rất phức tạp, đa dạng, là một yếu tố quyết định đến thành công của phòng tránh, đánh địch. Trong đó nổi lên một số công tác bảo đảm chủ yếu sau:
Bảo đảm trinh sát, quan sát, thông báo báo động địch tiến công hoả lực: Để bảo đảm phát hiện, thông báo báo động địch tiến công hoả lực kịp thời phục vụ cho phòng tránh, đánh trả cần phải:
Tổ chức hệ thống rađa nhiều chủng loại kết hợp các lực lượng rađa quân sự và dân sự với nhiều tần số khác nhau, bố trí hợp lý để quản lý chặt chẽ vùng trời phát hiện các mục tiêu từ xa, trên mọi hướng, mọi độ cao, trong mọi điều kiện thời tiết, ngày đêm. Tổ chức các đài, vọng quan sát phòng không rộng khắp kết hợp với hệ thống rađa để phát hiện kịp thời địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao nhất là phát hiện các mục tiêu bay thấp, cực thấp. Tổ chức hệ thống trinh sát điện tử, trinh sát kỹ thuật, mạng Internet, trinh sát chiến lược, trinh sát ngoại tuyến, thu thập thông tin để nắm địch ngay tại căn cứ chỉ huy, xuất phát tiến công. Tổ chức hệ thống thông tin thông báo báo động đa dạng, phong phú, kết hợp giữa các thông tin quân sự với thông tin dân sự đảm bảo thông báo, báo động kịp thời, chính xác, vững chắc.
Bảo đảm công trình, nguỵ trang, nghi binh, cơ động:
 Phòng tránh: xây dựng hệ thống công trình tại chỗ và khu vực sơ tán, phân tán là biện pháp bảo đảm chủ yếu nhằm bảo toàn lực lượng, nhân dân, tài sản, vật chất, kỹ thuật. Để xây dựng công trình phòng tránh cần nhiều công sức và tiền của, vì vậy cần phải phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; phải phân chia nhiệm vụ cho từng cấp, từng ngành, từng cơ quan, từng tổ chức, từng lực lượng, từng địa phương,  phải được chuẩn bị từ thời bình và thường xuyên được củng cố, bổ sung; hầm hào ẩn nấp phải bảo đảm kiên cố, nguỵ trang nghi binh giữ được bí mật, nhất là các khu vực hoạt động công cộng, khu làm việc, sản xuất của các cơ quan, cỏc tổ chức, các ngành, các khu vực tập trung bí mật của các lực lượng vũ trang nhân dân, đặc biệt là các khu sơ tán của cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước; các công trình xây dựng từ thời bình luôn phải chú ý đến chống trinh sát và đánh phá của địch
Đánh trả: các lực lượng trực tiếp đánh trả phải có hệ thống công sự, trận địa đầy đủ, vững chắc (trận địa chính, trận địa dự bị, trận địa giả, trận địa lâm thời) đảm bảo chiến đấu liên tục, dài ngày. Xây dựng hệ thống sở chỉ huy bảo đảm thông tin liên lạc chỉ huy, hiệp đồng thông suốt, liên tục, bí mật, an toàn.
Bảo đảm cơ động: cần dự kiến trước các tình huống cơ động đối với từng lực lượng để cơ động kịp thời; chủ động, nhạy bén cơ động xê dịch các lực lượng, phương tiện đúng thời cơ; chuẩn bị chu đáo phương tiện, cơ sở vật chất cho cơ động đánh địch và sơ tán phân tán, phòng tránh; thường xuyên bảo đảm đường cơ động, khu vực phòng tránh, phân tán, sơ tán, các trận địa, nguỵ trang, nghi binh các khu vực phòng tránh, các trận địa để cơ động các lực lượng kịp thời, bí mật.
2. Thực hành phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao
Thực hành phòng tránh, đánh trả là hoạt động có tính chất quyết định tới thành công của công tác phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao. Điểm cốt lõi của thực hành phòng tránh, đánh trả địch là phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, kết hợp chặt chẽ giữa phòng tránh và đánh trả, bảo đảm vừa đánh địch vừa bảo toàn được lực lượng, cơ sở vật chất, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thực hành đánh địch liên tục, càng đánh càng thắng, càng đánh càng mạnh.
a) Hoạt động của địch
Sau khi tạo cớ, chuẩn bị các mặt cho tiến công hoả lực, địch sử dụng phần lớn các máy bay trên các tàu sân bay, các căn cứ không quân, hải quân ở các nước đồng minh, kết hợp với tên lửa hành trình, pháo hạm tiến hành tiến công hoả lực nhằm đánh quỵ khả năng đánh trả, tiềm lực các mặt của ta, gây rối loạn tâm lý, tinh thần, trật tự an toàn xã hội, cô lập các khu vực tác chiến của ta, làm “mềm chiến trường”. Khi có điều kiện sẽ tung lực lượng phản ứng nhanh vào hỗ trợ cho lực lượng phản động thực hiện bạo loạn, lật đổ.
Mục tiêu đánh phá: tập trung vào các trung tâm chính trị, kinh tế, quân sự như: cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, của các địa phương, các trung tâm bưu chính viễn thông, đài phát thanh, truyền hình, các sở chỉ huy, các trận địa phòng không, các sân bay quân sự, dân sự, các xí nghiệp, nhà máy, trạm điện, các trọng điểm giao thông quan trọng: bến cảng, nhà ga, cầu, phà.
Thủ đoạn hoạt động: tăng cường trinh sát trên không, mặt đất trước và trong quá trình tiến công hoả lực. Tích cực nghi binh, kết hợp với tác chiến điện tử mạnh để tạo bất ngờ về thời điểm, hướng, lực lượng, ý định  tiến công hoả lực. Đánh từ xa ngoài tầm hoả lực của ta; kết hợp nhiều loại phương tiện, đồng thời đánh phá vào nhiều mục tiêu cùng một lúc, đánh liên tục ngày, đêm. Thường mở đầu cuộc tiến công vào ngày nghỉ, giờ nghỉ, vào ban đêm; tăng cường đánh phá ở độ cao thấp và cực thấp. Cùng với tiến công hoả lực, địch sẽ tăng cường hoạt động ngoại giao nhằm lôi kéo tập hợp lực lượng đồng minh, lừa bịp nhân dân thế giới, vu cáo, cô lập nước ta.
b. Thực hành phòng tránh, đánh trả
Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tham gia đánh địch, lấy lực lượng phòng không ba thứ quân và lực lượng không quân làm nòng cốt, tích cực phòng tránh, đánh trả bảo vệ các khu vực mục tiêu và các lực lượng chiến đấu, nhanh chóng khắc phục hậu quả, khôi phục sức chiến đấu, sản xuất, cụng tỏc, cụ thể:
Về phòng tránh
Đối với cơ quan Đảng, Nhà nước các cấp: Tổ chức, điều hành thực hiện kế hoạch phòng tránh, đánh trả trên phạm vi cả nước, tổ chức sơ tán các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo, các cơ sở kinh tế theo kế hoạch của Trung ương và của các địa phương. Chỉ đạo các cấp củng cố hệ thống công trình phòng tránh, điều hành các lực lượng cứu hộ thực hiện nhiệm vụ khắc phục nhanh chóng hậu quả địch đánh phá. Duy trì chặt chẽ, liên tục sự lãnh đạo, chỉ đạo từ trên xuống dưới, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, duy trì ổn định đời sống, sinh hoạt cho lực lượng bám trụ vừa chiến đấu vừa làm việc, vừa sản xuất và cho nhân dân, lực lượng ở nơi phòng tránh sơ tán. Đẩy mạnh đấu tranh chính trị, ngoại giao, lên án cuộc chiến tranh phi nghĩa của địch, tranh thủ sự ủng hộ của thế giới.
Trong đó, các cơ quan, tổ chức Trung ương triển khai thực hiện kế hoạch phũng trỏnh, đánh trả đó được chuẩn bị, đồng thời vận dụng linh hoạt, sỏng tạo kế hoạch phự hợp với tỡnh hỡnh thực tế và yờu cầu, nhiệm vụ của trờn giao.Tổ chức cơ quan sơ tán khẩn trương, bí mật, trật tự, đầy đủ, an toàn đến đúng địa điểm, thời gian, đúng theo các quy định, ý định của cấp trên. Động viờn phát huy cao độ tinh thần tự chủ, chủ động, sỏng tạo khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, ỏc liệt để nhanh chúng hoàn thiện hệ thống cụng trỡnh phũng trỏnh của cơ quan, khắc phục hậu quả do địch đánh phá và giải quyết phự hợp cỏc tỡnh huống xảy ra trong quỏ trỡnh phũng trỏnh. Duy trỡ chặt chẽ, liờn tục sự lónh đạo, chỉ huy trong cơ quan và báo cáo tỡnh hỡnh lờn cấp trờn. Nhanh chúng ổn định, duy trỡ thực hiện cụng tỏc nghiệp vụ theo nhiệm vụ, chức năng và duy trỡ đời sống, sinh hoạt, cụng tỏc cho cỏn bộ, nhõn viờn tại nơi bám trụ chiến đấu và tại nơi phũng trỏnh, sơ tán.
Đối với lực lượng vũ trang: Tổ chức, điều hành hoạt động trinh sát, nắm địch, thông báo, báo động kịp thời, chính xác. Các lực lượng không tham gia đánh địch nhanh chóng chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng nhận nhiệm vụ, đồng thời tổ chức thực hiện phòng tránh không để địch đánh phá sát thương. Tổ chức nguỵ trang, nghi binh giữ bí mật để bảo toàn lực lượng.
Đối với nhân dân: Nhanh chóng chuyển mọi hoạt động sang thời chiến theo kế hoạch, tổ chức sơ tán nhân dân ra khỏi khu vực trọng điểm địch đánh phá. Duy trì hoạt động của hệ thống trinh sát, thông báo, báo động phòng không nhân dân để nhân dân phòng tránh, trú ẩn kịp thời; duy trì đời sống sinh hoạt, sản xuất của nhân dân đảm bảo vừa sản xuất vừa chiến đấu. Tổ chức điều hành, hoạt động thường xuyên của các lực lượng cứu hộ, khắc phục kịp thời hậu quả do địch đánh phá.
Về đánh trả
Đối với cơ quan Đảng và Nhà nước các cấp: thường xuyên nắm chắc tình hình, chỉ đạo các lực lượng đánh trả đạt hiệu quả cao, giữ vững thông tin liên lạc giữa cơ quan Đảng, Nhà nước với các cơ quan chỉ huy đánh địch. Tổ chức bảo đảm tốt cho tự vệ của các cơ quan bám trụ đánh địch tốt, tổ chức lực lượng tự vệ nơi sơ tán đánh địch khi cần thiết (khi nơi sơ tán bị lộ, địch tổ chức đánh phá). Trong đó, các cơ quan, tổ chức Trung ương triển khai thực hiện kế hoạch đánh trả đó được chuẩn bị trước đồng thời tổ chức thực hiện cỏc nhiệm vụ đánh trả của trờn giao, linh hoạt xử trớ phự hợp cỏc tỡnh huống ngoài dự kiến. Tổ chức lónh đạo, chỉ huy chặt chẽ, bảo đảm chu đáo, toàn diện, kịp thời cho lực lượng tự vệ của cơ quan làm nhiệm vụ bỏm trụ đánh địch. Đồng thời với việc tổ chức phũng trỏnh và thực hiện cụng tỏc chuyờn mụn tại nơi sơ tán phải nhanh chúng tổ chức để lực lượng tự vệ ở nơi sơ tỏn sẵn sàng đánh địch khi cần thiết. Lónh đạo của cơ quan thường xuyờn kiểm tra nắm chắc tỡnh hỡnh, chỉ đạo sõu sỏt, cụ thể, động viờn cỏc lực lượng làm nhiệm vụ đánh địch phát huy cao độ tinh thần dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, kiên cường bỏm trụ đánh trả địch đạt kết quả cao. Cỏc lực lượng tự vệ của cơ quan phải nắm chắc nhiệm vụ và kế hoạch chiến đấu, chấp hành nghiờm chỉ thị, chỉ đạo của cấp trờn, phỏt huy tớnh kỷ luật, tinh thần dũng cảm, kiên cường bỏm trụ, mưu trí, sáng  tạo trong chiến đấu, hiệp đồng chặt chẽ trong nội bộ và với cỏc lực lượng của cơ quan bạn, với cỏc lực lượng  khỏc trong khu vực, tớch cực chi viện, hỗ trợ lẫn nhau khi cần triết, chủ động khắc phục hậu quả chiến đấu, giữ vững liờn lạc, thường xuyờn bỏo cỏo kịp thời tỡnh hỡnh lờn cấp trờn.
Đối với lực lượng vũ trang: Tổ chức lực lượng phòng không thực hành đánh địch theo kế hoạch và linh hoạt đánh địch trong các tình huống ngoài kế hoạch dự kiến.
Lực lượng của Quân chủng Phòng không - Không quân: các sư đoàn phòng không sử dụng lực lượng theo tỷ lệ đã xác định tập trung bảo vệ các mục tiêu trọng yếu và thường xuyên sẵn sàng cơ động để xử trí các tình huống và phòng tránh địch đánh phá vào trận địa. Không quân tiêm kích sử dụng lực lượng theo quy định thực hành đánh chặn không quân địch, nhất là trên hướng chủ yếu. Không quân tiêm kích bom, khi có điều kiện, sử dụng một lực lượng hợp lý để đánh các mục tiêu mặt đất, mặt nước của địch có lựa chọn theo ý định, kế hoạch của trên. Có thể sử dụng một bộ phận không quân trực thăng tham gia trấn áp bạo loạn lật đổ (nếu có). Lực lượng phòng không của hải quân, quân khu, quân đoàn: triển khai bảo vệ các mục tiêu chủ yếu của hải quân, quân khu, quân đoàn và tham gia bảo vệ các mục tiêu trọng điểm trong địa bàn triển khai. Lực lượng phòng không của bộ đội địa phương, tỉnh, huyện, phòng không dân quân tự vệ triển khai 100% lực lượng đánh địch, tập trung bảo vệ các mục tiêu chủ yếu của từng tỉnh, huyện, từng cơ quan theo kế hoạch, tập trung đánh các mục tiêu ở độ cao thấp, cực thấp. Tổ chức lực lượng tập kích vào các căn cứ xuất phát, căn cứ chỉ huy tiến công hoả lực của địch có lựa chọn khi không có điều kiện đánh địch bằng lực lượng tên lửa mặt đất, pháo binh, tên lửa bờ của hải quân. Lực lượng tác chiến điện tử tổ chức hoạt động liên tục 24/24 giờ trong ngày, tham gia nguỵ trang, nghi binh chế áp thông tin liên lạc, thông tin chỉ huy, dẫn đường của địch để bảo vệ một số mục tiêu trọng yếu. Khi có điều kiện, thời cơ tổ chức các chiến dịch phòng không đánh địch bảo vệ các mục tiêu trọng yếu.
Tổ chức tốt các mặt bảo đảm cho lực lượng đánh địch, khôi phục, duy trì sức chiến đấu liên tục, dài ngày.
Đối với nhân dân: Tổ chức các lực lượng địa phương tham gia công tác bảo đảm, phục vụ chiến đấu như: làm đường, làm công sự, trận địa, nguỵ trang, nghi binh, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, tiếp tế vận tải đạn, khắc phục hậu quả do địch đánh phá trong từng địa phương và cho các lực lượng đánh địch trên địa bàn của địa phương.                                               
 
CÂU HỎI ÔN TẬP
 
1. Đặc điểm địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao? Mục đích nghiên cứu đặc điểm địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao?
2. Một số vấn đề chủ yếu về phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao?
3. Những nội dung chính trong tổ chức chuẩn bị phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao? Liên hệ với nhiệm vụ, chức trách?
         4. Những nội dung chủ yếu trong thực hành phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao ?                                                                          
 
Chuyên đề 9 (Bổ trợ)
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ  DÂN TỘC, TÔN GIÁO VÀ
ĐẤU TRANH CHỐNG ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
 
Biên soạn: Đại tá, TS Tạ Việt Hùng
I. DÂN TỘC VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở NƯỚC TA
1. Một số vấn đề cơ bản về dân tộc
a) Khái niệm dân tộc, quan hệ dân tộc, sắc tộc, vấn đề dân tộc
- Khái niệm dân tộc:
Hiện nay, thuật ngữ dân tộc thường được quan niệm với hai nghĩa chính: dân tộc theo nghĩa tộc người và dân tộc theo nghĩa quốc gia dân tộc.
Thứ nhất, dân tộc là một cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, có chung những đặc điểm về ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác dân tộc. Theo nghĩa này, dân tộc là chỉ các tộc người cụ thể như dân tộc Kinh, dân tộc Thái, dân tộc Tày, dân tộc Chăm... với các đặc trưng sau:
Các thành viên trong cùng một dân tộc đều có một ngôn ngữ chung (thường là tiếng mẹ đẻ) để giao tiếp nội bộ dân tộc và phân biệt với dân tộc khác. Đ ây là đặc trưng cơ bản đầu tiên để nhận biết, phân định dân tộc.
Các thành viên trong cùng một dân tộc đều có chung đặc điểm sinh hoạt văn hoá, tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc mình.
Các thành viên trong cùng một dân tộc đều có chung một ý thức tự giác dân tộc, đó là ý thức tự thừa nhận mình là thuộc một cộng đồng dân tộc, ý thức tự hào về dân tộc mình. Ý thức tự giác dân tộc là một trong ba đặc trưng, tiêu chí căn bản để xác định thành phần dân tộc trong một quốc gia, dân tộc.
Thứ hai, dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người cùng sinh sống trong một quốc gia, dân tộc. Theo nghĩa này, dân tộc là: cộng đồng người ổn định hình thành trong lịch sử tạo lập một quốc gia, trên cơ sở cộng đồng bền vững về lãnh thổ quốc gia, kinh tế, ngôn ngữ, truyền thống văn hoá, đặc điểm tâm lý, ý thức về dân tộc và tên gọi của dân tộc[32]. Ví dụ: dân tộc Trung Hoa, dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào... Các đặc trưng cơ bản để nhận biết dân tộc theo nghĩa này gồm: Có một lãnh thổ chung mà ở đó có một hay nhiều tộc người cùng sinh sống. Lãnh thổ là tiêu chí, đặc trưng cơ bản của quốc gia dân tộc; có một đời sống kinh tế chung, với một thị trường, một đồng tiền chung thống nhất; có một ngôn ngữ giao tiếp chung của cả quốc gia dân tộc - quốc ngữ (thường là ngôn ngữ của dân tộc đa số); có một nền văn hóa, bản sắc văn hóa của quốc gia dân tộc; có một thể chế chính trị với một nhà nước thống nhất để quản lý, điều hành mọi hoạt động của quốc gia dân tộc và quan hệ với các quốc gia dân tộc, vùng lãnh thổ  khác.
Trong các đặc trưng trên, đặc trưng chung cộng đồng kinh tế, chính trị - xã hội là đặc trưng quan trọng nhất; đặc trưng cùng chung một nền văn hoá, tâm lý là đặc trưng tạo nên bản sắc dân tộc. Theo nghĩa này, trong một quốc gia dân tộc có thể gồm một hay nhiều dân tộc khác nhau. Dân tộc nào có số dân đông được gọi là dân tộc đa số, còn các dân tộc có số dân ít hơn thì được gọi là dân tộc thiểu số.
Ngoài hai nghĩa trên, thuật ngữ dân tộc còn dùng để hàm chỉ các dân tộc thiểu số, thuật ngữ này được dùng trong chính sách dân tộc của Đ ảng, Nhà nước ta với nghĩa dân tộc là chỉ đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng dân tộc thiểu số. 
Như vậy, với nghĩa thứ nhất, dân tộc là một tộc người cụ thể trong quốc gia đa dân tộc; với nghĩa thứ hai, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó; với nghĩa thứ ba, dân tộc hàm chỉ các dân tộc thiểu số. Trong chuyên đề này, dân tộc chủ yếu được nghiên cứu theo nghĩa thứ nhất, có mở rộng ra nghĩa thứ hai, đôi khi có thể được hiểu với nghĩa thứ ba nhằm làm cho nội dung nghiên cứu được toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn.
Khái niệm quan hệ dân tộc, sắc tộc, vấn đề dân tộc
Quan hệ dân tộc là sự gắn bó, tác động qua lại lẫn nhau giữa các tộc người trong một quốc gia dân tộc và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trong quan hệ quốc tế, diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội như quan hệ về lãnh thổ, chính trị, kinh tế, văn hoá, quân sự và ngoại giao.
Quan hệ sắc tộc là quan hệ giữa các nhóm người, tộc người có sự khác biệt nào đó về nhân chủng, văn hoá, tôn giáo, ngôn ngữ... thường hàm ý miệt thị, theo quan điểm kỳ thị về nhân chủng, văn hoá, tôn giáo, ngôn ngữ... Quan hệ sắc tộc là một dạng tiêu cực của quan hệ dân tộc. Ở Việt Nam hiện nay không có quan hệ sắc tộc, nên khi nói đến quan hệ dân tộc ở Việt Nam không nên sử dụng thuật ngữ sắc tộc, quan hệ sắc tộc
Vấn đề dân tộc là những vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa các tộc người trong nội bộ quốc gia đa dân tộc và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trên các lĩnh vực đời sống xã hội tác động xấu đến mỗi dân tộc và quan hệ dân tộc đòi hỏi các nhà nước phải giải quyết.
Thực chất của vấn đề dân tộc là mâu thuẫn, xung đột lợi ích giữa các tộc người, các quốc gia dân tộc, nhất là về các quyền cơ bản của các dân tộc như: độc lập, chủ quyền, bình đẳng, tôn trọng lợi ích và bản sắc dân tộc của nhau... Do vậy, khi nói đến giải quyết vấn đề dân tộc chính là việc giải quyết những vấn đề trên.
Quan hệ dân tộc, sắc tộc, vấn đề dân tộc rất nhạy cảm, phức tạp, tồn tại lâu dài. Các quan hệ đó động chạm tới tâm lý, ý thức, lợi ích, bản sắc văn hoá của các tộc người. Mặt khác, nó gắn chặt với vấn đề giai cấp, tôn giáo, quốc gia, quốc tế, hiện tại và lịch sử. Do vậy, vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc, sắc tộc là những vấn đề phức tạp, nếu không giải quyết tốt sẽ dễ dẫn đến gây mất ổn định chính trị - xã hội của mọi quốc gia dân tộc.
b) Một số đặc điểm của các dân tộc ở nước ta hiện nay
Thứ nhất, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, quy mô dân số không đều nhau
Theo số liệu tổng điều tra dân số, tính đến 0 giờ ngày 1 tháng 4 tháng 2009, dân số của Việt Nam là 85.789.573 người, tăng 9, 47 triệu người so với năm 1999. Dân số Việt Nam gồm 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (chiếm gần 13,8% dân số cả nước, với khoảng 11 triệu dân). Dân tộc đông nhất là dân tộc Kinh (Việt), chiếm 86,2% dân số. Các dân tộc thiểu số cư trú chủ yếu ở khu vực miền núi, nơi chiếm tới 3/4 diện tích đất liền. Đ ây là địa bàn có tầm quan trọng chiến lược cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng. Từ nhiều đời nay, khu vực này là tấm lá chắn để bảo vệ Tổ quốc, là căn cứ địa cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Dân số của các dân tộc thiểu số ở nước ta không đồng đều. Các dân tộc thiểu số đông dân nhất: Tày, Thỏi, Mường, Khmer (trên một triệu người), tiếp theo là dân tộc Nựng, Hmông, người Dao, Giarai, Êđê,HTTP://VI.WIKIPEDIA.ORG/WIKI/NG%C6%B0%E1%BB%9DI_CH%C4%83M Chăm, Sán Dìu và cuối cùng là các dân tộc Brâu, Ơ đu, Rơ Măm chỉ có trên 300 người.
Những năm gần đây, nhờ có chính sách khắc phục tình trạng suy giảm dân số đối với một số dân tộc có số dân quá ít, nên dân số của các dân tộc này đã tăng lên. Tuy số dân có sự chênh lệch đáng kể, nhưng các dân tộc luôn luôn coi nhau như anh em một nhà, quý trọng thương yêu đùm bọc lẫn nhau.
Thứ hai, các dân tộc không có lãnh thổ riêng, cư trú phân tán và xen kẽ lẫn nhau
Về phân bố lãnh thổ, người Kinh sống trên khắp các vùng lãnh thổ nhưng chủ yếu ở vùng đồng bằng, gần các con sông và các đô thị. Hầu hết các nhóm dân tộc thiểu số (trừ người Hoa, người Khmer, người Chăm) sống tại các vùng trung du và miền núi. Người Mường sống chủ yếu trên các vùng đồi núi phía Tây đồng bằng sông Hồng, tập trung ở Hòa Bình và Thanh Hóa. Người Thái định cư ở bờ phải sông Hồng (Sơn La, Lai Châu). Người Tày sống ở bờ trái sông Hồng (Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên), người Nùng sống ở Lạng Sơn, Cao Bằng. Các nhóm dân tộc thiểu số khác không có các lãnh thổ riêng biệt; nhiều nhóm sống hòa trộn với nhau. Một số nhóm dân tộc này đã di cư tới miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam trong các thời gian khác nhau: người Thái đến Việt Nam trong khoảng từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 13; người Hà Nhì, Lô Lô đến vào thế kỷ X; người Dao vào thế kỷ XI; các dân tộc Hmông, Cao Lan, Sán Chỉ, Giáy di cư đến Việt Nam từ khoảng 300 năm trước. Các nhóm dân tộc thiểu số ở trung du và miền núi phía Nam chủ yếu là các dân tộc bản địa và thường sống tại các lãnh thổ riêng. Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer gồm có Ba Na, Bru và Vân Kiều, sống ở Bắc Trường Sơn. Người Mnông, Xtiêng và Mạ sống ở đầu phía Nam của dãy Trường Sơn. Các dân tộc thuộc nhóm Nam Đảo gồm Êđê, Chăm và Gia rai đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ 2 trước Công nguyên. Trong các dân tộc này, người Chăm sinh sống ở đồng bằng ven biển miền Trung, các dân tộc khác sống rải rác dọc theo dãy Trường Sơn. Người Chăm cùng với người Kinh là những dân tộc có nền văn hóa phát triển nhất với nhiều công trình nghệ thuật, chùa, đình, đền, tháp...
Cư trú phân tán và xen kẽ lẫn nhau là đặc trưng nổi bật của các dân tộc ở Việt Nam, đặc trưng này biểu hiện ở tất cả các cấp độ: từ cấp toàn quốc đến cấp tỉnh, huyện, xã. Ví dụ, người Dao phân bố ở các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Kạn và nay ở Tây Nguyên cũng có người Dao. Chỉ trong một xã có thể có tới hàng chục các dân tộc khác nhau, hiếm có một dân tộc nào chỉ tập trung cư trú ở một nơi duy nhất.
Thứ ba, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc không đồng đều.
Các dân tộc ở nước ta có trình độ phát triển kinh tế không đồng đều. Có những dân tộc đã vươn tới trình độ chung của cả nước, nhưng cũng có dân tộc còn ở trình độ phát triển rất thấp so với cộng đồng. Trước Cách mạng Tháng Tám, có dân tộc chủ yếu hoạt động kinh tế theo phương thức chiếm đoạt (săn bắn, hái lượm, đánh cá) như La Hủ, Chút, nhưng cũng có nhiều dân tộc đã tiến sang hoạt động kinh tế sản xuất, lấy trồng trọt làm loại hình kinh doanh chính như Tày, Nùng, Thái.
Về chế độ xã hội, cho đến thế kỷ XX vẫn còn một bộ phận các dân tộc thiểu số đang ở giai đoạn tan rã của xã hội nguyên thủy. Một số dân tộc vẫn còn đậm những tàn dư của chế độ mẫu hệ trong khi phần lớn các dân tộc đã chuyển sang chế độ xã hội phụ quyền.
Trên phương diện văn hóa, các dân tộc thiểu số nước ta đều có những tinh hoa văn hóa quý báu, thể hiện trong kho tàng văn học dân gian, trong y phục, trang sức và hoa văn, trong luật tục, kiến trúc, nhà cửa, phong cách ứng xử... Những tinh hoa văn hóa đó tạo nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc và làm cho văn hóa Việt Nam đa dạng, phong phú.
Tuy nhiên, hầu hết các dân tộc thiểu số đều có mức sống thấp, bệnh tật hoành hành, mê tín dị đoan nặng nề; dân trí thấp. Hiện vẫn có hàng triệu đồng bào thực hành lối sống du canh, du cư, cuộc sống không ổn định; khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền ngược, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa vẫn còn khá lớn, thậm chí còn có xu hướng gia tăng. Đó là một trong những thách thức đặt ra trong công cuộc đổi mới phát triển đất nước ta hiện nay.
2. Chính sách dân tộc và thực trạng giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
a) Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
Trong suốt các thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương, chính sách đúng đắn về vấn đề dân tộc, do đó đã tập hợp, đoàn kết được các dân tộc, đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, ý thức rõ tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình phát triển trong giai đoạn mới. Nghị quyết số 22/NQ-TW của Bộ Chính trị ra ngày 27 tháng 11 năm 1989 và Quyết định số 72/HĐBT (nay là Chính phủ) về phát triển kinh tế - xã hội miền núi được coi là bước đột phá trong vấn đề chính sách đối với vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.
Tiếp theo đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khóa IX đã đề cập toàn diện vấn đề dân tộc và công tác dân tộc với những nội dung cơ bản, bao trùm của chính sách dân tộc là bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển; xác định những mục tiêu cụ thể, những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách, đồng thời, đưa ra những giải pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương chính sách dân tộc của Đảng trong tình hình mới.
Văn kiện Nghị quyết đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc.[33] Quan điểm trên của Đảng xác định phương hướng, mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số là:
- Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng nước ta.
- Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển.
- Phát triển toàn diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tốt chính sách dân tộc, trước hết tập trung vào phát triển giao thông, cơ sở hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo...
- Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số.
- Công tác dân vận và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị.
- Nghiêm cấm lợi dụng vấn đề dân tộc để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Đảng, Nhà nước, kích động, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
b) Thực trạng giải quyết vấn đề dân tộc thời gian qua
- Thành tựu:
Trải qua 25 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và triển khai thực hiện nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội đối với các vùng dân tộc và đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trực tiếp góp phần tạo nên những thay đổi tích cực trên các mặt chính trị, kinh tế, xã hội vùng dân tộc miền núi.
+ Kinh tế các vùng dân tộc có bước phát triển rõ rệt, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào ngày càng được cải thiện.
Về phát triển kinh tế, những năm qua các tỉnh vùng dân tộc miền núi đều đạt mức tăng trưởng khá, hầu hết các chỉ tiêu đều đạt và vượt kế hoạch. Tốc độ tăng trưởng GDP liên tục tăng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng sản xuất nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng sản xuất công nghiệp và dịch vụ tăng, sản xuất hàng hoá phát triển. Thông qua các chương trình dự án phát triển kinh tế xã hội nhất là Chương trình xoá đói giảm nghèo, Chương trình 135... cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho phát triển sản xuất và dân sinh được cải thiện. Đến nay đã có 92% số xã đặc biệt khó khăn có đường ôtô đến trung tâm xã, 98% số xã có trường tiểu học, 75% số xã có trường trung học cơ sở, 83% số xã có điện, 62% số xã có trạm truyền thanh, gần 50% số xã có chợ. Đời sống vật chất, tinh thần của đa số đồng bào các dân tộc đã được cải thiện. Diện mạo vùng dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa được thay đổi rõ rệt.
+ Hệ thống chính trị được quan tâm xây dựng, chính trị - xã hội ổn định.
Hệ thống chính trị cơ sở được củng cố. Đội ngũ cán bộ cơ sở người dân tộc thiểu số tại chỗ tăng cả về số lượng và chất lượng. Đến nay tất cả các xã vùng dân tộc đều có tổ chức cơ sở Đảng, giảm dần các thôn bản không có đảng viên. Tỷ lệ đảng viên trong đội ngũ cán bộ dân tộc ngày càng tăng, hiện chiếm 66,7%.
+ Đời sống văn hóa, xã hội đồng bào các vùng dân tộc được phát triển.
Các chính sách phát triển giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá xã hội được triển khai thực hiện có hiệu quả, mặt bằng giáo dục được nâng lên, các nội dung giáo dục đặc thù như dạy chữ dân tộc, giáo dục truyền thống văn hoá dân tộc được coi trọng. Kết quả xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học được giữ vững, nhiều địa phương đang thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở, trong đó một số tỉnh như: Tuyên Quang, Hà Tĩnh, Hà Tây đã hoàn thành. Số lượng học sinh là con em đồng bào các dân tộc vào các trường cao đẳng, đại học ngày càng tăng, dần đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo cán bộ phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc.
Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ, chính sách ưu tiên khám chữa bệnh cho đồng bào các dân tộc được quan tâm. Hệ thống y tế cơ sở xã, thôn, bản được quan tâm củng cố; cơ sở vật chất và trang thiết bị được đầu tư nâng cấp; đội ngũ cán bộ y tế người dân tộc được bổ sung đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá đã được triển khai rộng khắp, có ảnh hưởng tích cực đến đời sống của đồng bào các dân tộc. Các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình, thông tin báo chí được tăng cường. Nhiều địa phương chú trọng tổ chức các hoạt động văn hoá truyền thống, giao lưu văn hoá các dân tộc, giữa các vùng miền. Việc thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội đã góp phần nâng cao dân trí, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào các dân tộc tiếp cận với các dịch vụ xã hội, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống của các dân tộc. Những vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng dân tộc nhất là các địa bàn trọng điểm được coi trọng và chủ động giải quyết.
- Hạn chế: Bên cạnh những kết quả đã đạt được, vùng các dân tộc miền núi nước ta đang đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức và nảy sinh nhiều vấn đề mới, phức tạp.
+ Trước hết, việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc còn chưa thật hiệu quả.
Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhất là do thiếu vốn, thiếu kiến thức và kinh nghiệm làm ăn, kết cấu hạ tầng lại yếu kém nên nền kinh tế của đồng bào các dân tộc vẫn còn mang nặng tính tự cấp, tự túc. Sản xuất nông nghiệp cơ bản vẫn theo phương thức cổ truyền, trong đó trồng trọt và chăn nuôi chiếm trên 80% giá trị tổng thu nhập của người dân. Các ngành nghề thủ công kém phát triển. Tỷ suất giá trị của các sản phẩm hàng hóa rất thấp, khả năng cạnh tranh của hàng hóa yếu. Điều này dẫn tới một hệ quả là khoảng cách chênh lệch về mức thu nhập giữa các hộ giàu và hộ nghèo, giữa miền xuôi với miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số tăng nhanh. Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở một số vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ, vùng đồng bào dân tộc còn quá khó khăn. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng cao, vùng đồng bào các dân tộc những năm qua còn rất chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp, nông thôn và miền núi. Tiềm năng phát triển kinh tế hàng hóa ở miền núi còn rất lớn, nhưng chưa được khai thác.
Về xây dựng kết cấu hạ tầng, mặc dù đạt được những thành tựu rõ rệt, nhưng kết cấu hạ tầng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp rất nhiều khó khăn, kết cấu công trình kém bền vững. Ở một số nơi, do việc quản lý, xây dựng chưa chặt chẽ dẫn đến tiêu cực, làm thất thoát tiền của Nhà nước.
Nhìn chung, cho đến nay, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn là những vùng kinh tế chậm phát triển, đời sống gặp rất nhiều khó khăn. Đ ây vẫn đang là vùng khó khăn nhất của cả nước với hơn 2000 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135. Tỷ lệ hộ đói nghèo vẫn ở mức khá cao. Ở nhiều huyện, xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng miền núi phía Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm tới 60 - 70%, trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc. Thực tế đó khiến niềm tin của người dân đối với Đảng và Nhà nước bị suy giảm. Nếu như thực trạng trên không được khắc phục một cách kịp thời thì đây chính là một nguyên nhân có thể gây mất ổn định xã hội và dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá.
+ Thứ hai, đời sống văn hóa tinh thần ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhìn chung còn thấp.
Việc bảo tồn giá trị văn hóa các dân tộc chưa thật sự được chú trọng. Vấn đề cái ăn, cái mặc, cái đói, cái nghèo... đang là vấn đề quan trọng được sự ưu tiên hơn những vấn đề thuộc đời sống văn hóa tinh thần. Chính vì thế, việc đầu  tư cho đời sống văn hóa tinh thần, văn hóa thông tin vùng đồng bào dân tộc thường chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng vốn đầu tư.
Việc nhận thức về bản sắc văn hóa các dân tộc nhiều khi còn mơ hồ, trừu tượng, cái nào là tốt đẹp, là tinh hoa văn hóa của các dân tộc cần được bảo tồn và phát triển, cái nào là lạc hậu, lỗi thời, không phù hợp với cuộc sống mới phải hạn chế hay xóa bỏ cũng còn chưa cụ thể. Trong phần lớn các trường hợp mới chỉ dừng lại ở phương châm, nguyên tắc, chứ chưa có sự đi sâu, nghiên cứu, tìm hiểu và chỉ đạo cụ thể ở từng dân tộc.
Kho tàng truyện cổ, ca dao, dân ca của các dân tộc cũng có chiều hướng bị mai một. Hiện nay có 26/53 dân tộc ít người có chữ viết, còn hầu hết các dân tộc đang ở giai đoạn văn minh tiền chữ viết. Mọi tri thức cuộc sống, kinh nghiệm sản xuất, ngôn ngữ, nghệ thuật chủ yếu tồn tại dưới dạng truyền miệng.
Bên cạnh đó, việc dạy chữ dân tộc cho đồng bào chưa được đầu tư đúng mức. Đến nay, trên lãnh thổ Việt Nam mới chỉ có một số xã, huyện ở 13 tỉnh có chương trình này. Tình trạng mù chữ, tái mù chữ trong con em đồng bào dân tộc khá phổ biến. Nhiều xã ở khu vực miền núi vẫn chưa có trường trung học cơ sở, điển hình như ở Kon Tum, Sơn La. Ở một số vùng cao, tỷ lệ trẻ đến lớp còn rất thấp như ở huyện Trạm Tấu (Yên Bái), huyện Tuần Giáo (Lai Châu)... Công tác xóa mù chữ thường chỉ được tiến hành theo chiến dịch, mùa vụ, vì thế người dân dễ trở lại tái mù. Chất lượng dạy và học nhìn chung còn thấp. Bên cạnh đó, một số hủ tục lạc hậu như ma chay, cưới xin chưa được xóa bỏ. Tổ chức các hoạt động văn hóa thông tin còn thiên về hình thức bề nổi, chưa phù hợp với điều kiện miền núi.
Các làng bản vùng sâu, vùng xa bị đói thông tin. Nhiều vùng đồng bào dân tộc không nghe được Đài Tiếng nói Việt Nam do nằm ngoài vùng phủ sóng. Có nơi Đài đã phủ sóng nhưng chỉ có một số ít đồng bào có thể nghe được vì không biết tiếng phổ thông. Trong khi đó, Đài của một số nước láng giềng lại phát bằng các ngôn ngữ dân tộc nên chuyện nghe đài của họ là một hiện tượng rất phổ biến đối với đồng bào ở những khu vực này.
+ Thứ ba, một số vấn đề bức xúc liên quan đến quan hệ dân tộc vẫn chưa được giải quyết kịp thời.
Trong đó đáng lưu ý là hiện tượng dân số gia tăng đột ngột ở một số địa bàn cư trú truyền thống của đồng bào các dân tộc. Tại địa bàn Tây Nguyên vào thời điểm năm 1945 cư dân bản địa tại đây chiếm khoảng 95% dân số, 30 năm sau, con số này chỉ còn hơn 50%. Sau năm 1975 tới nay, ở Tây Nguyên tỷ lệ dân số các dân tộc bản địa bị thu hẹp đến mức còn trên 20%.
Sự gia tăng cơ học về dân số cùng với sự di dân ồ ạt, sự tàn phá môi trường sống đã có những tác động tiêu cực về kinh tế - xã hội ở khu vực Tây Nguyên và làm cho các quan hệ dân tộc ở khu vực này thêm phức tạp, nhất là quan hệ giữa người dân tộc bản địa với các dân tộc khác trên địa bàn. Thêm vào đó, nạn tham nhũng, tệ nạn xã hội và các vấn đề khác đã tác động xấu đến suy nghĩ, tâm lý của đồng bào dân tộc.
Trong công tác định canh, định cư mà chúng ta thực hiện trong thời gian qua, các dự án thường chỉ nặng về đầu tư cơ sở vật chất, ít chú ý đến các yếu tố văn hóa, xã hội, tâm lý để tổ chức sản xuất và đời sống đồng bào. Tình trạng du canh, du cư vẫn còn diễn biến hết sức phức tạp. Theo báo cáo gần đây của Ủy ban Dân tộc và Miền núi, ở nước ta vẫn còn khoảng 250.000 hộ, với 1,5 triệu nhân khẩu ở địa bàn 800 xã chưa thực hiện được định canh, định cư.
+ Thứ tư, hệ thống chính trị cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tuy được củng cố một bước, nhưng ở nhiều nơi, nhất là vùng sâu, vùng xa vẫn còn rất yếu.
Vai trò của dòng họ và những già làng, trưởng bản tuy đã đang được đề cao, nhưng vì chưa có sự lãnh đạo, hướng dẫn kịp thời nên tại một số nơi, có người đã bị các phần tử xấu lôi kéo, lợi dụng vào mục đích tập hợp quần chúng, gây áp lực đối với chính quyền cơ sở.
Công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ dân tộc, đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc là người dân tộc thiểu số ở nước ta còn thiếu và yếu. Trong khi đó, một bộ phận cán bộ là người dân tộc vẫn còn có những biểu hiện tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tự ti, trông chờ, ỷ lại vào cấp trên. Nạn tham những của một bộ phận cán bộ quản lý, điều hành, chỉ đạo các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi và vùng đồng bào các dân tộc diễn ra khá phổ biến làm uy tín của đội ngũ cán bộ bị giảm sút nghiêm trọng. Trong khi đó các thế lực thù địch trong nước và quốc tế đang tìm mọi cách lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ giữa các dân tộc và làm mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng dân tộc với những âm mưu thủ đoạn hết sức thâm độc và xảo quyệt.
II. TÔN GIÁO VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO
1. Một số vấn đề cơ bản về tôn giáo
a) Khái niệm, nguồn gốc, bản chất, vai trò của tôn giáo
- Khái niệm tôn giáo
Trong đời sống hiện thực, khi nói về hiện tượng tôn giáo, thường xuất hiện ba thuật ngữ có quan hệ với nhau: tôn giáo, tín ngưỡng, mê tín dị đoan.
+ Tôn giáo là hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, bao gồm ý thức tôn giáo, hoạt động tôn giáo và tổ chức tôn giáo, mà sự tồn tại và phát triển của nó là do sự phản ánh hư ảo hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người.
Về mặt quản lý nhà nước, để thừa nhận là một tổ chức tôn giáo phải có đầy đủ các yếu tố sau: có người sáng lập, có giáo thuyết, giáo lý, giáo luật; có tổ chức giáo hội, có người hoạt động nghề nghiệp; có tín đồ, lễ hội và có cơ sở vật chất thờ tự.
+ Tín ngưỡng là lòng tin và sự ngưỡng mộ của con người vào lực lượng siêu nhiên có vai trò toàn năng đối với con người. Tín ngưỡng là cơ sở nảy sinh các hình thức thờ cúng tổ tiên, thành hoàng và các hình thức tôn giáo khác.
+ Mê tín dị đoan là lòng tin một cách mù quáng, mê muội vào lực lượng thần thánh, ma quỷ, không có sự kiểm soát của lý trí và thường có những hành vi trái với chuẩn mực xã hội, làm tổn hại về kinh tế, tinh thần và thể lực của con người, như các hiện tượng: đồng bóng, gọi hồn, tướng số...
Tôn giáo, tín ngưỡng, mê tín dị đoan về cơ bản đều tin vào lực lượng siêu nhiên, thần bí có sức mạnh toàn năng đang chi phối đời sống con người, song giữa chúng cũng có sự khác nhau. Tín ngưỡng, theo nghĩa hẹp là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, là một bộ phận của tôn giáo, mê tín dị đoan. Tín ngưỡng được coi là một tôn giáo khi nó có đủ các yếu tố của một tôn giáo. Tín ngưỡng, tôn giáo sẽ trở thành mê tín dị đoan khi lòng tin bị mê muội và có những hành vi cuồng tín, cực đoan, phản văn hoá gây hậu quả tiêu cực về tinh thần, thể xác, kinh tế của cá nhân và xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm.
- Nguồn gốc tôn giáo
+  Nguồn gốc xã hội: Do trình độ sản xuất thấp kém, con người bị lệ thuộc và bất lực trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội, sự áp bức, bóc lột, sự tàn sát của chiến tranh... làm cho họ tìm đến với thần thánh và hy vọng được che chở, cứu vớt, giải thoát ở thế giới thiên đường.
+ Nguồn gốc nhận thức: Do trình độ nhận thức của con người còn thấp, không lý giải được các hiện tượng đầy bí ẩn của thế giới, từ đó họ tưởng tượng và gán cho nó sức mạnh siêu tự nhiên, tạo ra các vị thần chi phối thế giới xung quanh.
+ Nguồn gốc tâm lý: Những trạng thái tâm lý tiêu cực như sự sợ hãi, cô đơn, bất hạnh, đau khổ, kinh hoàng, chán nản, nhất là sợ hãi trước cái chết; lòng biết ơn, sự kính trọng, sự hài lòng và sự ngưỡng mộ về vấn đề nào đó cũng là một trong những nguồn gốc nảy sinh tôn giáo.
Những nguồn gốc trên là tiền đề khách quan, cần thiết cho sự xuất hiện, tồn tại, phát triển của tôn giáo. Song tôn giáo ra đời, mở rộng ảnh hưởng còn phụ thuộc vào sự tuyên truyền, vận động của các giáo hội thậm chí cả cuộc đấu tranh giữa các tôn giáo, giữa các lực lượng xã hội trong phạm vi quốc gia và quốc tế.
Sự ra đời của tôn giáo gắn liền với những nguồn gốc khách quan, song là một hình thái ý thức xã hội nên tôn giáo sẽ còn tồn tại lâu dài ngay cả khi cái mà nó phản ánh không còn hoặc đã có biến đổi khác trước.
- Tính chất của tôn giáo
+- Tính lịch sử: Tôn giáo là một phạm trù lịch sử, ra đời, tồn tại, biến đổi trong những điều kiện hoàn cảnh lịch sử nhất định của nhân loại và của từng dân tộc.
+ Tính quần chúng: Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân, phản ánh khát vọng về một xã hội tự do, bình đẳng và bác ái của quần chúng, nên được đông đảo quần chúng tin theo.
+ Tính chính trị: Trong xã hội có đối kháng giai cấp, tôn giáo có tính chính trị. Đó là việc giai cấp thống trị sử dụng tôn giáo làm công cụ nô dịch quần chúng, củng cố, bảo vệ địa vị chính trị, trật tự xã hội của giai cấp mình.
- Bản chất tôn giáo 
Theo quan điểm Mác - Lênin, bản chất của tôn giáo là niềm tin hư ảo của con người vào sức mạnh siêu nhiên, vào cuộc sống hạnh phúc ở thế giới thiên đường. Tôn giáo là hạnh phúc hư ảo của nhân dân. Tuy nhiên, trong tôn giáo cũng có những giá trị văn hoá đạo đức nhất định, phù hợp với tâm lý, nguyện vọng của quần chúng và xã hội. Do vậy, cần biết kế thừa, phát huy những giá trị đó.
- Chức năng xã hội  của tôn giáo
+ Chức năng đền bù hư ảo: Đây là chức năng xã hội chủ yếu của tôn giáo. Nó như một liều thuốc an thần có khả năng an ủi làm dịu nỗi đau con người bằng cách tạo nên sự hài lòng, tin tưởng vào các lực lượng siêu nhiên và cuộc sống hạnh phúc ở thế giới thiên đường...
+ Chức năng thế giới quan: Tôn giáo tạo cho con người một quan niệm về thế giới, về con người nhưng thế giới quan tôn giáo là thế giới quan duy tâm nên nó cản trở vai trò sáng tạo của con người và biến con người cam chịu số phận, phó mặc vào thần thánh.
+ Chức năng điều chỉnh: Tôn giáo nào cũng có hệ thống giá trị, chuẩn mực đạo đức tôn giáo nhằm điều chỉnh mọi suy nghĩ, hành vi ứng xử của người với bản thân, với người khác, với xã hội và với giới tự nhiên phù hợp với đức tin. Chức năng điều chỉnh của tôn giáo được thực hiện vừa tự giác, vừa bắt buộc, tuân theo nội dung ở giáo lý, giáo luật, nghi lễ hành đạo. 
- Vai trò xã hội của tôn giáo
+ Vai trò tiêu cực
Tôn giáo là hạnh phúc hư ảo của nhân dân. Do đó, tôn giáo thường hạn chế phát triển tư duy duy vật, khoa học, làm cho con người có thái độ nhẫn nhục, khuất phục, không tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc tạo dựng hạnh phúc thật sự nơi trần gian, mà lại hi vọng hạnh phúc ở cuộc sống sau khi chết. Nhiều khi tôn giáo làm cho con người ta có thái độ mù quáng và hành vi cuồng tín.
Trong xã hội có giai cấp, tôn giáo thường bị giai cấp thống trị lợi dụng để thực hiện ý đồ chính trị. Tôn giáo cũng còn bị một số người lợi dụng cầu lợi, họ biến các không gian, tôn giáo linh thiêng thành nơi có thể buôn thần bán thánh.
+ Vai trò tích cực
Tôn giáo cũng có những mặt tích cực nhất định, thể hiện ở chỗ: tôn giáo đề cao tính nhân văn, khuyến thiện, trừ ác phù hợp với đạo đức xã hội, và trở thành giá trị văn hoá tinh thần của nhân loại. Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Đảng ta nhận định đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới.
Tôn giáo cũng được coi là một thành tố của văn hoá. Các nền văn minh lớn trên thế giới đều mang dấu ấn của tôn giáo. Nhiều khi người ta lấy tên của một tôn giáo để chỉ đặc điểm, sắc thái của một nền văn hoá. Thí dụ, Văn hoá Cơ đốc giáo, văn hoá Hồi giáo, văn hoá Phật giáo.
b) Tình hình các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Mỗi dân tộc, kể cả người Kinh (Việt) đều lưu giữ những hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng của mình. Người Việt có các hình thức tín ngưỡng dân gian như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc, thờ thần, thờ thánh, nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng bào các dân tộc thiểu số với hình thức tín ngưỡng nguyên thuỷ như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo.
Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như Phật giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin lành; có tôn giáo được sinh ra tại Việt Nam như Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai. Có những tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có những tôn giáo chưa ổn định, đang trong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp.
Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có khoảng gần 23 triệu tín đồ của 6 tôn giáo đang hoạt động bình thường, ổn định, chiếm 25% dân số. Cụ thể:
- Phật giáo: Phát tích từ Ấn Độ, đã có lịch sử 2.500 năm. Đến nay Phật giáo Việt Nam về cơ bản có sự thống nhất cao độ, gắn bó chặt chẽ, đoàn kết và có nhiều công lao đối với dân tộc. Hiện ở nước ta có khoảng hơn 10 triệu tín đồ (những người quy y Tam Bảo), có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó tập trung đông nhất ở Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hoà, thành phố Hồ Chí Minh Phật giáo hoạt động dưới sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
- Đạo Công giáo (Thiên chúa giáo) là một tôn giáo thế giới có hệ thống tổ chức thống nhất, chặt chẽ, đứng đầu là Giáo hoàng với bộ máy Vaticăng hoạt động theo kiểu nhà nước. Đạo Công giáo ở nước ta có khoảng gần 6 triệu tín đồ, có mặt ở 50 tỉnh, thành phố, trong đó có một số tỉnh tập trung đông như Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Kon Tum, Đắk Lắk, Khánh Hoà, Bình Thuận, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ... về cơ bản, trong gần 500 năm qua, quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc và chính thể Việt Nam qua các giai đoạn diễn biến rất phức tạp, gây cấn, thuận ít, nghịch nhiều. Ngày nay, những vấn đề này đã có điều kiện có thể giải quyết được để mở ra một thời kỳ mới tươi sáng, hòa hợp hơn giữa Công giáo với dân tộc và chính thể Việt Nam hiện đại.
- Đạo Tin Lành là một biến thể của Kitô giáo, có nhiều điểm về nguồn gốc và giáo lý giống Công giáo, nhưng khác và tiện lợi hơn Công giáo ở chỗ, giáo dân có thể qua kinh sách và cầu nguyện mà thực hiện kêu cầu trực tiếp với Thiên Chúa Hơn nữa, quá trình truyền đạo và tổ chức giáo hội ít phức tạp, ít cầu kỳ, giáo luật tương đối đơn giản, cởi mở cho nên dễ truyền, dễ theo. Trước năm 1975, ở miền Bắc, tín đồ đạo Tin Lành mới có khoảng 10 nghìn  người, ở miền Nam khoảng 30 nghìn người, với một số nhà thờ nhỏ và một số mục sư ở rải rác các đô thị lớn. Chỉ trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây, đạo Tin Lành ở Việt Nam bùng nổ, phát triển. Hiện nay có khoảng hơn 1 triệu tín đồ, tập trung ở các tỉnh: Đà Nẵng, Quảng Nam, thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre, Long An, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk Nông, Bình Phước... và một số tỉnh miền núi phía Bắc.
- Đạo Cao Đài và đạo Hòa Hảo. Hiện nay, số lượng tín đồ của 2 đạo này khoảng gần 3 triệu người phân bố chủ yếu ở Tây Nam và Nam Nam bộ. Trong đó Đ ạo Cao Đài: hơn 2, 4 triệu tín đồ có mặt chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ như Tây Ninh, Long An, Bến Tre, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cà Mau, An Giang; Đạo Hoà Hảo: gần 1,3 triệu tín đ ồ, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ như: An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long.
Hệ thống giáo lý và chức sắc của hai đạo này về trình độ thì đơn giản nhưng được xây dựng, tổ chức tương đối phức tạp, hỗn độn, chiết trung. Do vậy hai đạo này khó thu hút được những tín đồ có trình độ học vấn cao và khó có thể cạnh tranh được với Phật giáo, Công giáo, Tin Lành.
Trong lịch sử, thái độ chính trị của hai đạo này rất phức tạp, đã có lúc trong nội bộ chức sắc có sự chia rẽ. Trong đó, một bộ phận bị địch lợi dụng. Thời gian gần đây đã xuất hiện một số điểm nóng có tính chất tôn giáo - chính trị trong khu vực ảnh hưởng của hai đạo này.
- Hồi Giáo: phát triển trong Cộng đồng người Chăm khoảng hơn 100 nghìn tín đồ, tập trung ở các tỉnh: An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Ninh Thuận... trong Hồi Giáo có Hồi giáo chính thống (gọi là Chăm Ixlam), có Hồi giáo không chính thống (gọi là Chăm Bàni) và đạo Bàlamôn (hay còn gọi Bà Chăm). Hồi giáo chính thức truyền vào dân tộc Chăm từ thế kỷ XVI. Cùng với thời gian, Hồi giáo đã góp phần quan trọng trong việc hình thành tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, văn hóa của người Chăm.
Ngoài 6 tôn giáo chính thức đang hoạt động bình thường, còn có một số nhóm tôn giáo địa phương, hoặc mới được thành lập có liên quan đến Phật giáo, hoặc mới du nhập ở bên ngoài vào như: Tịnh Độ Cư Sỹ, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tổ Tiên Chính giáo, Bàlamôn, Bahai và các hệ phái tin lành.
Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, trong đó chủ yếu là nông dân. Ước tính, số tín đồ là nông dân của Phật giáo, Thiên chúa giáo chiếm đến 80 -85%; của Cao Đài, Phật giáo, Hòa Hảo khoảng 95% và của đạo Tin lành khoảng 65%. Là người lao động, người nông dân, tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam rất cần cù trong lao động sản xuất và có tinh thần yêu nước. Trong các giai đoạn lịch sử, tín đồ các tôn giáo cùng với các tầng lớp nhân dân tập hợp trong khối đại đoàn kết dân tộc làm nên những chiến thắng to lớn của dân tộc ta.
Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam có nhu cầu cao trong sinh họat tôn giáo, nhất là những sinh họat tôn giáo cộng đồng mang tính chất lễ hội. Tuy nhiên, một bộ phận tín đồ của một số tôn giáo vẫn còn mê tín dị đoan, thậm chí cuồng tín dễ bị các phần tử thù địch lôi kéo, lợi dụng.
Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo nói trên, người ta thường ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo của thế giới. Về khía cạnh văn hoá, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn hoá Việt Nam thêm phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên đó cũng là những khó khăn đặt ra trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và đối với từng tôn giáo cụ thể ở nước ta.
Thông qua việc trình bày một số đặc điểm tình hình tôn giáo Việt Nam có thể thấy phần nào bức tranh toàn cảnh về tôn giáo ở Việt Nam và một số điểm tương đồng sau:
Một là, Việt Nam trong lịch sử chưa bao giờ tồn tại thuần túy sự độc tôn một tôn giáo nào. Tôn giáo ở Việt Nam bao giờ cũng là sự hỗn dung tôn giáo, nhiều tôn giáo cùng tồn tại hòa hợp, hòa bình, chưa bao giờ nảy sinh tình trạng chiến tranh giữa các tôn giáo, cho dù ở nơi này hay nơi khác, lúc này hay lúc khác có sự bài xích lẫn nhau.
Hai là, trong lịch sử Việt Nam, chưa từng có một chính thể nào, triều đại nào mang tính tôn giáo. Chính thể bao giờ cũng là chính thể dân sự, cho dù  nhiều khi có sự tồn tại của cái gọi là quốc giáo và các vị quốc sư  nhưng chưa bao giờ thần quyền lấn át được vương quyền, tôn giáo lấn át được chính trị.
Ba là, các tôn giáo ở Việt Nam hầu hết đều có nguồn gốc ngoại lai, nhưng đều có một điểm chung đó là tính dân tộc. Để truyền bá, tồn tại và phát triển, bất kỳ tôn giáo nào khi đến Việt Nam cũng cần (hoặc bị) Việt hóa. Cốt lõi của tính dân tộc ấy là lòng yêu nước và tự hào dân tộc, bản sắc dân tộc Việt. Về cơ bản, yếu tố Việt thường biểu hiện trội hơn so với các yếu tố mang tính tôn giáo, cho nên để đoàn kết dân tộc không thể nhân danh một tôn giáo nào đó mà chỉ có thể đứng trên lập trường dân tộc, đề cao đại đồng tiểu dị, đoàn kết dân tộc, chung sống hòa bình.
2. Chính sách tôn giáo của Đ ảng, Nhà nước ta và tình hình giải quyết vấn đề tôn giáo thời gian qua
a) Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta
Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam được xây dựng trên quan điểm cơ bản của học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo và căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc. Tinh thần đó được Đảng và Nhà nước Việt Nam thể hiện bằng hệ thống chính sách phù hợp với từng giai đoạn cách mạng.
Ngay khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3 tháng 9 năm 1945,  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra một trong sáu nhiệm vụ của Nhà nước non trẻ là Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết. Ngày 14 tháng 6 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 234-SL Ban hành chính sách tôn giáo của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó ghi rõ: “Việc tự do tín ngưỡng, thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền Dân chủ Cộng hoà luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện.
Sau năm 1975, ngày 11 tháng 11 năm 1977, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 297-CP về Một số chính sách đối với tôn giáo trong đó nêu lên 5 nguyên tắc về tự do tôn giáo. Để đáp ứng với yêu cầu của quá trình đổi mới, ngày 21 tháng 3 năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 69-HĐBT “Quy định về các hoạt động tôn giáo. Nghị định 69 là văn bản mang tính pháp quy, là sự kế thừa thực tiễn của quá trình thực hiện chính sách tôn giáo ở nước ta.
Chủ trương, chính sách của Đảng đối với tín ngưỡng, tôn giáo từng bước được hoàn thiện. Đến đầu thập kỷ 90, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 24-NQ/TƯ về công tác tôn giáo trong tình hình mới, ghi dấu son về sự đổi mới đường lối, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo. Tiếp theo, ngày 02 tháng 7 năm 1998 Bộ Chính trị ra Chỉ thị 37-CT/TƯ về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Cho đến Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khoá IX) về công tác tôn giáo (Nghị quyết 25-NQ/TƯ ngày 12 tháng 3 năm 2003) quan điểm, chính sách của Đảng đối với tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được khẳng định và phát triển thêm một bước mới phù hợp với sự nghiệp đổi mới của Đảng. Đó là:
-  Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật.
- Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.
- Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.
- Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Những quan điểm, chính sách tôn giáo luôn được Đảng và Nhà nước bổ sung, hoàn thiện trong các Nghị quyết đại hội Đảng X, XI và trong Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước ta. Đặc biệt, ngày 18 tháng 6 năm 2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá XI đã thông qua Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, đây là một bước tiến và một lần nữa tiếp tục khẳng định nguyên tắc nhất quán trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo và mong muốn cho người dân theo tôn giáo được phần hồn thong dong, phần xác ấm no.
b) Tình hình giải quyết vấn đề tôn giáo thời gian qua
- Thành tựu:
+ Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo hoạt động
Thực tế, những chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo không phải chỉ được khẳng định ở Hiến pháp, pháp luật hay trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước ta mà còn được thể hiện sống động trong cuộc sống hàng ngày.
Cho đến nay, Nhà nước ta đã công nhận về tổ chức trên 30 tổ chức tôn giáo và tiếp tục xem xét theo tinh thần của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Có thể khẳng định, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang diễn ra bình thường ở mọi nơi trên đất nước Việt Nam.
“Cả nước hiện có 22.000 cơ sở thờ tự, 56.125 chức sắc, nhà tu hành, chưa kể hàng vạn người hoạt động bán chuyên nghiệp của các tổ chức tôn giáo, trong đó Phật giáo có 33.066 tăng ni; Thiên chúa giáo có 42 giám mục, 2.700 linh mục và 11.282 tu sĩ; Tin lành có 492 mục sư, giảng sư và truyền đạo; Cao Đài có 8.340 chức sắc, chức việc; Phật giáo Hoà hảo có 982 chức việc và Hồi giáo có 699 chức sắc; 3 học viện Phật giáo với trên 1.000 tăng ni sinh, 30 trường trung cấp Phật học, 4 trường cao đẳng Phật học với 3.940 tăng ni sinh theo học. Giáo hội Thiên chúa giáo có 6 Đại chủng viện với 1.085 chủng sinh và 1.712 chủng sinh dự bị. Viện Thánh kinh thần học của Tổng liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) đã chiêu sinh hai khoá với 150 học sinh. Hiện có hàng trăm người của các tôn giáo đang theo học thạc sĩ, tiến sĩ ở các nước trên thế giới[34]. Đó là bằng chứng sinh động về đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo và nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam vì cuộc sống tinh thần của hàng triệu tín đồ các tôn giáo và cũng là những công dân của Việt Nam.
+ Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào tôn giáo được quan tâm và ngày càng được nâng cao
Những năm qua, công tác vận động quần chúng, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành luôn được Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền cơ sở chú trọng, tăng cường. Việc chăm lo đời sống của nhân dân ở những vùng đồng bào tôn giáo được quan tâm hơn. Quy chế dân chủ ở cơ sở được triển khai. Số người có đạo tham gia các đoàn thể tăng lên. Việc xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sở đảng ở những vùng đồng bào tôn giáo cũng được đẩy mạnh hơn trước. Việc đấu tranh, xử lý các vi phạm quy định pháp luật trong hoạt động tôn giáo được quan tâm, đảm bảo đúng pháp luật và góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội ở các vùng đồng bào tôn giáo.
+ Công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại tôn giáo được đẩy mạnh và hoạt động có hiệu quả 
Công tác thông tin đối ngoại đã có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ban, ngành và các địa phương, giữa trong nước và ngoài nước trong việc vận động và đấu tranh quốc tế chống lợi dụng các vấn đề tôn giáo, dân tộc và nhân quyền để chống phá nước ta. Góp phần ngăn ngừa và làm thất bại hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo của các thế lực thù địch, bọn phản động đội lốt tôn giáo và các phần tử tôn giáo cực đoan người Việt ở ngoài nước để chống phá cách mạng nước ta. Đồng thời khẳng định Đảng và Nhà nước ta nghiêm chỉnh thực hiện chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng làm cho đồng bào các tôn giáo yên tâm, phấn khởi, hăng hái tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật, sống tốt đời đẹp đạo, gắn bó cùng toàn dân tham gia sự nghiệp chung phát triển đất nước.
- Hạn chế:
Bên cạnh những thành tựu đạt được, tình hình giải quyết vấn đề tôn giáo ở nước ta còn có diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố có khả năng gây mất ổn định. Biểu hiện:
+ Một số người chưa tuân thủ pháp luật, tổ chức truyền đạo trái phép; lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan.
Ở một số địa hạt tôn giáo, các hội đoàn tôn giáo (Công giáo, Phật giáo, Cao Đài, Tin Lành nhiều nhất là Công giáo) tiếp tục phát triển và gia tăng hoạt động lôi kéo quần chúng. Việc truyền đạo trái phép gắn với ý đồ chính trị phản động của một số phần tử thù địch trong các tôn giáo (Tin Lành Vàng Chứ, Thìn Hùng) vẫn diễn ra ở các  tỉnh  biên giới phía Bắc và Tây Nguyên, nhưng chúng ta chưa có biện pháp  tích cực để ngăn chặn có hiệu quả.
+ Một số chức sắc lợi dụng vấn đề lịch sử để lại, kích động giáo dân đòi đất, dựng tượng gây mất ổn định xã hội.
Những năm qua, ở một số địa bàn tôn giáo, việc khiếu kiện và tranh chấp liên quan đến đất đai, cơ sở vật chất của tôn giáo ở một số nơi tăng lên, có nơi gay gắt, phức tạp. Có đến Hàng trăm vụ khiếu kiện đòi lại đất, cơ sở cũ của tôn giáo hiện do các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể quần chúng, tổ chức xã hội đang sử dụng[35]. Ở một số nơi, nhất là vùng dân tộc thiểu số, một số chức sắc đội lốt tôn giáo để tiến hành những hoạt động chống đối, kích động tín đồ nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do: hệ thống chính sách về tôn giáo của Đảng và Nhà nước còn chưa đáp ứng nhu cầu của thực tiễn; công tác tôn giáo chậm đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, trong khi các thế lực thù địch ráo riết tranh thủ, giành giật, lôi kéo quần chúng, tín đồ, chức sắc tôn giáo; một số cấp ủy, chính quyền các cấp, một số cán bộ làm công tác liên quan đến tôn giáo thiếu bản lĩnh, tri thức, cửa quyền, quan liêu gây tình trạng bất hợp tác của một số chức sắc tôn giáo; tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo của hệ thống chính trị, nhất là bộ máy quản lý nhà nước và đội ngũ làm công tác tôn giáo ở cơ sở, ở các vùng đông tín đồ tôn giáo, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số còn yếu, việc tập hợp quần chúng còn hạn chế Tình hình trên làm cho vấn đề tôn giáo vốn đã phức tạp lại càng thêm phức tạp và nhạy cảm, nhất là khi các thế lực thù địch lợi dụng thì dễ sinh điểm nóng gây mất ổn định chính trị - xã hội.
III. ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO VÀ ĐẤU TRANH CHỐNG ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG NƯỚC TA 
1. Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay
Một trong những vấn đề đặc biệt nghiêm trọng trong thời gian gần đây là hoạt động của các thế lực thù địch ở cả trong và ngoài nước lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, chia rẽ giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số, người có đạo và không có đạo. Đây được xem là những nguyên nhân trực tiếp gây ra sự mất ổn định chính trị tại một số khu vực đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng có tôn giáo ở nước ta vừa qua. Sự gia tăng hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo được biểu hiện dưới rất nhiều hình thức khác nhau, cụ thể:
Một là, hỗ trợ, giúp đỡ bọn phản động dân tộc thiểu số người Việt ở nước ngoài hoạt động chống Nhà nước Việt Nam.
Những năm qua, các thế lực thù địch đứng đầu là Mỹ không ngừng đẩy mạnh các hoạt động Diễn biến hòa bình, trong đó chúng đặc biệt khoét sâu góc độ nhân quyền trong vấn đề dân tộc, coi đây là một khâu đột phá quan trọng để thực hiện mưu đồ chống phá cách mạng nước ta.
Thủ đoạn thâm độc mà chính quyền Mỹ thường sử dụng là hỗ trợ cho các lực lượng phản động người dân tộc thiểu số Việt Nam sống lưu vong ở nước ngoài để chống phá Nhà nước Việt Nam. Thông qua các hoạt động văn hoá, xã hội, tôn giáo, chính quyền Mỹ đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ, lễ hội mang tính quốc tế của người Mông, tổ chức nhiều chương trình hội thảo, hội nghị quốc tế liên quan đến các dân tộc thiểu số Việt Nam. Mặt khác, Mỹ tích cực hỗ trợ các hội nhóm của người dân tộc ở Mỹ và sử dụng các tổ chức này để chống phá Nhà nước Việt Nam. Hiện có khoảng 100 tổ chức của người dân tộc thiểu số Việt Nam ở nước ngoài. Riêng ở Mỹ có 11 tổ chức của người Mông, 5 tổ chức của người Thái, 1 tổ chức của người Dao, 3 tổ chức của người Thượng Tây Nguyên. Đáng lưu ý là các tổ chức: “Trung tâm nghiên cứu văn hoá Mông; “Trung tâm nghiên cứu Thái học Mỹ”; “Hội người Thái tị nạn tại Pháp Chính quyền Mỹ và một số thế lực ở Mỹ ngoài việc sử dụng đài VOA, đài Châu Á tự do còn hỗ trợ ngân sách thành lập đài phát thanh, in ấn báo chí bằng tiếng dân tộc cho các tổ chức này để chống phá Việt Nam về mặt tư tưởng.
Hai là, lợi dụng các vấn đề lịch sử để kích động hận thù dân tộc, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc Việt Nam.
Với thủ đoạn vừa chia rẽ, lôi kéo, tập hợp lực lượng người dân tộc thiểu số, vừa âm mưu quốc tế hoá để can thiệp vào vấn đề dân tộc ở nước ta, chúng đã triệt để lợi dụng những vấn đề phức tạp do lịch sử để khơi lại hận thù dân tộc, dựng nên cái gọi là nguy cơ đồng hóa dân tộc. Đặc biệt, họ lợi dụng tư tưởng hoài cổ của một số dân tộc trong lịch sử để thực hiện âm mưu lập các khu Thái tự trị, Mông tự trị, Tây kỳ tự trị... hòng chia nhỏ Việt Nam. Chúng tìm mọi cách nâng đỡ, tung hô những kẻ mang tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ly khai; lôi kéo những người có ảnh hưởng trong đồng bào dân tộc để nắm quần chúng, tạo dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng đối lập từ bên trong, làm điểm tựa để đẩy mạnh hoạt động chống phá nước ta. Mặt khác, chúng còn sử dụng khả năng quốc tế hoá vấn đề dân tộc để chống phá Việt Nam như vấn đề Fulro với Nhà nước Đề ga ở Tây Nguyên; vấn đề Khmer Nam Bộ, vấn đề người Mông[36]. Từ đó cho thấy, trong vấn đề dân tộc, sự câu kết giữa bọn phản động trong nước và ngoài nước ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ, chặt chẽ và tinh vi hơn, thích ứng với tình hình mới.
Hiện nay, để xâm nhập vào vùng đồng bào các dân tộc, họ thường tập trung nhằm vào lực lượng trí thức trẻ, học sinh, sinh viên người dân tộc bằng thủ đoạn cấp học bổng cho sang học tập ở các nước tư bản để sử dụng lâu dài. Đồng thời lợi dụng những yếu kém của  chính quyền cơ sở để kích động, gây chia rẽ giữa người Kinh và người các dân tộc; khuếch đại những mâu thuẫn, xích mích và những tai nạn rủi ro trong đời sống thường ngày, biến chúng thành những vấn đề quan hệ dân tộc, vấn đề chính trị.
Ba là, lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, du lịch, nghiên cứu văn hóa để thâm nhập vào các vùng dân tộc thiểu số, chống phá cách mạng nước ta.
Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua đường bưu điện quốc tế, các thế lực phản động tăng cường tác động vào Việt Nam. Đến nay, riêng đài Nguồn Sống của Mỹ đã phát thanh bằng 22 tiếng dân tộc thiểu số nước ta, trong đó có 2 đài phát bằng tiếng Mông. Nội dung phát thanh tiếng Mông của các đài này chủ yếu là truyền đạo, đồng thời xen kẽ vào những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc chính sách dân tộc của Đ ảng và Nhà nước ta, kích động mâu thuẫn giữa dân tộc Mông với các dân tộc khác.
Họ lợi dụng việc nghiên cứu văn hóa để tăng cường thâm nhập vào vùng đồng bào các dân tộc. Trên thực tế, vấn đề người Mông, người Thái, người Chăm, Khơme, Thượng... hiện đang được rất nhiều các tổ chức thuộc các trường đại học, các trung tâm văn hóa, khoa học xã hội ở Pháp, Mỹ, Anh, Ốtxtrâylia, Đức... quan tâm, nghiên cứu. Họ còn tiến hành biên soạn giáo trình dạy chữ dân tộc từ nước ngoài để đưa vào dạy ở Việt Nam (chẳng hạn như chữ Mông). Những hoạt động nêu trên đều có mối liên hệ, chỉ đạo từ nước ngoài. Việc người nước ngoài vào Việt Nam nghiên cứu về các dân tộc ở nước ta ngày càng gia tăng sẽ không loại trừ khả năng có kẻ sẽ lợi dụng để tiến hành các hoạt động chính trị.
Lợi dụng chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta, các đối tượng là người nước ngoài cũng đã triệt để lợi dụng con đường công khai, hợp pháp dưới danh nghĩa du lịch, thăm thân nhân, viện trợ nhân đạo để thâm nhập, tiếp cận và từng bước tác động chuyển hóa vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Chúng tìm cách phát triển tôn giáo trong đồng bào các dân tộc, đặc biệt là đạo Tin Lành.
Hiện nay, nhiều kiều dân người dân tộc ở nước ngoài, đặc biệt là ở Mỹ, hiện đã bị thu hút vào các tôn giáo như: Tin Lành, Thiên Chúa giáo (đa số người Mông, người Thái, Người Thượng ở Mỹ đã theo đạo Tin Lành). Các tôn giáo này đã dùng các giáo sỹ là người dân tộc gốc Việt để tiến hành truyền đạo tại các vùng đồng bào dân tộc nước ta. Những tài liệu thu được tại các khu vực này cho thấy Kinh thánh của đạo Tin Lành đã được dịch ra các ngôn ngữ dân tộc khác nhau, được thu vào các băng catset và đã được phân tán vào các vùng dân tộc từ khu vực Tây Bắc đến khu vực Tây Nguyên. Mặt khác, thông qua mối quan hệ quốc tế của các tôn giáo để tăng cường tác động, can thiệp của quốc tế vào vùng các dân tộc thông qua con đường tôn giáo ngày càng tăng, tạo nên sự phức tạp về an ninh, chính trị ở các khu vực này.
Ngoài các thủ đoạn trên, các thế lực thù địch còn ra sức lợi dụng tình hình di cư của đồng bào một số dân tộc thiểu số ở phía Bắc vào phía Nam như người Mông, người Dao để kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc.
Trong những năm gần đây có những dấu hiệu đáng ngại, đó là sự di cư với một số lượng rất đông, có nhiều nơi còn tổ chức đi vào ban đêm để tránh sự phát hiện của chính quyền. Đã có hàng chục ngàn người Mông di cư vào Tây Nguyên và một số địa phương khác gây rất nhiều vấn đề phức tạp cho chính quyền và đồng bào khu vực sở tại. Thực tế đó cho thấy, có nhiều khả năng, sự di cư ồ ạt của đồng bào dân tộc phía Bắc vào Nam rất có thể do sự giật dây của một thế lực nào đó.
Từ sự phân tích trên cho thấy, sự gia tăng các hoạt động cũng như tính chất nguy hiểm của các thủ đoạn mà các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng nước ta hiện nay. Đây là một vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cả m, nếu chúng ta không có đối sách đúng đắn và kịp thời, có thể sẽ xảy ra những điểm nóng chính trị - xã hội, gây nên tình trạng bất ổn định tại các khu vực đồng bào dân tộc miền núi.
Bốn là, lợi dụng vấn đề tôn giáo để tuyên truyền, xuyên tạc, can thiệp và chống phá cách mạng nước ta
Trong các con bài chính trị mà các tổ chức phản động, thù địch trong nước và quốc tế muốn sử dụng để chống phá chế độ chính trị ở nước ta hiện nay, tôn giáo là một con bài quan trọng (bên cạnh các con bài như tư nhân hóa, các vấn đề dân tộc thiểu số, phong trào sinh viên). Hơn nữa, hầu hết các tôn giáo đang hoạt động ở nước ta đều có liên hệ, có thể coi là mật thiết, thậm chí có thể coi là máu thịt với các tổ chức tôn giáo hoặc xã hội ở nước ngoài, nhất là ở các nước thù địch hoặc có ác cảm với chế độ chính trị ở nước ta đương thời. 
Trong khoảng hơn hai mươi năm trở lại đây, trên địa bàn cả nước xảy ra hàng trăm điểm nóng có liên quan đến tôn giáo, trong đó có khoảng hơn 30 điểm nóng lớn, điển hình như vụ đám tang Hòa thượng Thích Đôn Hậu ở Huế, vụ có liên quan đến linh mục Lý ở Huế, vụ giáo dân Hố Nai (Đồng Nai) bạo động Đặc biệt là việc phát triển đạo Tin Lành Vàng Chứ ở đồng bào người Mông, Thìn Hùng ở đồng bào người Dao, Tin Lành Đề ga ở Tây Nguyên đã cho thấy mức độ gia tăng hoạt động và sự nguy hiểm của việc lợi dụng vấn đề tôn giáo để thực hiện diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta.
Từ những năm cuối của thế kỷ XIX, Toàn quyền Đông Dương đã sử dụng các cha cố người Pháp truyền đạo Thiên Chúa vào vùng đồng bào dân tộc Mông ở Sa Pa (Lào Cai) và Trạm Tấu (Yên Bái), nhưng qua nhiều năm đạo này cũng không phát triển thêm được. Năm 1999, bọn phản động trong nước câu kết với bọn phản động nước ngoài âm mưu dựng lên cái gọi là Tin lành Đề ga ở Tây Nguyên. Trước đó, từ năm 1973 chúng đã có kế hoạch mở rộng, phát triển đạo này ra các tỉnh miền núi phía Bắc, bằng nhiều cách và thủ đoạn khác nhau, chúng đã dựng ra được cái gọi là đạo Vàng Chứ cho vùng đồng bào dân tộc Mông và Thìn Hùng cho bà con người dân tộc Dao.
Để phát triển đạo Vàng Chứ, “Thìn Hùng, “Tin lành Đề ga, một số người cầm đầu đã có âm mưu hợp pháp hóa truyền đạo bằng việc gắn với đạo Tin lành và Thiên Chúa giáo, vì đây là các đạo có tư cách pháp nhân được Nhà nước ta cho phép hoạt động. Để đạt được âm mưu đó, bọn phản độngđã nghiên cứu, đổi mới cách thức truyền đạo và sinh hoạt đạo. Chúng vẫn dùng nhà thờ và Hội thánh làm danh nghĩa để hoạt động nhưng các thủ tục, lễ nghi đã được đơn giản hóa đi nhiều, nơi thì thờ cây thánh giá, nơi thì thờ chúa Giêsu, không nhất thiết phải đi nhà thờ rửa tội, cũng không có nhà nguyện hát thánh ca Tin lành; họ có nhà họp để phổ biến chương trình hành động và để hát ca ngợi Giêsu bằng tiếng Mông, tiếng Dao theo nhạc Tây. Nói cách khác, cả hình thức lẫn nội dung truyền giáo đang từng bước được dân tộc hóa. Sự đan xen và gắn kết đó làm cho một số cán bộ và đồng bào các dân tộc thiểu số không phân biệt được phải trái, đúng sai, lợi hại, đâu là chính đạo, đâu là tà đạo, đâu là tín ngưỡng, đâu là mê tín dị đoan, đâu là thật, đâu là giả. Về thực chất, đây là sự lợi dụng tôn giáo và hoạt động chính trị nó không chỉ trực tiếp làm tăng thêm tính phức tạp của vấn đề tôn giáo mà còn dẫn tới sự chia rẽ các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Ở bên ngoài, Mỹ và các nước phương Tây tiếp tục nuôi dưỡng, chỉ đạo và hậu thuẫn số phản động tôn giáo người dân tộc thiểu số lưu vong hình thành tổ chức và tiến hành các hoạt động kích động người Mông ở Lào, Việt Nam chống phá cách mạng hai nước; sử dụng tàn quân của Vàng Pao và một số đối tượng làm ngọn cờ nắm lực lượng người Mông lưu vong, sử dụng các đài phát tiếng Mông để tuyên truyền, kích động tư tưởng ly khai, tự trị và liên kết với các thế lực chống Việt Nam, Lào; thành lập các Trung tâm tập hợp người Mông từ các nước Lào, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc huấn luyện hoạt động vũ trang, lập Nhà nước của người Mông. Thông qua hoạt động ngoại giao và các tổ chức phi chính phủ (NGO), Mỹ và EU tăng cường thâm nhập, gia tăng ảnh hưởng, can thiệp, thúc đẩy tự do tôn giáo tại Tây Bắc và vùng phụ cận. Các tổ chức phản động ở Thái Lan, Lào, Mianma gia tăng hoạt động xâm nhập, tác động vào nội địa ta, móc nối, xây dựng cơ sở, hình thành tổ chức ở bên trong và chỉ đạo số này tiếp tục tuyên truyền, phát triển lực lượng, tìm mua vũ khí, đẩy mạnh hoạt động kích động, chống phá trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc và Tây Nguyên.
Trong thực tế, bằng thủ đoạn lợi dụng, trực tiếp và gián tiếp tuyên truyền, vận động, lừa bịp và mị dân, xuyên tạc và bịa đặt, cưỡng ép, đe dọa và bằng cả vật chất, chúng đã lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin, trong đó có một số ít đảng viên vùng dân tộc theo đạo. Từ tin theo đạo, tin theo những lời tuyên truyền xuyên tạc của bọn phản động đã dẫn đến giảm lòng tin đối với Đảng và Nhà nước ta. Ở một số nơi, sự mê hoặc của thứ giáo lý nói trên đã gây chia rẽ và phân hóa ngay trong làng, bản, trong từng gia đình và họ hàng của từng dân tộc, giữa các dân tộc khác nhau, giữa người theo đạo và người không theo đạo; làm xáo trộn, sai lạc hoặc làm mất đi một số thuần phong mỹ tục và văn hoá tốt đẹp của dân tộc; gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống, thậm chí gây thiệt hại về người và của cho đồng bào các dân tộc thiểu số, vốn đã bao đời sống đoàn kết gắn bó bên nhau.
Những hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo của các thế lực thù địch trong và ngoài nước chống phá cách mạng nước ta trong những năm qua làm cho tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các vùng tôn giáo có những diễn biến phức tạp, nếu chúng ta không có biện pháp phòng, chống kịp thời sẽ có thể dẫn đến nguy cơ bạo loạn chính trị, cục bộ ở một số địa bàn. Do vậy, việc đấu tranh phòng, chống địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, của quân và dân ta. Đây là vấn đề rất nhạy cảm, có tính đặc thù, quan hệ chặt chẽ đến sự phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội và đối ngoại, đặc biệt là tư tưởng và niềm tin của đồng bào tôn giáo đối với Đảng và Nhà nước ta.
b) Giải pháp đấu tranh phòng chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay
Để vô hiệu hoá sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam của các thế lực thù địch thì giải pháp chung cơ bản nhất là thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế - xã hội, mà trực tiếp là chính sách dân tộc, tôn giáo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc, các tôn giáo, củng cố xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hiện nay, chúng ta cần tập trung vào những giải pháp cơ bản sau:
Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch cho toàn dân.
Đây là biện pháp đầu tiên, rất quan trọng. Tình hình thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo thời gian qua đã chứng minh, trong những địa bàn dân tộc, tôn giáo phức tạp có nguy cơ mất ổn định chính trị, nếu quần chúng cơ sở được tuyên truyền, giáo dục tốt, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn xấu độc của kẻ thù  thì chúng khó có thể lợi dụng kích động và lôi kéo được quần chúng tham gia vào các hoạt động gây mất ổn định chính trị ở địa phương.
Do vậy, phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục một cách toàn diện, tổng hợp. Hiện nay, cần tập trung vào phổ biến sâu rộng các chủ trương chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc, tôn giáo; phổ biến pháp luật và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của Nhà nước, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, khơi dậy truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cần giáo dục ý thức tự hào, tự lực tự cường dân tộc và ý thức quốc gia dân tộc Việt Nam cho đồng bào các dân tộc. Trong việc giáo dục hai loại ý thức này cần đặt ý thức quốc gia dân tộc Việt Nam lên trên hết. Phải làm cho hai loại ý thức trên không mâu thuẫn với nhau, mà còn bổ sung cho nhau, nương tựa vào nhau để cùng phát triển trong cùng một cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời chú trọng khắc phục tư tưởng dân tộc lớn và tư tưởng dân tộc hẹp hòi giải quyết các quan hệ dân tộc, tôn giáo.
Tăng cường quán triệt nâng nhận thức về vị trí, vai trò và tiềm năng của miền núi: nhận thức đúng đắn về chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới, nhất là đối với cán bộ đảng viên ở cơ sở, đồng thời phổ biến sâu rộng các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi cho đồng bào. Thường xuyên đi sâu tìm hiểu, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng chính đáng của đồng bào, kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc ở các địa phương, cơ sở. Đấu tranh khắc phục dần nạn mê tín, dị đoan, thay đổi tập quán làm ăn, nếp nghĩ, phong cách sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Tăng cường giáo dục lòng tự hào về những giá trị văn hoá quý giá của các dân tộc, đồng thời vạch rõ những âm mưu, thủ đoạn chống phá của những thế lực thù địch.
Nâng cao nhận thức cho quần chúng về vị trí, vai trò của công tác tôn giáo. Công tác tuyên truyền, giáo dục phải làm sao cho toàn thể cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ làm công tác tôn giáo và nhân dân thấy được chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta là nhất quán, toàn diện. Nhận thức về vấn đề này không phải chỉ đơn thuần là ở chỗ biết về nó mà cơ bản và quan trọng là ở chỗ làm sao để việc thừa nhận sự tồn tại của tôn giáo là lâu dài, cần thiết và còn có những giá trị phù hợp với xã hội được dần dần hiện thực hoá trong thực tiễn, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Tức là những quan điểm, chính sách tôn giáo cần phải có nền tảng vật chất của nó. Chỉ khi đó, tôn giáo với tư cách là một thực thể còn  tồn tại lâu dài, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân mới có đầy đủ sự năng động và năng lực chịu trách nhiệm trước xã hội.
Do vậy, việc tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cho quần chúng về vị trí, vai trò của công tác tôn giáo, về cả phương diện phản văn hoá của chúng một cách đầy đủ và khoa học sẽ giúp cho họ có những cách ứng xử đúng trước sự tác động của những kẻ lợi dụng mặt trái của tôn giáo - tín ngưỡng để gây mất ổn định chính trị xã hội. Quá trình tuyên truyền giáo dục này đòi hỏi phải cởi mở, khoa học, cầu thị, tránh sự gò ép khuôn sáo dẫn tới phản cảm. Tốt hơn hết nên tuyên truyền quần chúng theo phương thức người tại chỗ, vật tại chỗ, việc tại chỗ, có như vậy sự tuyên truyền mới có hiệu quả thiết thực. Đồng thời tạo điều kiện, cho phép tôn giáo được tự do hoạt động theo đúng pháp luật, phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo, động viên giáo dân sống tốt đời, đẹp đạo, sống phúc âm trong lòng dân tộc, cùng với toàn Đ ảng, toàn dân và toàn quân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hai là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc, tôn giáo, miền núi, vùng sâu, vùng xa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo.
Đ ây là một trong những giải pháp quan trọng, xét đến cùng có ý nghĩa nền tảng để vô hiệu hoá sự lợi dụng của kẻ thù. Phải đẩy nhanh tiến độ và hiệu quả các chương trình, dự án ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng dân tộc, tôn giáo; nhanh chóng xoá đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí, sức khoẻ, bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc. Khắc phục sự chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, tôn giáo; sự kỳ thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo. Cụ thể:
- Đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả đầu tư của các chương trình, dự án ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng dân tộc, các tôn giáo.
 Tiến hành rà soát, bổ sung chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc miền núi để làm căn cứ cho việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương cho phù hợp với tình hình mới. Tăng cường nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội các vùng, các dân tộc để cụ thể hoá các chính sách sao cho phù hợp về cả chủ trương và cơ chế quản lý điều hành, tổ chức thực hiện. Đổi mới phương thức đầu tư theo hướng: tập trung có trọng điểm, công khai, trực tiếp và hiệu quả cao.
Về chính sách đầu tư: Nhà nước cần ưu tiên đầu tư vốn theo hướng nâng cao tỷ trọng đầu tư trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết các vấn đề bức xúc về mặt xã hội ở vùng các dân tộc thiểu số, miền núi, vùng tôn giáo. Ngân sách nhà nước cần được đầu tư có trọng điểm, trọng tâm và tập trung chủ yếu vào xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, thuỷ lợi, nước sạch, trạm y tế, bệnh viện, trường học. Ưu tiên tập trung các nguồn vốn, tăng mức đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn thuộc phạm vi Chương trình 135...
Tiếp tục thực hiện các chính sách ưu đãi về thuế như thuế nông nghiệp, thuế tiểu thủ công nghiệp, thuế lưu thông hàng hoá và một số loại thuế khác ở vùng dân tộc, miền núi. Tiếp tục điều chỉnh và hoàn thiện chính sách hỗ trợ vốn, chính sách trợ giá thu mua nông sản, lâm sản và bán các hàng hoá thiết yếu cho đồng bào.
Về chính sách phát triển rừng: Nhà nước cần có chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng lao động, đất đai, vật tư và tiền vốn vào việc bảo vệ và phát triển rừng. Tiếp tục thực hiện và có cơ chế, chính sách phù hợp hơn trong việc giao đất, giao rừng cho đồng bào các dân tộc chăm sóc, bảo vệ và khai thác, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào các dân tộc thiểu số có thể yên tâm sống bằng nghề rừng.
- Tăng cường công tác xoá đói giảm nghèo. Cần phải nhấn mạnh rằng, về vấn đề xoá đói giảm nghèo, Đ ảng và Nhà nước ta đã có chủ trương đúng và biện pháp tích cực, hữu hiệu. Sau một thời gian ngắn, chúng ta đã đạt được những kết quả khả quan được thế giới thừa nhận. Chúng ta cần làm tốt hơn nữa chủ trương hợp lòng dân này. Đây cũng là một vấn đề có một ý nghĩa hết sức to lớn. Nếu đời sống và mặt bằng dân trí của đồng bào các dân tộc được nâng cao thì dù thế lực bên trong và bên ngoài có muốn chống phá cách mạng nước ta cũng không dễ gì thực hiện được. Các luận điệu tuyên truyền, kích động, bôi nhọ chế độ của chúng sẽ dễ dàng tìm được đất sống ở những nơi mà nghèo đói và lạc hậu vẫn còn thống trị.
- Phát triển văn hoá - xã hội vùng dân tộc, miền núi, tôn giáo.
Tiến hành khảo sát, đánh giá, phân loại một cách toàn diện các giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc ít người theo phương hướng: những giá trị tiến bộ thì bảo tồn, phát triển; những giá trị tuy cũ nhưng không cản trở gì cho sự phát triển thì không nên vận động xoá bỏ, bởi chúng đáp ứng một phần đời sống văn hoá, tinh thần của quần chúng; những cái đã lỗi thời, gây cản trở cho sự phát triển như tập quán du canh, du cư, trồng cây thuốc phiện, tập tục ở trần, cà răng, căng tai, tàn dư quần hôn phải kiên trì vận động, thuyết phục để chính bản thân bà con dân tộc tự nguyện từ bỏ, tránh dùng các biện pháp ép buộc, hành chính.
Phát triển giáo dục, nâng cao dân trí cho đồng bào dân tộc, tôn giáo. Cần có chính sách ưu tiên đầu tư xây dựng các cơ sở trường lớp, cung cấp trang thiết bị dạy và học, đào tạo giáo viên phục vụ sự nghiệp phát triển giáo dục ở vùng dân tộc. Thực hiện có hiệu quả công tác xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Mở rộng hệ thống các trường phổ thông cấp tiểu học và trung học cơ sở, trường phổ thông trung học nội trú, các trường dạy nghề dành riêng cho học sinh người dân tộc thiểu số. Thực hiện chính sách ưu tiên trong thi tuyển, trợ cấp học bổng đối với học sinh người dân tộc thiểu số vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Mở rộng việc dạy chữ cho các dân tộc ít người trong hệ thống giáo dục phổ thông, tăng cường in ấn các tài liệu bằng tiếng dân tộc, đồng thời dịch các tác phẩm văn hoá, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số ra tiếng Việt để phổ biến rộng rãi các giá trị văn hoá của họ. Mở thêm các lớp đào tạo và nghiên cứu về văn hoá các dân tộc ít người. Đặc biệt cần quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ văn hoá là người dân tộc thiểu số để họ thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong việc bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá truyền thống.
Thực hiện tốt các dự án đầu tư cho xây dựng và củng cố hệ thống y tế cơ sở, xây dựng các trạm y tế và phòng khám đa khoa khu vực, tăng cường các dịch vụ y tế phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Ưu tiên thuốc chữa bệnh thông thường, thuốc phòng chống dịch bệnh cho vùng cao, miền núi, thực hiện chế độ cấp thuốc sốt rét, thuốc phòng chống bướu cổ, giảm giá bán muối trộn iốt cho nhân dân. Thực hiện chế độ miễn viện phí cho đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn.
Đầu tư kinh phí xây dựng các trạm tiếp sóng Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam. Thực hiện chương trình phủ sóng ở các vùng lõm, tăng cường các phương tiện thông tin đại chúng, tăng cường sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc trong và ngoài nước.
- Tăng cường nghiên cứu, tìm hiểu tôn giáo - tín ngưỡng. Chỉ có trên cơ sở một sự hiểu biết, một kết quả nghiên cứu tương đối đầy đủ, thực sự khoa học và có hệ thống về quá trình phát sinh, phát triển của tôn giáo - tín ngưỡng, về đặc điểm, tính chất trong từng giai đoạn, từng khu vực phát triển của chúng, rút ra những quy luật vận động xuyên suốt của chúng trong lịch sử và hiện tại thì chúng ta mới có thể đưa ra được những quyết sách đúng đắn nhằm đưa sinh hoạt tôn giáo - tín ngưỡng vào phát triển lành mạnh của xã hội. Quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về lĩnh vực này đòi hỏi rất công phu, tỉ mỉ, lâu dài, tốn kém, đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhiều ngành khoa học xã hội như Sử học, Khảo cổ học, Tâm lý học, Dân tộc học, Nghệ thuật học, Chính trị học,…
Ba là, tăng cường xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
Đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao nội lực, tạo nên sức đề kháng trước mọi âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của kẻ thù lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta.
Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải dựa trên nền tảng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực hiện đại đoàn kết phải lâu dài, rộng rãi. Mở rộng, đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vai trò của mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Kiên quyết đấu tranh loại trừ nguy cơ phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.
Đề cao yếu tố bản sắc dân tộc, tăng cường công tác mặt trận, đoàn kết đồng bào tôn giáo với Đ ảng, Nhà nước và nhân dân. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam không phân chia dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, lập trường chính trị là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong đó Đảng Cộng sản Việt Nam là một thành viên và là thành viên lãnh đạo.
Thực tiễn giải quyết những điểm nóng ở các vùng dân tộc, địa hạt tôn giáo vừa qua cho thấy, có những việc mà Mặt trận có thể làm trực tiếp, nhưng Đảng, chính quyền cơ sở lại không thể làm trực tiếp. Vì vậy, phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc, tăng cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc làm sao để hệ thống tổ chức Mặt trận từ Trung ương đến cơ sở thực hiện công tác tôn giáo một cách có hiệu quả, hợp tình, hợp lý, lấy yếu tố bản sắc dân tộc Việt Nam, lợi ích dân tộc làm điểm chung để đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo với Đảng, Nhà nước và xây dựng, củng khối đoàn kết toàn dân tộc.
Bốn là, tập trung xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, nhất là việc quan tâm bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực cho đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ làm công tác tôn giáo.
Thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền địa phương các cấp, nhất là cấp cơ sở thật sự trong sạch, vững mạnh; củng cố các tổ chức quần chúng như Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh nhanh chóng tạo ra đội ngũ cán bộ và đảng viên người các dân tộc tại chỗ, làm cơ sở vững chắc không chỉ cho thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc mà còn cho sự phát triển chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội nói chung. Đồng thời phát huy vai trò của các già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ, các chức sắc, chức việc đứng đầu các tổ chức tôn giáo, nhất là đạo Tin Lành ở vùng dân tộc thiểu số các tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên để chi phối, hướng dẫn họ hoạt động đúng quy định của pháp luật nhằm hạn chế những tác động tiêu cực từ các trung tâm Tin lành, tạo thành lực lượng đấu tranh phòng chống diễn biến hoà bình mạnh mẽ, rộng khắp ở địa phương, cơ sở. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, cùng nhân dân bàn bạc tìm cách tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nảy sinh, không để phát sinh thành điểm nóng.
Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ làm công tác tôn giáo. Để thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước một cách đúng đắn, sáng tạo, có hiệu quả, chúng ta cần có một đội ngũ cán bộ vững vàng cả về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức. Trong những năm trước mắt, cần tăng cường lực lượng cán bộ có năng lực, phẩm chất đến công tác tại vùng dân tộc, tôn giáo, nhất là các địa bàn xung yếu về chính trị, an ninh, quốc phòng; coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo thanh niên sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự làm nguồn cán bộ bổ sung cho cơ sở; nghiên cứu, sửa đổi tiêu chuẩn tuyển dụng, bổ nhiệm và các cơ chế, chính sách đãi ngộ cán bộ công tác ở vùng dân tộc và miền núi.
Kiện toàn và chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức cơ quan làm công tác dân tộc, tôn giáo từ Trung ương đến địa phương. Đổi mới nội dung và phương pháp công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo; quán triệt phương châm: chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc; sử dụng nhiều phương thức phù hợp với đặc thù của từng dân tộc, từng địa phương Trong điều kiện hiện nay, Đảng và Nhà nước ta cần có những biện pháp mạnh mẽ trong việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo. Văn kiện Hội nghị Trung ương 7 (khoá IX) khẳng định: “Tăng cường công tác tổ chức cán bộ làm công tác tôn giáo. Củng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức làm công tác tôn giáo của Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, “Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và đảm bảo chế độ chính sách đối với đội ngũ làm công tác tôn giáo. Quan tâm thoả đáng việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác tôn giáo các cấp[37].
Năm là, tăng cường, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trên địa bàn dân tộc thiểu số, miền núi.
Kinh nghiệm giải quyết các vấn đề tôn giáo, đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề tôn giáo thời gian qua cho thấy, sự can thiệp bằng biện pháp hành chính, bạo lực tới các điểm nóng chính trị liên quan đến tôn giáo là giải pháp thường được sử dụng ở giây phút cuối cùng và cực kỳ quan trọng trong việc lập lại trật tự và ổn định chính trị. Giải pháp tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh trên các địa bàn chiến lược vùng dân tộc thiểu số miền núi và những nơi tình hình tôn giáo diễn ra phức tạp không chỉ có nghĩa là sức mạnh bạo lực mà được hiểu theo nghĩa cả tăng cường về diện lẫn tăng cường về điểm, quán triệt phương châm an ninh nhân dân của Đảng. Đây là biện pháp rất cứng rắn nhưng đòi hỏi khi sử dụng phải rất khôn khéo, quyết đoán, chính xác, kịp thời. Mục tiêu, yêu cầu đặt ra là nhằm làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, không để bị động bất ngờ, không để bạo loạn xảy ra trong bất kỳ tình huống nào, do vậy, cần tập trung thực hiện tốt một số biện pháp cơ bản sau:
- Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trên các địa bàn trọng điểm. Cần chú trọng việc phối hợp với các cơ quan nghiệp vụ của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an trinh sát nắm chắc, đánh giá toàn diện tình hình liên quan đến âm mưu, hoạt động của các đối tượng nước ngoài, các tổ chức quốc tế, tổ chức NGO, các tổ chức tôn giáo, các dự án ở những địa bàn trọng điểm trên các tỉnh miền núi Tây Bắc, Tây Trung bộ, Tây Nguyên. Kịp thời phát hiện và có biện pháp ngăn chặn các hoạt động kích động chia rẽ dân tộc, phát triển đạo Tin lành; hoạt động của bọn phản động người Mông ở nước ngoài móc nối từ Lào, Trung Quốc, như: buôn bán ma tuý, kích động di cư, xưng Vua, đón Vua,.
- Chủ động tấn công địch từ bên ngoài ngay tại sào huyệt của chúng, tập trung vào số đối tượng cốt cán, cầm đầu các tổ chức tôn giáo phản động ở nước ngoài. Trong đó đặc biệt là các phần tử phản động người Mông như: “Châu Phạ - Đảng Cộng sản Mông tại sào huyệt của chúng ở Lào, Myanma; bọn phản động người Thượng ở Campuchia, Thái Lan... Tiếp tục phối hợp với các tỉnh, thành phố đấu tranh ngăn chặn hoạt động lôi kéo người Mông sang Lào để tập hợp lực lượng hình thành Vương quốc Mông. Đồng thời, tăng cường và nâng cao hiệu quả đấu tranh ngoại giao, quan hệ hợp tác quốc tế, nhất là việc phối hợp với Lào, Campuchia, Trung Quốc, Mianma và Thái Lan trong công tác ngăn chặn, hạn chế hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng địa bàn để thâm nhập, truyền đạo trái phép, tạo bàn đạp móc nối đưa người đi nước ngoài huấn luyện, chuyển lực lượng và hoạt động chống phá vào các tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên để lập Vương quốc Mông, “Nhà nước Đề ga độc lập.
 - Quản lý tốt hoạt động của các tổ chức NGO ở các tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên và các địa bàn tôn giáo trong cả nước.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhân dân nâng cao cảnh giác với âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo của các thế lực thù địch thông qua hoạt động của NGO vào địa bàn các tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên và các vùng tôn giáo khác. Tăng cường nắm, quản lý chặt chẽ hoạt động của các đoàn thường trú, lâm thời, các NGO nước ngoài móc nối tuyên tuyền, phát triển đạo Tin lành hoạt động vùng dân tộc thiểu số. Hạn chế việc cấp phép cho các NGO liên quan đến tôn giáo, dân tộc Mông, dân tộc Khme, triển khai dự án ở vùng dân tộc và miền núi. Chủ động hướng dẫn và phối hợp chặt chẽ giữa Bộ đội Biên phòng với Công an các tỉnh biên giới tích cực trao đổi tình hình, phối hợp với các nước bạn Trung Quốc, Lào, Campuchia đảm bảo an ninh biên giới, đấu tranh với hoạt động kích động lập Vương quốc Mông, “Vương quốc Đề ga của địch.
Thực hiện nghiêm Chỉ thị 19/CT-TW của Ban Bí thư về công tác quản lý hoạt động của các tổ chức NGO nước ngoài tại Việt Nam. Đồng thời, rà soát, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý hoạt động của NGO nước ngoài tại Việt Nam. Đề nghị Chính phủ ban hành Nghị định quản lý hoạt động của các tổ chức NGO nước ngoài tại Việt Nam, sửa đổi Nghị định 85/NĐ -CP của Thủ tướng Chính phủ về quản lý người Việt Nam làm việc trong các tổ chức NGO nước ngoài tại Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới.
Tăng cường đấu tranh ngăn chặn hoạt động tán phát tài liệu tuyên truyền luận điệu tâm lý chiến của các đài phát thanh tiếng Mông ở Mỹ, ở Thái Lan tác động xấu vào các tỉnh có người Mông sinh sống; triển khai thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân đảm bảo an ninh biên giới Việt - Trung, Việt - Lào, Việt - Campuchia.
 Thời gian tới, các thế lực thù địch, nhất là ở các nước phương Tây sẽ tiếp tục hậu thuẫn, tài trợ cho bọn phản động người dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo lưu vong chuyển lực lượng và hoạt động vào vùng dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, nhất là các tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên theo hướng sử dụng đạo Tin lành nhằm lôi kéo tín đồ cuồng tín, không chế quần chúng để thực hiện ý đồ chống phá cách mạng nước ta. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các tỉnh này sẽ không loại trừ có thể dẫn đến nguy cơ bạo loạn chính trị, cục bộ ở một số địa bàn. Do vậy, cần nâng cao cảnh giác, làm tốt công tác vận động quần chúng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc trên địa bàn miền núi.
 - Làm tốt công tác tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền trong chỉ đạo và có kế hoạch củng cố phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, nhất là những địa bàn dân tộc phức tạp, có nhiều người theo đạo.
Công tác tham mưu phải hướng vào việc củng cố hệ thống chính trị cơ sở, tuyên truyền làm cho đồng bào theo đạo hiểu và thực hiện đúng các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, không để phần tử xấu tuyên truyền xuyên tạc, lợi dụng chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước để kích thích phát triển đạo. Do vậy, các cấp chính quyền, đội ngũ cán bộ phải am hiểu Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, biết quản lý tôn giáo bằng pháp luật, đó là sự quản lý có kết hợp chặt chẽ giữa pháp lý và đạo lý, nhằm đưa các tôn giáo hoạt động bình thường theo pháp luật, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, bảo hộ các hoạt động tôn giáo hợp pháp, đồng thời ngăn chặn việc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật; làm cho giáo luật và đạo đức tôn giáo xích lại gần với pháp luật của Nhà nước và đạo đức xã hội, xây dựng cuộc sống tốt đời - đẹp đạo, nước vinh - đạo sáng
Đối với các xã, bản có đông người theo đạo, nhất là đạo Tin lành, đặc biệt là số xã, bản miền núi đang bị ảnh hưởng của hoạt động tuyên truyền lập Vương quốc Mông, “Vương quốc Đề ga cần tham mưu cho cấp ủy, chính quyền có kế hoạch củng cố toàn diện về mọi mặt, đồng thời tiếp tục tăng cường lực lượng xuống địa bàn nằm vùng, bảo đảm quản lý được địa bàn, đối tượng, làm chỗ dựa cho cấp ủy, chính quyền cơ sở. Ở những nơi có hoạt động tôn giáo trái pháp luật (tụ tập đông người để truyền đạo, tham dự các khóa học tôn giáo ở trong và ngoài nước, đưa người nơi khác đến truyền đạo, xây dựng nhà thờ, nhà nguyện... nhưng không tuân thủ các quy định hiện hành), cần phải kiên trì cảm hóa giáo dục, răn đe. Nếu thái độ ngoan cố, tiếp tục có hoạt động vi phạm, cần đưa ra kiểm điểm vạch mặt trước quần chúng hạ uy tín và thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ pháp lý để xử lý công khai trước pháp luật khi có yêu cầu.
Tóm lại, những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay sẽ không thể nào thực hiện được khi tất cả các biện pháp trên đều được thực hiện một cách đồng bộ;  khi các chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống, đời sống vật chất tinh thần, tín ngưỡng - tôn giáo của đồng bào các dân tộc được cải thiện và bảo đảm thì đó sẽ là những đảm bảo chắc chắn để các dân tộc, tôn giáo ngày càng gắn bó với Đảng, với dân tộc Việt Nam.
 
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng nước ta hiện nay? Liên hệ trách nhiệm của bản thân?
2. Quan điểm, giải pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng nước ta hiện nay? Liên hệ trách nhiệm của bản thân?
3. Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay? Liên hệ trách nhiệm của bản thân?
4. Quan điểm, giải pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay? Liên hệ trách nhiệm của bản thân?
 
Chuyên đề 10 (Bổ trợ)
CÁC TRẠNG THÁI QUỐC PHÒNG,
TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP VỀ QUỐC PHÒNG
Biên soạn: Đại tá, ThS Hoàng Khắc Thông
I. CÁC TRẠNG THÁI QUỐC PHÒNG
1. Khái niệm trạng thái quốc phòng
a) Khái niệm trạng thái quốc phòng
Trạng thái quốc phòng là hoạt động của các bộ, ngành, địa phương về công tác quốc phòng từ thời bình và các giai đoạn chuyển tiếp sang thời chiến để bảo đảm thực hiện động viên quốc phòng nhằm xử trí các tình huống khi xảy ra tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, tình trạng chiến tranh.
Khái niệm đề cập những nội dung sau:
- Trạng thái quốc phòng là hoạt động của các bộ, ngành, địa phương về công tác quốc phòng từ thời bình và các giai đoạn chuyển tiếp sang thời chiến. Trong thời bình các bộ, ngành và địa phương tập trung xây dựng tiềm lực quốc phòng toàn dân: xây dựng các tiềm lực về chính trị, kinh tế - xã hội, khoa học, kỹ thuật, quân sự và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về mọi mặt; thực hiện nghiêm túc giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng và toàn dân; xây dựng tinh thần cảnh giác cách mạng thực hiện răn đe và đối phó kịp thời có hiệu quả với mọi tình huống cả thời bình và thời chiến.
- Trên cơ sở nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân được xây dựng vững mạnh về mọi mặt. Khi một địa phương hay cả nước xảy ra tình huống, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng hoặc tình trạng có chiến tranh thì địa phương đó hoặc cả nước nhanh chóng tiến hành các bước chuyển địa phương và cả nước từ thời bình sang thời chiến, hay tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; thực hiện thiết quân luật, lệnh giới nghiêm theo quy định của pháp luật. Thực hiện động viên quốc phòng nhằm xử trí các tình huống khi xảy ra tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, tình trạng chiến tranh.
- Tập trung xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên để bổ sung, tăng cường cho lực lượng thường trực của Quân đội nhân dân; mở rộng lực lượng Dân quân tự vệ. Động viên bảo đảm nhu cầu quốc phòng cho chiến tranh. Động viên mọi nguồn lực của nền kinh tế quốc dân bảo đảm cho hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang và các hoạt động xã hội. Chuyển tổ chức, nhiệm vụ, hoạt động của các bộ, ngành, địa phương từ thời bình sang thời chiến.
b) Các trạng thái quốc phòng
Trạng thái thường xuyên
Là trạng thái đất nước trong thời bình, tình hình chính trị xã hội ổn định.
Trạng thái có tình huống
Xảy ra khi ở một hay nhiều khu vực hoặc cả nước tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội diễn biến phức tạp, địch có hiện tượng lấn chiếm biên giới, biển, đảo, phong toả đường biển, đường không, tập kích hoả lực hoặc có dấu hiệu địch chuẩn bị tiến công xâm lược.
Trạng thái khẩn cấp
Xảy ra khi ở một hay nhiều khu vực hoặc cả nước tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội diễn biến phức tạp; có nguy cơ địch cấm vận, bao vây, phong toả đường biển, đường không, lấn chiếm biên giới, biển, đảo, tập kích hoả lực hoặc chuẩn bị tiến công xâm lược; chủ tịch nước công bố quyết định ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.
Trạng thái thời chiến (chiến tranh)
Khi ở một hay nhiều khu vực hoặc cả nước tình hình an ninh, chính trị bị đe dọa nghiêm trọng; thấy rõ địch chuẩn bị cấm vận, bao vây, phong toả đường biển, đường không, lấn chiếm biên giới, biển, đảo, tập kịch hoả lực hoặc chuẩn bị tiến công xâm lược; Chủ tịch nước công bố tình trạng chiến tranh. (Như trong chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1977 và biên giới phía Bắc năm 1979).
2. Hoạt động của các lực lượng trong khu vực phòng thủ ở các trạng thái quốc phòng
a) Hoạt động của các lực lượng ở trạng thái thường xuyên
Là hoạt động giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Cơ quan Công an địa phương
Chủ trì phối hợp với cơ quan quân sự cấp tỉnh, cấp huyện, các ban, ngành, đoàn thể tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền cùng cấp xây dựng kế hoạch, phương án đấu tranh phòng, chống chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
Chủ trì phối hợp với các lực lượng có liên quan trong khu vực phòng thủ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, vận động nhân dân tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân; tuyên truyền giáo dục cho nhân dân nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, phòng, chống có hiệu quả hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch.
Ban chỉ huy quân sự xã (phường); ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức
Chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự cấp xã, ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở phối hợp với trưởng công an cấp xã xây dựng kế hoạch tuần tra, canh gác dưới sự điều hành của uỷ ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu cơ quan, tổ chức ở cơ sở và sự chỉ đạo của cơ quan quân sự cấp trên; tổ chức lực lượng thuộc quyền chủ trì, phối hợp với lực lượng công an cấp xã tuần tra, canh gác bảo vệ các mục tiêu được phân công.
Cơ quan quân sự cấp tỉnh, cấp huyện
Phối hợp với công an cùng cấp và các cơ quan khác có liên quan xây dựng phương án, kế hoạch phòng, chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ; tổ chức giao nhiệm vụ, hiệp đồng, luyện tập, diễn tập theo phương án; duy trì chế độ trực sẵn sàng chiến đấu theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tư lệnh quân khu; thường xuyên nắm chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội để báo cáo cấp uỷ, chính quyền cùng cấp và cấp trên; đồng thời thông báo cho các lực lượng có liên quan trong khu vực phòng thủ.
Phối hợp với các lực lượng giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khu vực phòng thủ theo quy định của pháp luật; thực hiện các quy định về công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ; xây dựng cơ quan, đơn vị an toàn, vững mạnh toàn diện.
Đối với cấp tỉnh, huyện có biển, đảo: chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan tham mưu cho chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện huy động nhân lực, tầu thuyền và phương tiện dân sự tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền các vùng biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bội đội chủ lực đóng quân trong khu vực phòng thủ
Nắm chắc tình hình ở khu vực được phân công, chú ý các địa bàn trọng điểm về quốc phòng - an ninh; phối hợp với công an, dân quân tự vệ và các lực lượng có liên quan xử lý các tình huống về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội theo đúng chức năng, quyền hạn và báo cáo cấp trên theo quy định.
Phối hợp với các lực lượng có liên quan tổ chức tuần tra, cảnh giới nắm địch; tổ chức lực lượng trực sẵn sàng chiến đấu theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Thực hiện các quy định về công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ.
Bộ đội Biên phòng
Chủ trì xây dựng kế hoạch bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới trên đất liền, biển, đảo; nắm chắc tình hình an ninh khu vực biên giới trên đất liền, biển, đảo báo cáo cấp trên và cấp uỷ, chính quyền địa phương, thông báo cho các cơ quan liên quan trong khu vực phòng thủ; tham mưu giúp chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và chủ trì phối hợp với các lực lượng vũ trang, các lực lượng khác xử lý các tình huống, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên khu vực biên giới, đất liền, biển, đảo.
Tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện; thực hiện các quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chăm lo xây dựng cơ quan, đơn vị an toàn.
Các ngành, cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện
 Tổ chức hệ thống trực để nắm tình hình về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xử lý các tình huống theo chức năng, quyền hạn, báo cáo uỷ ban nhân dân cùng cấp và cơ quan ngành dọc cấp trên, bảo đảm mạng thông tin liên lạc thông suốt.
Chủ trì phối hợp với cơ quan quân sự cấp tỉnh, huyện xây dựng kế hoạch động viên quốc phòng theo quy định của chính phủ về động viên quốc phòng, kế hoạch bảo đảm hoạt động tác chiến khu vực phòng thủ, kế hoạch chiến đấu bảo vệ cơ quan, tổ chức và các kế hoạch hoạt động khác của ngành liên quan đến khu vực phòng thủ.
Phối hợp với cơ quan quân sự cấp tỉnh, huyện tổ chức kiểm tra, huấn luyện, diễn tập. Cùng lực lượng vũ trang và các lực lượng khác thực hiện xây dựng và hoạt động tác chiến trong khu vực phòng thủ.
b) Hoạt động của các lực lượng ở trạng thái có tình huống
Là hoạt động của các lực lượng khi xảy ra bạo loạn chính trị, hoặc bạo loạn vũ trang trong khu vực phòng thủ.
Khi xảy ra bạo loạn chính trị:
+ Công an địa phương
Nắm chắc nguyên nhân, quy mô và diễn biến của bạo loạn chính trị, kịp thời báo cáo cấp uỷ, chính quyền cùng cấp và cấp trên.
Tham gia sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Chủ trì phối hợp với Quân đội, dân quân tự vệ và các lực lượng có liên quan trên địa bàn thực hiện các biện pháp đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
+ Ban chỉ huy quân sự xã (phường); ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức
Chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự cấp xã, ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở chỉ huy dân quân tự vệ nắm chắc tình hình; phối hợp cùng trưởng công an cấp xã tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền cấp xã, người đứng đầu cơ quan, tổ chức ở cơ sở về chủ trương và các biện pháp xử lý theo kế hoạch, đồng thời đề xuất kế hoạch phối hợp hoạt động với quân đội, công an và các lực lượng khác đến tăng cường, chi viện theo quy định của pháp luật.
+ Cơ quan quân sự cấp tỉnh, cấp huyện
Thực hiện chế độ sẵn sàng chiến đấu tăng cường theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nắm chắc diễn biến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn báo cáo cấp uỷ, chính quyền cùng cấp và cấp trên. Tham gia sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Chỉ huy lực lượng vũ trang thuộc quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn phối hợp với công an địa phương và các lực lượng có liên quan trên địa bàn thực hiện các biện pháp đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
+ Bộ đội Biên phòng
Thực hiện chế độ sẵn sàng chiến đấu tăng cường theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; nắm chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới đất liền, biển, đảo, báo cáo với cấp uỷ, chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện và cấp trên. Tham gia sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn phối hợp với công an địa phương và các lực lượng có liên quan trên địa bàn thực hiện các biện pháp đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
+ Bộ đội chủ lực đóng quân trong khu vực phòng thủ
Chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Tăng cường các hoạt động quân báo trinh sát để nắm tình hình địch trên tuyến biên giới, trên không, trên biển, nội, ngoại biên, đánh giá, báo cáo kịp thời, bổ sung, điều chỉnh quyết tâm, kế hoạch, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu cho đơn vị.
Sẵn sàng hỗ trợ lực lượng công an, dân quân tự vệ và các lực lượng khác trên địa bàn, thực hiện các biện pháp đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội khi có lệnh của cấp có thẩm quyền.
+ Các ngành, cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện
Bổ sung lực lượng, phương tiện để nắm tình hình và xử lý các tình huống theo chức năng, quyền hạn; rà soát, điều chỉnh, bổ sung kế hoạch động viên quốc phòng và kế hoạch bảo đảm hoạt động tác chiến khu vực phòng thủ của cơ quan, ngành báo cáo chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp phê duyệt.
Chuẩn bị các điều kiện để sẵn sàng chuyển các hoạt động của cơ quan, ngành sang bảo đảm nhu cầu quốc phòng, nhiệm vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị sơ tán một số bộ phận quan trọng của cơ quan ngành trong vùng bị uy hiếp ra khu vực an toàn theo kế hoạch. Triển khai lực lượng, phương tiện bảo đảm duy trì hoạt động thường xuyên, liên tục trong thời gian có tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Khi xảy ra bạo loạn vũ trang:
+ Công an địa phương
Chủ trì phối hợp với cơ quan quân sự cùng cấp, cơ quan (đồn, trạm) bộ đội biên phòng (nếu có) nắm chắc diễn biến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội báo cáo cấp uỷ, chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện và công an cấp trên đồng thời đề xuất kế hoạch phối hợp hoạt động chống bạo loạn vũ trang với các lực lượng đến tăng cường, chi viện theo quy định của pháp luật.
Chủ trì phối hợp với quân đội, dân quân tự vệ và các lực lượng có liên quan trên địa bàn tiêu diệt lực lượng bạo loạn có vũ trang và thực hiện các biện pháp đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Tăng cường lực lượng giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các khu vực chưa xảy ra bạo loạn.
Khi xảy ra bạo loạn có vũ trang do lực lượng phản động tại chỗ tiến hành, trưởng công an cấp xã chủ trì, phối hợp với chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự cấp xã, ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở, chỉ huy tự vệ trên địa bàn và người đứng đầu các ban, ngành, đoàn thể tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền cấp xã, người đứng đầu cơ quan, tổ chức ở cơ sở về chủ trương và các biện pháp xử lý tình huống theo kế hoạch, đồng thời đề xuất kế hoạch phối hợp hoạt động với quân đội, công an và các lực lượng khác đến tăng cường, chi viện theo quy định của pháp luật.
Phối hợp với lực lượng dân quân tự vệ và các lực lượng khác trên địa bàn trấn áp, bắt giữ, tiêu diệt đối tượng chủ mưu, cầm đầu và lực lượng bạo loạn có vũ trang, tuần tra, bảo vệ các mục tiêu được phân công; tham gia khắc phục hậu quả ổn định tình hình.
+ Ban chỉ huy quân sự xã (phường); ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức
Chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự cấp xã, ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở phối hợp với trưởng công an cấp xã và người đứng đầu các ban, ngành, đoàn thể tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền cấp xã, người đứng đầu cơ quan, tổ chức ở cơ sở về chủ trương và các biện pháp xử lý tình huống theo kế hoạch, đồng thời xây dựng kế hoạch và chỉ huy lực lượng thuộc quyền phối hợp với lực lượng cấp trên hoạt động trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
Phối hợp với lực lượng công an cấp xã tuần tra, chốt chặn các đầu mối giao thông quan trọng; bảo vệ các mục tiêu được giao; hỗ trợ lực lượng công an để cô lập, trấn áp, bắt giữ đối tượng chủ mưu, cầm đầu. Tiêu diệt lực lượng bạo loạn vũ trang trong nội địa, đánh chiếm lại các mục tiêu đã bị mất, tham gia giải quyết hậu quả, ổn định tình hình.
Khi có can thiệp bằng hoạt động vũ trang của lực lượng thù địch từ bên ngoài hỗ trợ cho lực lượng phản động nội địa, chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự cấp xã, ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở chỉ huy  lực lượng thuộc quyền phối hợp với các đơn vị quân đội, công an ngăn chặn, tiêu diệt theo nhiệm vụ được giao.
+ Cơ quan quân sự cấp tỉnh, cấp huyện
Thực hiện chế độ sẵn sàng chiến đấu tăng cường theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Đề xuất với sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội phương án xử lý các tình huống bạo loạn có vũ trang, chỉ huy lực lượng thuộc quyền phối hợp với các lực lượng có liên quan trên địa bàn tiêu diệt lực lượng bạo loạn vũ trang của địch và thực hiện các biện pháp đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; sẵn sàng tiêu diệt lực lượng địch từ bên ngoài xâm nhập, tiến công vào khu vực phòng thủ; tham gia khắc phục hậu quả, ổn định tình hình.
+ Bộ đội Biên phòng
Tăng cường các biện pháp nắm chắc tình hình an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội trên khu vực biên giới, đất liền, biển, đảo; tình hình địch ngoại biên báo cáo với cấp uỷ, chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện và cấp trên; chỉ huy lực lượng thuộc quyền phối hợp với các lực lượng có liên quan tiêu diệt lực lượng bạo loạn vũ trang và thực hiện các biện pháp đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội  theo quy định của pháp luật.
Phát hiện kịp thời các lực lượng thù địch từ bên ngoài móc nối, chi viện cho bọn bạo loạn trong nội địa hoặc can thiệp vũ trang vào khu vực phòng thủ, thông báo cho các lực lượng có liên quan; phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, bộ đội chủ lực (nếu có) và các lực lượng khác sẵn sàng tiêu diệt lực lượng địch từ bên ngoài xâm nhập, tiến công vào khu vực phòng thủ; tham gia khắc phục hậu quả, ổn định tình hình.
+ Bộ đội chủ lực đóng quân trong khu vực phòng thủ
Thực hiện chế độ sẵn sàng chiến đấu tăng cường theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
Nắm chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân, đánh giá, báo cáo kịp thời lên cấp trên; bổ sung, điều chỉnh quyết tâm, kế hoạch, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu cho đơn vị.
Sẵn sàng hỗ trợ các lực lượng trên địa bàn thực hiện các biện pháp đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp luật khi có lệnh của cấp có thẩm quyền; phối hợp với bộ đội biên phòng, dân quân tự vệ và các lực lượng khác tiêu diệt lực lượng vũ trang địch xâm nhập, tiến công từ bên ngoài vào hỗ trợ lực lượng bạo loạn trong khu vực phòng thủ.
+ Các ngành, cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện
Hiệp đồng với chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực sẵn sàng thực hiện lệnh động viên quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật theo kế hoạch; thực hiện kế hoạch mở rộng quy mô lực lượng tự vệ theo lệnh của cấp có thẩm quyền và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.
Dưới sự chỉ đạo, điều hành của sở chỉ huy trình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội duy trì các hoạt động của ngành theo quy định.
c) Hoạt động của các lực lượng ở trạng thái khẩn cấp
Cơ quan quân sự cấp tỉnh, cấp huyện
Tham gia sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thành phần tham gia gồm chỉ huy trưởng, phó chỉ huy trưởng - tham mưu trưởng bộ chỉ huy quân sự tỉnh.
Nhiệm vụ, quyền hạn của chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh: Thực hiện nhiệm vụ được sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng giao. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan cùng cấp tham mưu cho người đứng đầu sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thi hành nhiệm vụ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang thuộc quyền; ra lệnh áp dụng những biện pháp đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng. Nắm chắc tình hình, thực hiện lệnh chuyển lực lượng vũ trang thuộc quyền lên trạng thái sẵn sàng chiến đấu tương ứng theo quy định của Bộ Quốc phòng; chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang thuộc quyền, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng khác trong địa bàn thực hiện các biện pháp chống địch bao vây, phong toả, xâm nhập, lấn chiếm biên giới, hải đảo, tập kích hoả lực, các hoạt động chống phá trong nội địa, bảo vệ các mục tiêu, sẵn sàng đối phó với chiến tranh có thể xảy ra. Tổ chức kiểm tra và triển khai lực lượng, phương tiện cần thiết theo các phương án tác chiến đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Thường xuyên nắm chắc tình hình, kịp thời báo cáo, đề xuất với người chỉ huy và cơ quan cấp trên về tăng cường lực lượng, phương tiện, vũ khí, trang bị đến nơi cần thiết trong địa bàn để xử lý những tình huống vượt quá khả năng của địa phương.
Chủ trì phối hợp với công an cấp tỉnh, bộ chỉ huy bộ đội biên phòng (nếu có), các ngành có liên quan thuộc uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện nhiệm vụ được sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng giao theo quy định của pháp luật.
Chỉ huy các lực lượng vũ trang thuộc quyền phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng trong khu vực phòng thủ thực hiện các biện pháp trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh thiết quân luật, lệnh giới nghiêm theo quy định.
Bộ đội Biên phòng
Thực hiện chế độ sẵn sàng chiến đấu cao theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Tham gia sở chỉ huy trình trạng khẩn cấp về quốc phòng: khi có lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khu vực biên giới, biển, đảo hoặc những nơi có liên quan đến hoạt động của Bộ đội Biên phòng và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ hoặc Ban chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng thì chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng tham gia sở chỉ huy. Nhiệm vụ, quyền hạn của chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng thực hiện theo nhiệm vụ sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng giao.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ đội Biên phòng phối hợp, hiệp đồng với các lực lượng khác trong khu vực phòng thủ thực hiện các biện pháp đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh thiết quân luật, lệnh giới nghiêm theo quy định.
Bộ đội chủ lực đóng quân trên địa bàn
Thực hiện chế độ sẵn sàng chiến đấu cao theo quy định của bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Thực hiện các biện pháp trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thiết quân luật, giới nghiêm và những việc cần làm ngay khi bãi bỏ lệnh thiết quân luật theo quy định.
Công an địa phương
Phối hợp với cơ quan quân sự cấp tỉnh, cấp huyện, cơ quan (đồn, trạm) Bộ đội Biên phòng (nếu có), các ngành có liên quan thuộc uỷ ban nhân dân cùng cấp và các lực lượng khác trong khu vực phòng thủ thực hiện áp dụng các biện pháp đặc biệt khi có tình hình đe doạ nghiêm trọng an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
Chủ trì, phối hợp với cơ quan quân sự tỉnh, huyện, bộ đội biên phòng (nếu có) tiếp tục duy trì các biện pháp cần thiết để giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; chỉ đạo cơ quan chức năng thuộc quyền tiếp nhận, xử lý theo thẩm quyền những người bị bắt, giữ, tạm giam theo quy định.
Chỉ đạo lực lượng nghiệp vụ thường xuyên, cung cấp tình hình cho cơ quan quân sự và cấp trên về những hoạt động chống phá của bọn phản động nội địa hoặc các hoạt động can thiệp từ bên ngoài để có biện pháp xử lý thích hợp.
Ban chỉ huy quân sự xã (phường), ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức
Thực hiện các biện pháp giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở khi cơ sở chuyển vào tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.
Bảo vệ các mục tiêu quan trọng như: cơ quan đầu não, cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, địa phương; các sân bay, bến cảng, trung tâm thông tin, tài chính ngân hàng, các công trình quân sự, các đầu mối giao thông quan trọng trên địa bàn.
Phối hợp chặt chẽ với công an, các lực lượng khác trong khu vực có tình trạng khẩn cấp về quốc phòng tuần tra, canh gác nắm chắc địa bàn, phát hiện mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch để báo cáo, tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền cùng lực lượng công an bắt giữ, trấn áp ổn định tình hình.
Hoạt động của các ngành, cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện
+ Kế hoạch và đầu tư
Tham gia sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng. Đề xuất với chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp giải pháp điều chỉnh kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương phù hợp với trạng thái khẩn cấp về quốc phòng, phối hợp với cơ quan quân sự cùng cấp hướng dẫn các ngành, cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, huyện, rà soát, điều chỉnh, bổ sung hệ thống kế hoạch động viên quốc phòng.
Triển khai những nội dung thuộc ngành quản lý, thực hành các biện pháp thi hành lệnh ban bố hoặc bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh ban bố hoặc bãi bỏ thiết quân luật, lệnh ban bố hoặc bãi bỏ giới nghiêm; rà soát, điều chỉnh, bổ sung kế hoạch chuyển địa phương sang thời chiến
+ Tài chính
Chỉ đạo việc kiểm tra nguồn tài chính dự trữ của địa phương, báo cáo chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp và ngành dọc cấp trên; đề xuất với chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp về sử dụng ngân sách chi cho nhiệm vụ quốc phòng trong trạng thái khẩn cấp về quốc phòng; ưu tiên cho nhiệm vụ động viên quốc phòng.
Chủ trì phối hợp với ngành kế hoạch và đầu tư, các ngành có liên quan, định giá trưng mua một số mặt hàng phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng và báo cáo uỷ ban nhân dân cùng cấp phê duyệt; tổng hợp tình hình thu, chi ngân sách khi địa phương thi hành trạng thái khẩn cấp về quốc phòng đề xuất với uỷ ban nhân dân cùng cấp phương án khắc phục.
+ Văn hoá - thể thao và du lịch
Tuyên truyền, cổ động mọi tầng lớp nhân dân chấp hành và thực hiện nghiêm lệnh ban bố hoặc bãi bỏ tình trạng khẩn cấp, lệnh ban bố hoặc bãi bỏ thiết quân luật, lệnh ban bố hoặc bãi bỏ giới nghiêm; đề xuất với uỷ ban nhân dân cùng cấp phương thức, biện pháp tổ chức các hoạt động văn hoá - thể thao và du lịch khi địa phương chuyển vào trạng thái khẩn cấp về quốc phòng.
Chủ trì phối hợp với các ngành có liên quan quản lý chặt chẽ hoạt động văn hoá -  thể thao và du lịch ở địa phương thực hiện nghiêm các quy định về hoạt động văn hoá - thể thao và du lịch trong thi hành lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh thiết quân luật, lệnh giới nghiêm.
+ Thông tin và truyền thông
Tham gia sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.
Chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan quản lý chặt chẽ các hoạt động thông tin và truyền thông ở địa phương trong trạng thái khẩn cấp về quốc phòng; chỉ đạo, hướng dẫn các doanh nghiệp, bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin trong khu vực phòng thủ phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thông tin liên lạc của quân đội, công an và các cơ quan, đơn vị liên quan bảo đảm thông tin liên lạc kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn, vững chắc cho sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng chỉ đạo, chỉ huy, điều hành các lực lượng trong khu vực phòng thủ thi hành lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh thiết quân luật, lệnh giới nghiêm.
+ Giao thông vận tải
Đề xuất với uỷ ban nhân dân cùng cấp trưng mua, trưng dụng một số phương tiện giao thông vận tải cần thiết phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng trong trạng thái khẩn cấp về quốc phòng theo đề nghị của cơ quan quân sự cấp tỉnh, cấp huyện; tham mưu cho uỷ ban nhân dân cùng cấp các biện pháp triển khai lực lượng, phương tiện giao thông vận tải và các phương tiện khác do ngành quản lý bảo đảm giao thông vận tải thi hành lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh thiết quân luật, lệnh giới nghiêm trong khu vực phòng thủ.
Chủ trì phối hợp với lực lượng công binh, vận tải quân sự và lực lượng các ngành có liên quan ở địa phương trong bảo đảm giao thông vận tải cho các lực lượng hoạt động trong khu vực phòng thủ theo chỉ đạo, điều hành của sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; tập trung bảo đảm giao thông vận tải cho hoạt động của các lực lượng vũ trang trong khu vực phòng thủ thi hành lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh thiết quân luật, lệnh giới nghiêm.
+ Công thương
Chỉ đạo các cơ quan, công ty, nhà máy, xí nghiệp thuộc ngành quản lý chấp hành nghiêm các quy định khi địa phương thi hành lệnh chuyển vào trạng thái khẩn cấp về quốc phòng; tham mưu cho uỷ ban nhân dân cùng cấp các biện pháp triển khai động viên công nghiệp, thương mại phục vụ các lực lượng trong khu vực phòng thủ thi hành lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh thiết quân luật, lệnh giới nghiêm; kiểm tra kế hoạch sơ tán những bộ phận, cơ sở ở khu vực bị uy hiếp chuyển đến nơi an toàn và thực hiện chuyển đổi sản xuất, cung ứng hàng hoá của một số nhà máy, xí nghiệp, công ty sang phục vụ nhu cầu quốc phòng.
Chủ trì phối hợp với lực lượng hậu cần - kỹ thuật quân sự và lực lượng các ngành có liên quan ở địa phương trong sản xuất, cung ứng các mặt hàng phục vụ cho các lực lượng hoạt động trong khu vực phòng thủ theo chỉ đạo của sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; tập trung bảo đảm cho hoạt động của các đơn vị lực lượng vũ trang trong khu vực phòng thủ thi hành ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh thiết quân luật, lệnh giới nghiêm.
+ Lao động - thương binh và xã hội
Kiểm tra kế hoạch bảo đảm nhân lực phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, chủ trì phối hợp với các ngành có liên quan đề xuất với uỷ ban nhân dân cùng cấp về huy động nhân lực theo yêu cầu của cấp trên và địa phương; chỉ đạo công chức, viên chức thuộc quyền theo dõi việc thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với các lực lượng làm nhiệm vụ trong trạng thái khẩn cấp về quốc phòng theo chỉ đạo, điều hành của sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; tập trung bảo đảm chế độ, chính sách cho các đơn vị lực lượng vũ trang trong khu vực phòng thủ thi hành lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh giới nghiêm, lệnh thiết quân luật.
+ Y tế
Đề xuất với uỷ ban nhân dân cùng cấp kế hoạch bảo đảm y tế trong trạng thái khẩn cấp về quốc phòng; chỉ đạo các đơn vị y tế, công chức, viên chức thuộc quyền và cơ quan ngành dọc cấp dưới chấp hành lệnh động viên y tế cho nhiệm vụ quốc phòng.
Chủ trì phối hợp với lực lượng quân y của quân đội bảo đảm chăm sóc sức khoẻ đối với nhân dân và các lực lượng trong khu vực phòng thủ theo chỉ đạo điều hành của sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; tập trung bảo đảm y tế cho các đơn vị lực lượng vũ trang trên địa bàn thi hành lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh thiết quân luật, lệnh giới nghiêm.
+ Các ngành, cơ quan chuyên môn khác
Đề xuất với uỷ ban nhân dân cùng cấp những biện pháp duy trì các hoạt động của ngành, cơ quan chuyên môn trong trạng thái khẩn cấp về quốc phòng, chủ động nắm tình hình, giải quyết có hiệu quả các tình huống theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định.
Tham gia các hoạt động giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, theo hướng dẫn của cơ quan công an, cơ quan quân sự cùng cấp; chấp hành lệnh động viên quốc phòng đối với ngành (nếu có).
d) Hoạt động của các lực lượng ở trạng thái thời chiến
Cơ quan quân sự cấp tỉnh, cấp huyện
Thực hiện chế độ sẵn sàng chiến đấu toàn bộ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Chủ trì phối hợp với công an địa phương, cơ quan, (đồn, trạm) biên phòng (nếu có) và các ban, ngành, đoàn thể tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện kế hoạch, phương án tác chiến khu vực phòng thủ; thực hiện lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ của cấp có thẩm quyền, tiếp nhận lực lượng dự bị động viên theo kế hoạch để mở rộng quy mô lực lượng thường trực cho các đơn vị bộ đội địa phương; phối hợp với các ngành cùng cấp kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung kế hoạch động viên quốc phòng theo quy định; kế hoạch bảo đảm tác chiến khu vực phòng thủ, kế hoạch chiến đấu bảo vệ cơ quan, tổ chức.
Phối hợp với công an địa phương và các lực lượng khác trên địa bàn nắm chắc tình địch, kịp thời phát hiện, tiêu diệt lực lượng bạo loạn vũ trang giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Chỉ huy trưởng cơ quan quân sự cấp tỉnh, cấp huyện chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang của khu vực phòng thủ, phối hợp với các lực lượng khác sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu đánh bại địch tiến công vào khu vực phòng thủ; hướng dẫn và bảo vệ nhân dân phòng tránh, sơ tán.
Bộ đội Biên phòng
Thực hiện chế độ sẵn sàng chiến đấu toàn bộ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Chủ trì phối hợp với cơ quan quân sự cấp tỉnh, cấp huyện và các ngành có liên quan tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương kế hoạch tác chiến bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới trên đất liền, biển, đảo; thực hiện lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ của cấp có thẩm quyền, tiếp nhận lực lượng dự bị động viên theo kế hoạch để mở rộng lực lượng cho các đơn vị Bộ đội biên phòng.
Thực hiện các biện pháp nắm chắc tình hình địch trên khu vực biên giới đất liền. biển, đảo, ngoại biên, báo cáo cấp uỷ, chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện, cơ quan Bộ đội biên phòng cấp trên và thông báo cho các lực lượng có liên quan trong khu vực phòng thủ.
Triển khai lực lượng theo phương án tác chiến, phối hợp với các lực lượng vũ trang trên địa bàn ngăn chặn, đẩy lùi, đánh bại lực lượng địch tiến công vào khu vực phòng thủ.
Bộ đội chủ lực đóng quân trong khu vực phòng thủ
Thực hiện chế độ sẵn sàng chiến đấu toàn bộ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Tiếp nhận lực lượng dự bị động viên theo kế hoạch, ổn định tổ chức biên chế; tổ chức huấn luyện bổ sung, sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu.
Phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương và các lực lượng có liên quan nắm địch; tuần tra, cảnh giới, phát hiện kịp thời các âm mưu gây rối, bạo loạn và các hành động đột nhập, lấn chiếm, xâm lược của địch. Triển khai lực lượng, phương án tác chiến phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương ngăn chặn, đẩy lùi, đánh bại lực lượng địch tiến công vào khu vực phòng thủ.
Các cơ quan, đơn vị chưa trực tiếp chiến đấu tiếp tục công tác, học tập, huấn luyện, sản xuất, sinh hoạt theo chương trình thời chiến và sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu.
Ban chỉ huy quân sự xã (phường); ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức
Thực hiện chế độ sẵn sàng chiến đấu toàn bộ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Phối hợp với công an giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội theo quy định:
Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp xã, Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở phối hợp với trưởng công an cấp xã xây dựng kế hoạch giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội  trên địa bàn.
Phối hợp với lực lượng công an thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an an toàn xã hội khu căn cứ hậu phương, căn cứ chiến đấu trong khu vực phòng thủ; hệ thống kho tàng, công trình, nơi sơ tán của nhân dân và các mục tiêu khác; phối hợp với các lực lượng trên địa bàn ngăn chặn, âm mưu, thủ đoạn của lực lượng phản động ở địa phương móc nối với lực lượng thù địch bên ngoài để gây bạo loạn, lật đổ.
Chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự cấp xã, ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở chỉ huy lực lượng thuộc quyền phối hợp với các lực lượng tiêu diệt biệt kích, thám báo và các phương tiện của địch xâm nhập vào địa bàn.
- Công an địa phương
Dưới sự chỉ đạo của chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, công an cấp trên, phối hợp với cơ quan quân sự cùng cấp và các cơ quan có liên quan trên địa bàn thực hiện các quy định của Chính phủ về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng.
Các ngành, cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện:
+ Kế hoạch đầu tư
Chủ trì phối hợp với các ngành liên quan chuẩn bị nội dung, giải pháp chuyển hoạt động kinh tế - xã hội của địa phương sang thời chiến, báo cáo chủ tịch uỷ ban nhân dân, trình hội đồng nhân dân cùng cấp; điều chỉnh bổ sung kế hoạch bảo đảm nhu cầu quốc phòng năm đầu chiến tranh, kế hoạch chuyển địa phương sang thời chiến theo nghị quyết của hội đồng nhân dân; phối hợp với cơ quan quân sự cùng cấp chuẩn bị nội dung cho chủ tịch uỷ ban nhân dân giao nhiệm vụ, tổ chức hiệp đồng về công tác bảo đảm cho tác chiến khu vực phòng thủ.
Triển khai nội dung thuộc ngành quản lý trong trạng thái thời chiến; thực hiện các biện pháp chuyển nền kinh tế quốc dân của địa phương sang bảo đảm nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu và đáp ứng các nhu cầu quốc phòng trong thời chiến.
+ Tài chính
Phối hợp với cơ quan kế hoạch và đầu tư chuẩn bị nội dung về việc thu, chi kinh phí trong thời chiến, báo cáo chủ tịch uỷ ban nhân dân, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Thực hiện các biện pháp bảo đảm kinh phí cho nhiệm vụ chuyển địa phương sang thời chiến, ưu tiên kinh phí cho các lực lượng hoạt động bảo vệ khu vực phòng thủ trong trạng thái thời chiến.
+ Thông tin và truyền thông
Chủ trì tổ chức phối hợp hệ thống thông tin của ngành với hệ thống thông tin của các cơ quan, ban, ngành trên địa bàn để bảo đảm cho nhiệm vụ quốc phòng; điều chỉnh kế hoạch thông tin và truyền thông kịp thời bảo đảm huy động nhân lực, trang thiết bị, mạng lưới thông tin và truyền thông của các cơ quan, doanh nghiệp thuộc ngành trên địa bàn phục vụ tác chiến phòng thủ.
Phối hợp với lực lượng thông tin quân sự, tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn, vững chắc cho lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy trong quá trình chuyển địa phương sang thời chiến, tổ chức chuẩn bị và thực hành tác chiến phòng thủ; có biện pháp chống tác chiến điện tử của địch.
+ Giao thông vận tải
Điều chỉnh kế hoạch giao thông vận tải bảo đảm cho nhiệm vụ quốc phòng và các hoạt động của địa phương trong thời chiến; tổ chức lực lượng, phương tiện giao thông vận tải bảo đảm cho các lực lượng tác chiến phòng thủ.
Phối hợp với lực lượng công binh, vận tải quân sự lực lượng các ngành có liên quan ở địa phương và lực lượng, phương tiện giao thông vận tải của cấp trên, địa phương bạn tăng cường, chi viện bảo đảm giao thông vận tải cho các lực lượng hoạt động trong khu vực phòng thủ theo chỉ đạo, điều hành của chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp; tập trung bảo đảm giao thông vận tải cho hoạt động của lực lượng vũ trang trong khu vực phòng thủ.
+ Xây dựng
Điều chỉnh kế hoạch xây dựng trong thời chiến, ưu tiên cho nhiệm vụ quốc phòng; chỉ đạo ngành xây dựng thi công các công trình quốc phòng, quân sự bảo đảm cho tác chiến phòng thủ.
Phối hợp với lực lượng công binh quân sự, lực lượng xây dựng của các ngành có liên quan ở địa phương và lực lượng, phương tiện của cấp trên, địa phương bạn tăng cường, chi viện trong xây dựng, thi công các công trình quốc phòng, quân sự bảo đảm cho sinh hoạt, hoạt động bảo vệ khu vực phòng thủ của nhân dân và lực lượng vũ trang theo chỉ đạo, điều hành của chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp.
+ Công thương
Điều chỉnh kế hoạch bảo đảm công thương trong thời chiến, ưu tiên cho nhiệm vụ quốc phòng.
Phối hợp với lực lượng hậu cần - kỹ thuật quân sự của các ngành có liên quan ở địa phương và lực lượng, phương tiện của cấp trên, địa phương bạn tăng cường, chi viện trong sản xuất, sửa chữa trang bị, vũ khí bảo đảm cho lực lượng vũ trang tác chiến phòng thủ; cung ứng các mặt hàng thiết yếu để bảo đảm sinh hoạt, đời sống của nhân dân và lực lượng vũ trang trong khu vực phòng thủ theo chỉ đạo, điều hành của chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp.
+ Lao động - thương binh và xã hội
Phối hợp với các ngành có liên quan tổ chức nguồn nhân lực bảo đảm cho nhiệm vụ quốc phòng và sản xuất trong thời chiến; chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các chính sách xã hội, ưu tiên cho nhiệm vụ quốc phòng.
Chủ trì phối hợp với ngành chính sách của quân đội, qông an và các ngành có liên quan ở địa phương trong bảo đảm chế độ, chính sách đối với các lực lượng làm nhiệm vụ tác chiến phòng thủ; tập trung bảo đảm chế độ, chính sách cho các lực lượng trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu bảo vệ khu vực phòng thủ.
+ Y tế
Điều chỉnh kế hoạch bảo đảm y tế thời chiến, ưu tiên cho nhiệm vụ quốc phòng, chỉ đạo các bệnh viện, cơ sở y tế thuộc ngành phối hợp với các cơ sở y tế của các ngành, các đơn vị quân y của quân đội trong bảo đảm y tế cho hoạt động tác chiến phòng thủ; chỉ đạo các cơ sở quân dân y kết hợp hoạt động hiệu quả trong khu vực phòng thủ.
Chủ trì phối hợp với lực lượng quân y quân sự trong khu vực phòng thủ bảo đảm chăm sóc sức khoẻ đối với nhân dân và các lực lượng làm nhiệm vụ tác chiến khu vực phòng thủ.
+ Các ngành, cơ quan chuyên môn khác
Điều chỉnh kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh trong khu vực phòng thủ của ngành, cơ quan chuyên môn cho phù hợp với trạng thái thời chiến của địa phương.
Phối hợp với quân đội, công an, dân quân tự vệ và các lực lượng trên địa bàn, theo chức năng, nhiệm vụ của ngành, cơ quan chuyên môn tập trung  bảo đảm hoạt động cho các lực lượng làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, chiến đấu bảo vệ khu vực phòng thủ.
3. Hoạt động của các sở, ban, ngành, trung ương trong khu vực phòng thủ ở các trạng thái quốc phòng
a) Trạng thái thường xuyên
Tổ chức hệ thống trực để nắm chắc tình hình về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; xử trí các tình huống theo chức năng, quyền hạn báo cáo lên lãnh đạo và cơ quan cấp trên; bảo đảm mạng thông tin liên lạc thông suốt.
Tổ chức xây dựng kế hoạch động viên quốc phòng; kiểm tra, huấn luyện, diễn tập động viên, sẵn sàng động viên theo kế hoạch.
b) Trạng thái có tình huống
Cả nước hoặc từng khu vực chuẩn bị thi hành lệnh động viên của Chủ tịch nước và mệnh lệnh động viên của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Các sở, ban, ngành, địa phương bổ sung lực lượng, phương tiện để nắm tình hình; phát hiện và xử trí các tình huống theo chức năng, quyền hạn, đồng thời báo cáo lên cấp trên; tăng cường mạng thông tin liên lạc bảo đảm cho chỉ huy, hiệp đồng, thông báo, báo động.
Thành lập sở chỉ huy thống nhất để chỉ đạo, điều hành chuyển trạng thái quốc phòng và xử trí các tình huống theo kế hoạch.
Rà soát, điều chỉnh, bổ sung kế hoạch động viên quốc phòng. Sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu theo kế hoạch.
Mở rộng lực lượng, cấp phát vũ khí, trang bị cho dân quân tự vệ, tổ chức lực lượng phòng không nhân dân thường trực sẵn sàng chiến đấu.
Chuẩn bị điều kiện để chuyển hoạt động xã hội, nền kinh tế quốc dân sang bảo đảm cho nhu cầu quốc phòng, nhiệm vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.
Chuẩn bị mọi điều kiện để khi có lệnh chuyển vào trạng thái khẩn cấp về quốc phòng, sơ tán, phân tán một bộ phận cơ quan, tổ chức, các cơ sở kinh tế then chốt và nhân dân nằm trong vùng bị uy hiếp ra khu vực an toàn theo kế hoạch.
c) Trạng thái khẩn cấp
Cả nước hoặc từng khu vực tổ chức thi hành quyết định ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh động viên, lệnh thiết quân luật của Chủ tịch nước, các quyết định của Chủ tịch Hội đồng quốc phòng - an ninh, mệnh lệnh động viên của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Các sở, ban, ngành, địa phương sử dụng toàn bộ lực lượng, phương tiện để nắm tình hình; xử trí các tình huống xảy ra theo đúng chức năng, quyền hạn đồng thời báo cáo lên cấp trên.
Tiến hành động viên theo kế hoạch. Triển khai lực lượng theo phương án tác chiến, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa bàn.
Sơ tán, phân tán một bộ phận cơ quan, tổ chức, các cơ sở kinh tế then chốt và nhân dân nằm trong vùng bị uy hiếp.
Tổ chức một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, của địa phương chuyển sang bảo đảm nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu và nhu cầu quốc phòng.
Tiếp tục mở rộng, cấp phát vũ khí, trang bị cho lực lượng dân quân tự vệ, tổ chức thành các lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Dân quân tự vệ ở khu vực biên giới, ven biển, hải đảo chuẩn bị chiến đấu theo phương án tác chiến của khu vực phòng thủ, tăng cường tuần tra canh gác bảo vệ cơ sở và địa bàn.
Chuẩn bị mọi điều kiện để khi Chủ tịch nước công bố quyết định tình trạng chiến tranh, di chuyển các cơ quan then chốt của chính quyền theo phương án tác chiến trong khu vực phòng thủ.
d) Trạng thái thời chiến
Cả nước hoặc từng khu vực tổ chức thực hiện  lệnh động viên của Chủ tịch nước, các quyết định của Chủ tịch Hội đồng quốc phòng - an ninh, mệnh lệnh động viên của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Các sở, ban, ngành, địa phương tổ chức theo dõi, tổng hợp diễn biến tình hình; xử trí các tình huống để bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn; sẵn sàng chiến đấu theo các phương án tác chiến.
Thực hiện động viên theo kế hoạch. Di chuyển các cơ quan then chốt của chính quyền theo phương án tác chiến của khu vực phòng thủ; tổ chức một bộ phận ở lại cơ quan, địa phương để lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng đánh địch bảo vệ địa bàn.
Tất cả lực lượng Dân quân tự vệ sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu theo kế hoạch, Đồng thời chuyển nền kinh tế quốc dân sang bảo đảm nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu và đáp ứng nhu cầu quốc phòng thời chiến.
4. Một số biện pháp cụ thể của các sở, ban, ngành, địa phương trong các trạng thái quốc phòng
a) Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh, ban chỉ huy quân sự cấp huyện
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực quốc phòng đối với hoạt động của các lực lượng ở các trạng thái quốc phòng. Chịu trách nhiệm trước chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện về hiệu quả sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của lực lượng vũ trang thuộc quyền ở các trạng thái quốc phòng.
Chủ trì phối hợp với sở kế hoạch và đầu tư hướng dẫn các cơ quan, tổ chức xây dựng hệ thống kế hoạch động viên quốc phòng, các kế hoạch có liên quan đến bảo đảm hoạt động quốc phòng - an ninh của các lực lượng ở các trạng thái quốc phòng.
Khi xảy ra tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, chủ trì phối hợp với sở công an đề xuất với uỷ ban nhân dân để chủ tịch ủy ban xem xét, quyết định trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện hoặc đề nghị chủ tịch ra lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.
Chủ trì hướng dẫn các cơ quan, tổ chức có liên quan, tổ chức đăng ký, quản lý huy động nhân lực, tầu thuyền và phương tiện dân sự tham gia đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền các vùng biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do địa phương quản lý.
Khi xảy ra tình huống chiến tranh chủ trì phối hợp với sở công an, các cơ quan, tổ chức tham mưu cho chính quyền địa phương các cấp chỉ đạo các ngành, các lực lượng thuộc quyền, nhanh chóng chuyển địa phương, các sở, ban, ngành từ thời bình sang thời chiến, động viên thời chiến; thực hiện các phương án tác chiến bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hàng năm phối hợp với các sở, ban ngành có liên quan tiến hành thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các trạng thái quốc phòng trong khu vực phòng thủ.
b) Sở công an
Thực hiện thống nhất quản lý hoạt động của các lực lượng trong khu vực phòng thủ ở các trạng thái quốc phòng về lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống âm mưu hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Chỉ đạo cơ quan công an các huyện, quận chủ trì phối hợp với cơ quan quân sự, các ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh, cấp huyện tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền cùng cấp xây dựng kế hoạch, phương án  và tổ chức thực hiện nhiệm vụ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
Chủ trì phối hợp với bộ chỉ huy quân sự tỉnh hướng dẫn các cơ quan, tổ chức ở địa phương trên địa bàn có tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội thực hiện các biện pháp đặc biệt đối với các thế lực thù địch, các cá nhân, tổ chức có hành vi hoạt động chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ vững chắc địa phương và cả nước.
Chỉ đạo cơ quan chức năng thuộc quyền và công an cấp huyện, quận tham gia xây dựng kế hoạch và tổ chức động viên quốc phòng ở các trạng thái quốc phòng.
Hằng năm phối hợp với bộ chỉ huy quân sự tỉnh các cơ quan, tổ chức có liên quan tiến hành thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ ở các trạng thái quốc phòng trong khu vực phòng thủ.
c) Sở Kế hoạch và đầu tư 
Trong phạm vi quản lý nhà nước của sở, hướng dẫn các cơ quan, tổ chức Trung ương, địa phương giải pháp chỉ đạo xây dựng, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn trong từng trạng thái quốc phòng.
Chủ trì phối hợp với bộ chỉ huy quân sự tỉnh hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, địa phương xây dựng kế hoạch động viên quốc phòng theo chỉ tiêu Chính phủ giao trong từng trạng thái quốc phòng; chỉ đạo ngành dọc cấp dưới tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền cùng cấp xây dựng kế hoạch huy động  nhân lực, tầu thuyền và phương tiện dân sự tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền các vùng biển Việt Nam; kế hoạch động viên quốc phòng; kế hoạch chuyển địa phương vào các trạng thái quốc phòng; kế hoạch bảo đảm nhu cầu quốc phòng năm đầu chiến tranh; kế hoạch giao nhiệm vụ, tổ chức hiệp đồng các lực lượng của khu vực phòng thủ và các kế hoạch khác có liên quan đến quốc phòng - an ninh thuộc chức năng nhiệm vụ của ngành.
Hằng năm phối hợp với bộ chỉ huy quân sự tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan tiến hành thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ ở các trạng thái quốc phòng.
d) Sở giao thông vận tải
Trong phạm vi quản lý nhà nước của sở, hướng dẫn các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển giao thông vận tải đồng bộ đáp ứng nhu cấu giao thông vận tải cho phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bảo đảm giao thông vận tải cho hoạt động của các lực lượng trong các trạng thái quốc phòng.
Phối hợp với bộ chỉ huy quân sự tỉnh hướng dẫn các cơ quan, tổ chức có liên quan, xây dựng, thực hiện quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển hệ thống giao thông vận tải cần ưu tiên; tập trung đầu tư xây dựng mạng lưới giao thông tại các khu vực phòng thủ then chốt, khu căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần - kỹ thuật, khu kinh tế - quốc phòng (nếu có) trong khu vực phòng thủ.
Phối hợp với bộ chỉ huy quân sự tỉnh tham mưu cho uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng kế hoạch động viên quốc phòng về lĩnh vực giao thông vận tải và thực hiện chế độ đăng ký, quản lý phương tiện giao thông thuộc diện huy động cho thực hiện các trạng thái quốc phòng.
đ) Sở thông tin và truyền thông
Trong phạm vi quản lý nhà nước của sở tham mưu cho địa phương xây dựng hệ thống thông tin và truyền thông dân sự kết hợp với hệ thống thông tin liên lạc của các lực lượng vũ trang trong khu vực phòng thủ, bảo đảm thông tin liên lạc kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn, vững chắc phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của các lực lượng trong khu vực phòng thủ ở các trạng thái quốc phòng.
Phối hợp với bộ chỉ huy quân sự tỉnh chỉ đạo các huyện, quận xây dựng kế hoạch, phương án bảo đảm thông tin liên lạc trong hoạt động của các lực lượng ở các trạng thái quốc phòng.
Chủ trì phối hợp với bộ chỉ huy quân sự tham mưu cho uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng kế hoạch động viên quốc phòng về lĩnh vực thông tin và truyền thông theo quy định.
e) Sở y tế
Trong phạm vi quản lý nhà nước của sở, hướng dẫn cơ quan, tổ chức có liên quan, các huyện, quận xây dựng hệ thống y tế dân sự kết hợp chặt chẽ với hệ thống y tế quân sự trên địa bàn cấp tỉnh, cấp huyện để từng bước hoàn chỉnh mạng lưới bảo đảm y tế cho các lực lượng của khu vực phòng thủ; chỉ đạo các cơ sở quân, dân y kết hợp trong hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân và các lực lượng ở các trạng thái quốc phòng.
Chủ trì phối hợp với bộ chỉ huy quân sự tỉnh tham mưu cho uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng kế hoạch động viên quốc phòng về lĩnh vực y tế và kế hoạch xây dựng lực lượng dự bị động viên ngành y tế theo quy định của pháp luật.
f) Các cơ quan, tổ chức khác
Trong phạm vi quản lý nhà nước của cơ quan, tổ chức, phối hợp với bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh, cấp huyện ban hành và trình uỷ ban nhân dân cùng cấp ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn về hoạt động của lực lượng thuộc quyền trong khu vực phòng thủ ở các trạng thái quốc phòng thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, tổ chức.
Chỉ đạo cơ quan ngành dọc cấp dưới phối hợp với cơ quan quân sự cùng cấp xây dựng, rà soát, điều chỉnh kế hoạch động viên quốc phòng theo quy định, kế hoạch bảo đảm hoạt động của khu vực phòng thủ thuộc lĩnh vực từng ngành trong các trạng thái quốc phòng, kế hoạch chiến đấu bảo vệ cơ quan, tổ chức; gắn kế hoạch hoạt động của từng ngành liên quan đến quốc phòng - an ninh với kế hoạch tác chiến phòng thủ của địa phương được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Định kỳ và thường xuyên phối hợp với bộ chỉ huy quân sự tỉnh thanh tra, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nhiệm vụ ở các trạng thái quốc phòng.
g) Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các hoạt động của lực lượng thuộc quyền trong khu vực phòng thủ ở các trạng thái quốc phòng. Chịu trách nhiệm trước Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về hiệu quả hoạt động các lực lượng của khu vực phòng thủ khi địa phương chuyển vào các trạng thái quốc phòng theo lệnh của cấp có thẩm quyền.
Chỉ đạo các cơ quan thuộc quyền xây dựng, điều chỉnh, bổ sung kế hoạch động viên quốc phòng; kế hoạch bảo đảm hoạt động các lực lượng của khu vực phòng thủ và kế hoạch khác có liên quan đến quốc phòng, an ninh cho phù hợp tình hình thực tế của địa phương ở từng trạng thái quốc phòng theo quy định của pháp luật.
Phối hợp với Bộ Quốc phòng, các cơ quan, tổ chức Trung ương liên quan đề xuất với Chính phủ cơ chế, chính sách, biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của các lực lượng thuộc quyền và các lực lượng khác trong khu vực phòng thủ khi địa phương chuyển vào các trạng thái quốc phòng.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn chỉ đạo các lực lượng thuộc quyền phối hợp với các lực lượng khác trong khu vực phòng thủ (nếu có) hoạt động giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng bảo vệ vững chắc khu vực phòng thủ.
Trong phạm vi, trách nhiệm tổ chức kiểm tra, huấn luyện, diễn tập về động viên quốc phòng, diễn tập nâng cao khả năng chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu cho các lực lượng khi địa phương chuyển vào các trạng thái quốc phòng; diễn tập huy động, bàn giao nhân lực, tầu thuyền và phương tiện của địa phương theo quyết định huy động của cấp có thẩm quyền.
Định kỳ và thường xuyên phối hợp với Bộ Quốc phòng, bộ tư lệnh quân khu tiến hành kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết hoạt động của các lực lượng thuộc quyền; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và xử lý các vi phạm theo quy định của pháp luật.
Phối hợp với mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia phối hợp hoạt động với lực lượng vũ trang và các lực lượng khác xử lý các tình huống về quốc phòng - an ninh ở các trạng thái quốc phòng.
II. TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP VỀ QUỐC PHÒNG
 Khi có Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội hoặc Lệnh của Chủ tịch nước ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương thì tất cả các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội, công dân Việt Nam, các tổ chức và cá nhân người nước ngoài đang cư trú, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có liên quan phải tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Lệnh của Chủ tịch nước về ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; trừ trường hợp Điều ước Quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó.
 1. Nguyên tắc tổ chức thi hành Nghị quyết, Lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng và sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân
 a) Nguyên tắc thi hành nghị quyết, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng
 Tuân thủ theo hiến pháp và pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, cơ quan, tổ chức và quần chúng nhân dân tham gia bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và lợi ích quốc gia, dân tộc.
 Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, quản lý thống nhất của Chính phủ, mệnh lệnh, chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
 Khi thi hành nghị quyết, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thiết quân luật, giới nghiêm, chủ tịch uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện theo cơ chế: cấp uỷ đảng lãnh đạo, uỷ ban nhân dân chỉ đạo, điều hành, cơ quan, ban, ngành làm tham mưu, chỉ huy trưởng cơ quan quân sự địa phương chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang.
 Nghiêm cấm lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành nhiệm vụ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
b) Nguyên tắc sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân
Việc sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân và việc áp dụng các biện pháp quân sự trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thiết quân luật, giới nghiêm được thực hiện theo quy định như sau:
Lực lượng vũ trang nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ
Việc sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân và áp dụng biện pháp quân sự trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng được thực hiện theo lệnh của Chủ tịch nước.
Trong trường hợp có thảm hoạ do thiên nhiên hoặc con người gây ra, dịch bệnh nguy hiểm hoặc tình hình đe doạ nghiêm trọng đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội thì việc điều động, sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp.
Khi chưa có lệnh của cấp có thẩm quyền và không có trong kế hoạch huấn luyện, diễn tập, sẵn sàng chiến đấu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người chỉ huy đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân không được tự ý điều động, sử dụng người, phương tiện, vũ khí, trang bị của đơn vị mình để tiến hành các hoạt động vũ trang.
c) Người chỉ huy đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân được điều động, sử dụng người, phương tiện, vũ khí, trang bị của đơn vị mình để tiến hành các hoạt động vũ trang khi có lệnh khẩn cấp, có thẩm quyền sau đây:
Lệnh của Chủ tịch nước, quyết định của Hội đồng quốc phòng và an ninh
Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc thi hành lệnh của Chủ tịch nước, quyết định của Hội đồng quốc phòng và an ninh.
Quyết định, chỉ thị, mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đối với lực lượng quân đội nhân dân và dân quân tự vệ; quyết định, chỉ thị, mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Công an đối với lực lượng công an nhân dân để thi hành lệnh của Chủ tịch nước và quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.
Quyết định, chỉ thị, mệnh lệnh của Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đối với lực lượng thuộc quân đội nhân dân và dân quân tự vệ; quyết định, chỉ thị, chỉ lệnh của Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Tổng cục Cảnh sát, Tổng cục Tình báo đối với lực lượng công an nhân dân trong việc thi hành các quyết định, chỉ thị, mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Công an.
Quyết định, chỉ thị, chỉ lệnh của Chủ nhiệm các Tổng cục, Tư lệnh quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng trong thực hiện quyết định, chỉ thị, mệnh lệnh của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Lệnh của người chỉ huy trực tiếp các đơn vị lực lượng vũ trang trong việc thi hành các quyết định, chỉ thị, mệnh lệnh, lệnh, chỉ lệnh của cấp có thẩm quyền.
 2. Thông báo quyết định, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng
 Thông báo quyết định, lệnh ban bố hoặc bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh thiết quân luật, lệnh giới nghiêm phải được thông báo trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương nơi có tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thiết quân luật, giới nghiêm để mọi tổ chức, cá nhân biết và thực hiện.
Tuy nhiên nội bộ phải triển khai trước, trước khi thông báo trên các phương tiện thông tin; đồng thời phải có hệ thống văn bản, mệnh lệnh, chỉ thị gửi xuống theo hệ thống dọc.
Việc đưa tin, truyền tin, tuyên truyền tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thiết quân luật, giới nghiêm thực hiện theo các quy định sau đây:
Quyết định tuyên bố hoặc bãi bỏ tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh tổng động viên, động viên cục bộ, thiết quân luật được truyền đạt qua các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống thông tin liên lạc hiện hành của Nhà nước và hệ thống thông báo, báo động của Bộ Quốc phòng.
Mệnh lệnh động viên và mệnh lệnh chuyển các Bộ, ngành, địa phương vào hoặc ra khỏi tình trạng khẩn cấp về quốc phòng của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng được truyền đạt qua hệ thống thông báo, báo động của Bộ Quốc phòng.
Lệnh giới nghiêm được truyền đạt qua các phương tiện thông tin hiện có của địa phương nơi thực hiện lệnh và các hình thức thông tin khác.
Các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo các cơ quan truyền thanh, truyền hình, thông tấn, báo trí và các cơ quan chức năng khác thuộc quyền thực hiện việc truyền đạt quyết định, mệnh lệnh, lệnh theo quy định.
 3. Tổ chức thi hành nghị quyết, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng
 a) Ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng
 Việc ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng được thực hiện:
 Khi xảy ra tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc từng địa phương.
 Căn cứ vào Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước công bố quyết định ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, Chủ tịch nước ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương.
 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an báo cáo tình hình và đề xuất với Chính phủ sự cần thiết ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong phạm vi cả nước hoặc từng địa phương để Chính phủ xem xét, quyết định và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
 Trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được thì Chính phủ báo cáo và đề nghị Chủ tịch nước ra lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.
 Nội dung báo cáo để Chính phủ trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước phải nêu rõ:
 Tình trạng cả nước hoặc ở từng địa phương có nguy cơ bị xâm lược hoặc đã xảy ra hành động vũ trang xâm lược hoặc bạo loạn có vũ trang.
Địa bàn áp dụng tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thời gian thực hiện.
 Trách nhiệm của các tổ chức, cơ quan, đơn vị thi hành.
 b) Thành lập cơ quan chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng
 Cơ quan chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng được tổ chức ở ba cấp cụ thể như sau:
 - Cấp Trung ương là Bộ chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng
 - Cấp quân khu là Ban chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng
 - Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.
 4. Trách nhiệm, quyền hạn, nhiệm vụ của của cơ quan chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng
 a) Bộ chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng
 Khi có nghị quyết hoặc lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương, Thủ tướng Chính phủ căn cứ tình hình thực tiễn, quyết định thành lập Bộ chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng để tổ chức, chỉ huy, điều hành tập trung, thống nhất.
Thành phần Bộ chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng gồm:
 Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,
 Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh quân khu nơi có tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, Tổng cục trưởng các Tổng cục an ninh, Cảnh sát, Tình báo thuộc Bộ Công an.
 Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng:
 Trực tiếp chỉ đạo, điều hành các bộ, ngành và địa phương, Ban chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng thi hành Nghị quyết, Lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng nhằm ổn định tình hình, ngăn ngừa chiến tranh.
 Ra quyết định, mệnh lệnh, chỉ thị cụ thể và áp dụng các biện pháp đặc biệt để thi hành nhiệm vụ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.
 Tổng hợp, đánh giá tình hình mọi mặt, đề xuất với Hội đồng quốc phòng và an ninh, chủ tịch nước về điều động lực lượng, vũ khí, trang bị, phương tiện đến khu vực ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng để xử lý tình huống xảy ra.
 Nhiệm vụ, quyền hạn của từng thành viên:
 + Thủ tướng Chính phủ
 Trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành Bộ chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng thực hiện Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Lệnh của Chủ tịch nước, các quyết định của Hội đồng quốc phòng và an ninh.
 Theo thẩm quyền, ra quyết định hoặc uỷ quyền cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định áp dụng những biện pháp đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.
 Quyết định cử, miễn nhiệm, thay đổi các thành viên của Bộ chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng và người đứng đầu sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; cử đại diện của Bộ chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng xuống Ban chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, sở chỉ huy tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trên hướng trọng điểm để thực hiện nhiệm vụ.
 Đề xuất với Chủ tịch nước quyết định tạm đình chỉ sử dụng phương tiện thu phát vô tuyến điện